<h2>AL-JAZEERA Ở KATAR VÀ CUỘC PHẢN CÁCH MẠNG Ở BAHRAIN</h2>
Lịch sử hiện đại của Katar bắt đầu trong năm 1766, khi
nhiều phần của bộ tộc Bani Utub, tức các gia đình Al Khalifa
và Al Jalahima, rời bỏ quê hương của họ và thành lập khu dân
cư Zubara trong miền Đông Bắc của bán đảo Katar, ngày nay là
một cánh đồng đổ nát rộng lớn. Lịch sử Katar trước khi
các thị tộc nhiều quyền lực này tới đó phần lớn là
không được biết tới. Sa mạc trong nội địa thời đó không
có người sống, ngoại trừ một vài bộ tộc du cư thỉnh
thoảng đi ngang qua đó, lúc nào cũng trên đường tìm bãi cỏ
và nước uống. Dọc theo bờ biển, một vài gia đình lớn
định cư trong những làng đánh cá nghèo, không hiếm lần là
trên đường trốn tránh các mối hận thù giữa các bộ tộc.
Ngay lúc có nguy hiểm mới, họ tiếp tục ra đi, chất của cải
ít ỏi lên tàu thuyền hay lên lạc đà, chạy trốn qua biển hay
qua sa mạc.
<center><img
src="http://phanba.files.wordpress.com/2013/03/bahrain_demonstranten_erobern_perlenplatz_bahrain20110220162034.jpg?w=538"
/></center>
<center><em>Biểu tình trên Quảng trường Ngọc trai</em></center>
Có hai thành phố nhỏ, ngày nay không quan trọng là Fuweirat và
Doha, cả hai đều nằm cạnh bờ biển phía Đông, có nhiều
nhóm bộ tộc sinh sống ở đó, trong số đó là thị tộc Al
Thani, triều cai trị Katar ngày nay. Người ta cho rằng họ đã di
cư từ miền Trung Ả Rập đến Katar vào cuối thế kỷ 17 hay
đầu thế kỷ 18 – trong một làn sóng di cư có quy mô lớn
của các bộ tộc Ả Rập đi về hướng bờ biển vùng Vịnh.
Nhưng trung tâm kinh tế và chính trị của Katar vào lúc ban đầu
không phải là Doha, mà là Zubara, cái nhanh chóng phát triển
thành một trung tâm thương mại, nhờ vào các dãy bờ biển có
nhiều ngọc trai. Trước khi phát hiện ra dầu mỏ, nghề mò
ngọc trai là ngành kinh tế quan trọng nhất ở vùng Vịnh –
sự thịnh vượng của Zubara đánh thức dậy nỗi thèm muốn
tương ứng ở các láng giềng. Đã xảy ra các cuộc xung đột
vũ trang với Ba Tư và Muscat trong Oman ngày nay, và trong diễn
tiến của các cuộc chiến này, Bani Utub từ Zubara đã nhờ vào
sự giúp đỡ của những người anh em thị tộc ở Kuwait mà
chiếm lấy được hòn đảo láng giềng của Katar, Bahrain, năm
1783. Hậu quả là một tình trạng hỗn loạn về chính trị, và
cho tới giữa thế kỷ 19, quyền lực chỉ nằm trong tay của
các tộc trưởng kình địch với nhau, những người mà một
phần có những hình dung hết sức ương bướng về luật lệ
và trật tự. Người nổi tiếng nhất trong số các tộc
trưởng này là Rahma Ibn Jabir Al Jalahima mà ai trong Katar ngày nay
cũng vẫn còn thích kể lại lịch sử của ông ấy, già cũng
như trẻ.
<h2>Về cướp biển và những người cai trị</h2>
Sau khi chiếm được Bahrain, thị tộc Al Khalifa đã cho thị tộc
Al Jalahima ra rìa và lừa gạt không cho tham gia nắm quyền lực
như đã hứa. Phần lớn người Al Jalahima sau đó đã rời bỏ
Bahrain, cả Rahma Ibn Jabir. Nhưng người này muốn trả thù. Ông
ấy chuyển sang làm cướp biển, một nghề mà thời đấy cũng
được công nhận dọc theo bờ biển vùng Vịnh. Tuy vậy, Rhama
không phải là bất cứ một hải tặc nào, ông ấy là tên
cướp biển thành công nhiều nhất trong thời của ông ấy,
người thông thạo nghề của mình cũng như các luật chơi của
chính trị – bằng cách kết bạn với các kẻ thù của Al
Khalifa. Ông ấy đặc biệt thích săn lùng các con thuyền buồm
bằng gỗ của Al Khalifa, những người mà ông ấy hầu như đã
làm phát sản nền thương mại hàng hải của họ. Klaus
Störtebeker [hải tặc nổi tiếng người Đức] của Katar này
không phải là một con người tinh tế, nếu phán đoán theo vẻ
bên ngoài của ông ấy mà nhà du lịch người Anh Buckingham
("Travels in Assyria") đã mô tả: "Thân hình của ông ấy
giống như một gốc cây mảnh dẻ, tay chân của ông ấy hết
sức gầy còm và đầy vết đâm và thẹo. Trên thân hình của
ông ấy có tổng cộng khoảng hai mươi vết thương, thương
tích từ đao kiếm, lao và đạn. Gương mặt của ông ấy dữ
tợn và xấu xí và cũng đẹp hơn bởi có nhiều vết thẹo và
mất một con mắt."
Lần kết liễu của ông ấy trong năm 1826 cũng không phải là
không có phong cách. Bị bao vây bởi một hạm đội của Al
Khalifa, Rahma cho nổ tung mình cùng với đứa con trai tám tuổi.
Trước khi phát hiện ra dầu mỏ, Vùng Vịnh đã đánh thức sự
quan tâm thuộc địa của Liên hiệp Anh. Về một mặt, để
bảo đảm đường hàng hải giữa Ấn Độ và vùng Lưỡng Hà,
nơi bắt đầu tuyến đường bộ đi đến Địa Trung Hải
trước khi kênh đào Suez được khai mạc. Mặt khác, người Anh
tìm thị trường tiêu thụ mới cho hàng dệt từ quê hương và
hàng hóa thuộc địa từ Bombay. Vùng Vịnh trong thế kỷ 19
không phải là hoàn toàn không có nguy hiểm, vùng giữa Katar và
eo biển Hormuz được xem là bờ biển của hải tặc. Tình
trạng không an toàn chung xuất phát từ tình hình chính trị:
thiếu một quyền lực trung tâm mạnh, cái có thể giữ được
trật tự. Kình địch giữa các bộ tộc thường dẫn đến
những cuộc chiến tranh kéo dài, và một hình thức tiến hành
chiến tranh chính là cướp biển mà với nó người ta cố đánh
quỵ kẻ địch về mặt kinh tế. Khi giờ đây thuyền thương
mại Anh ngày càng trở thành nạn nhân của cướp biển càng
nhiều, Lonbdon phản ứng với nhiều cuộc viễn chinh trừng
phạt. Năm 1818, thành trì trốn tránh quan trọng nhất của dân
cướp biển bị phá hủy, Ras al-Khaimah, một thành phố ở miền
Tây Bắc của Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất ngày
nay, thời đấy là trung tâm kinh tế của bờ biển Vùng Vịnh.
Tiếp theo sau đấy, Liên hiệp Anh áp đặt được một lần
ngưng chiến, lúc đầu là có thời hạn, cái được các bộ
tộc tham gia kéo dài mãi mãi. Sự thống trị áp đảo của Anh
quốc được củng cố và mở rộng trong nhiều hiệp định
với những cái được gọi là Trucial States (các quốc gia ngưng
chiến), Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất ngày nay, mà
trong đó London đảm nhận ngoại giao và quốc phòng của các
tiểu vương quốc này, nhưng trước hết là để cho họ công
nhận sự độc quyền thương mại cho toàn bộ phần Ả Rập
của Vùng Vịnh. Các tiểu vương quốc bị cấm buôn bán với
các quốc gia châu Âu khác. Sự độc quyền này mang lại lợi
lộc nhiều nhất là trong lần cấp giấy phép khai thác dầu
lần thứ nhất sau Đệ nhất thế chiến.
<h2>Triều đại trưởng thành</h2>
Chính sách ký kết hiệp ước của Anh quốc, thường đi cùng
với áp lực về quân sự, đã cố tình nâng một vài người
trưởng bộ tộc lên cấp bậc của những người cầm quyền
quốc gia độc lập, điều mà họ nguyên thủy không có hay chỉ
có một cách có giới hạn. Như ở Katar và Bahrain. Năm 1868, các
bộ tộc Katar tấn công Bahrain láng giềng, có trên 1000 người
bị giết chết và hơn 600 chiếc thuyền bị phá hủy trong lúc
đó. Lo ngại về lần xâm phạm trắng trợn hòa bình trên biển
trong vùng Vịnh này, London gửi một phái đoàn đến Katar để
thương lượng một hiệp ước hòa bình với các bộ tộc.
Hiệp ước này được xem như là tờ giấy khai sinh cho các
quốc gia Bahrain và Katar. Giống như một sự trừng phạt cho
lần tấn công, Katar phải công nhận chủ quyền của Bahrain,
đồng thời London cũng chấp nhận Katar là lãnh thổ độc lập.
Trước đó, đối với người Anh, nó chỉ là một phần phụ
của Bahrain. Với hiệp ước đó, tộc trưởng ký kết cho Katar,
Mohammed Al Thani, đã được nâng cấp về mặt chính trị –
một tộc trưởng không phải là không có ảnh hưởng ở Bisa,
ngày nay là một phần của thủ đô Doha, nhưng cho tới lúc ký
tên thì cũng chỉ là một trong số nhiều tộc trưởng có hậu
thuẫn tương đương với nhau. Ở Bahrain thì sự thống trị
của Al Khalifa cuối cùng cũng được ghi nhận. (Họ phụ Al,
đọc là Aal, không được nhầm lẫn với mạo từ Ả Rập
al–, có nghĩa là "dòng họ", "triều đại", "bộ
tộc".) Thế nhưng căng thẳng chính trị giữa Bahrain và Katar
vẫn tiếp tục. Năm 1986, trong cuộc tranh cãi vì ba hòn đảo
nhỏ, cái đã bắt đầu từ thời đấy, chiến tranh suýt nữa
thì đã xảy ra giữa hai quốc gia. Mãi năm 2001 nó mới được
Trọng tài Thường trực ở Den Haag hòa giải một cách có lợi
cho Katar.
Vì giàu dầu mỏ nên người Anh trả độc lập thật muộn màng
cho các quốc gia vùng Vịnh: Kuwait năm 1961, Bahrain, Katar, Các
Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất và Oman năm 1971. Các
triều đại gia đình cai trị phải đương đầu với thách
thức đáng ganh tỵ, dẫn dắt các quốc gia của họ vào thời
Hiện đại một cánh nhanh chóng nhất, ít nhất là theo vẻ
ngoài. Thu nhập khổng lồ từ kinh doanh dầu mỏ và sau này là
khí đốt không cho phép có sự lựa chọn nào khác – và nhiều
lần thì cái giá phải trả là sự nhận dạng và lịch sử
của chính họ. Dubai trong các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống
nhất năm 1960 có tròn 5000 cư dân, không có đường xá, không
có trường học, không có bệnh viện và chỉ có một ngôi nhà
duy nhất không bằng đất sét: chi nhánh của Barclays được
dựng lên bằng đá. Người dân bản xứ sống chủ yếu nhờ
vào buôn bán, kinh tế ốc đảo, trồng chà là và đánh cá.
Phương tiện chuyên chở được sử dụng nhiều nhất là lạc
đà. Sau đó còn chưa tới hai thế hệ, Dubai là một trong những
trung tâm kinh tế quan trọng nhất của thế giới và có trên
một triệu dân cư. Sự phát triển cũng nhanh chóng tương tự
như thế trong các quốc gia vùng Vịnh còn lại. Nhưng xây dựng
tương lai như thế nào? Câu hỏi này luôn dẫn đến sự đổ
vỡ trong các gia đình đang cai trị. Thường hay có đảo chính
trong cung đình của những người con trai chống lại cha của
họ, lần cuối cùng là 1995 ở Katar, khi tộc trưởng Hamad Al
Thani lật đổ cha của ông ấy là Khalifa, nguyên thủ quốc gia
từ 1972. Người này đã tìm thấy gương mẫu của mình tại
Thụy Sĩ: một đất nước giàu có và đồng thời cũng là
hiện thân cho tính trung lập. (Nhìn như thế thì không phải là
không có sự mỉa mai, khi Khalifa bị tước quyền lực trong lúc
đang ở Genf.) Sau lần Iraq xâm lược Kuwait năm 1990, Hamad tin
rằng tính trung lập không thể bảo đảm cho nền độc lập và
an ninh cho tiểu quốc Katar, chỉ lớn bằng nửa tiểu bang Hessen
[ở Đức], mà ngược lại là một vị thế global player của
Katar.
<h2>Al–Jazeera. Thế giới Ả Rập tự cải mới</h2>
Sau Chiến tranh vùng Vịnh 1990/1991, chính phủ ở Riad kết thúc
các hợp đồng cho các căn cứ quân sự Mỹ ở Ả Rập Saudi.
Sự hiện diện của Hoa Kỳ đặc biệt là một cái gai trong
mắt của những người Wahhab. Vua Hamad nhận ra cơ hội và
trước khi lật đổ cha mình đã mời người Mỹ hãy chuyển
căn cứ chính của họ về Katar. Washington không thấy có lý do
gì để lên án lần đảo chính đó. Ngày nay, khu quân sự Mỹ,
một căn cứ không quân khổng lồ, bao gồm gần một phần tư
diện tích của Katar dọc theo bờ biển Tây và là một quốc gia
đóng kín trong một quốc gia. Bây giờ thì còn ai sẽ tấn công
Katar? Đặt câu hỏi về các đường biên giới? Trong quá khứ,
Ả Rập Saudi đã hay chiếm hữu những vùng đất biên giới
dọc theo các quốc gia vùng Vịnh nhỏ hơn. Trên những tấm bản
đồ cũ, Katar còn có biên giới chung với Các Tiểu Vương quốc
Ả Rập Thống nhất. Ngày nay không còn như thế nữa, trong
những năm 1980 Riad đã lặng lẽ chiếm lấy dãy đất dọc theo
bờ biển đó.
Để không phải xuất hiện như là tay sai của Washington, vua
Hamad phải tạo một đối trọng, lo cân bằng về mặt chính
trị. Trong lúc đó ông không chỉ muốn giới hạn ở Katar mà
cho cả thế giới Ả Rập. Năm 1996, ông thành lập đài
Al–Jazeera (Hòn Đảo), được cho là do vợ chính của ông ấy,
hoàng hậu Moussa, khuyên nhủ, với trụ sở trong thủ đô của
Katar là Doha. Tên này muốn nói đến bán đảo Ả Rập và
đồng thời cũng phản ánh niềm khát khao muốn có nước uống
của dân du mục Ả Rập – biểu trưng của Al–Jazeera, cái
cũng xuất phát từ một ý tưởng của Vua Hamad như tên của
đài, là một dòng hoa văn Ả Rập có dạng như một giọt
nước, cái trước mỗi một chương trình tin tức rơi chìm
xuống đại dương và rồi lại tái xuất hiện như đã được
làm sạch. "Doha" có nghĩa là "cây to có nhiều nhánh", cái
cũng phù hợp với hình ảnh đấy như thế nào đó.
<center><img
src="http://phanba.files.wordpress.com/2013/03/aljazeera-logo.jpg?w=538"
/></center>
<center><em>Biểu trưng của đài Al–Jazeera</em></center>
Đài tin tức Al–Jazeera, cái loa của cuộc Cách mạng Ả Rập,
đồng thời cũng là "nhân tố hiện đại hóa" quan trọng
nhất của thế giới Ả Rập. Bắt đầu bằng việc nó đã
cải mới về cơ bản giới truyền thông trong vùng. Trước
Al–Jazeera chỉ có đài truyền hình do nhà nước chỉ đạo,
thường đứng dưới một cơ quan tuyên truyền mang tên của
một Bộ Thông tin và sản xuất những chương trình tin tức tẻ
ngắt, về mặt kỹ thuật thường ở mức nghiệp dư. Mâu
thuẫn xã hội và chính trị về cơ bản không được nói tới.
Ví dụ như "Chiến hữu Hafiz al–Assad hôm nay đã tiếp nhận
một thông điệp của hoàng thân, Emir của Kuwait, chúc ngài
tổng thống mến yêu, tấm gương sáng qua mọi biên giới của
Cộng hòa Ả Rập Syria, tiếp tục công tác mang lại nhiều phúc
lành và sức khỏe trường an. Cột trụ của kiên cường và
đối lập ngay sau đấy đã viết thư cảm ơn và trong đó đã
nổ lực thắt chặt thêm nữa tình huynh đệ giữa hai quốc
gia."
Al–Jazeeraa hướng theo các tiêu chuẩn chuyên nghiệp của CNN và
BBC, lôi kéo ban biên tập tin tức Ả Rập của BBC về làm việc
cho mình và dựa vào truyền hình vệ tinh. Ngay từ đầu, các
chương trình tranh luận đã thuộc vào chương trình ("Ý kiến
và Phản ý kiến", "Hướng ngược lại") mà trong đó ví
dụ như người Hồi giáo gặp gỡ những người có tinh thần
phi tôn giáo hay tranh luận về những vấn đề tôn giáo và
đạo đức. Không một đài truyền hình Ả Rập nào dám trước
đó. Đặc biệt những người Hồi giáo bảo thủ bày tỏ sự
phẫn nộ, vài chính phủ Ả Rập đã chính thức trao lời than
phiền cho giới lãnh đạo Katar. Có lẽ là Vua Hamad đã chuyển
giao chúng tiếp tục cho người chủ và cũng là giám đốc của
Al–Jazeera, Vua Hamad. Chính phủ Algeria là chính phủ đầu tiên
đã kiểm duyệt Al–Jazeera năm 1999. Để ngăn chận không cho
phát đi một cuộc thảo luận về tình hình chính trị ở
Algeria, họ đã cắt điện trong các thành phố lớn vào thời
gian của chương trình này. Chính phủ ở Riad cấm doanh nghiệp
Ả Rập Saudi quảng cáo trên Al–Jazeera. Al–Jazeera là đài
truyền hình Ả Rập đầu tiên lập một văn phòng thông tín ở
Israel và phỏng vấn chính khách Israel – bằng tiếng Do Thái.
Cả điều đấy cũng chưa từng bao giờ có trong truyền hình Ả
Rập.
Khán giả Ả Rập, những người trước đó phải dựa vào
truyền thông Phương Tây để có được thông tin và những
tường thuật hậu trường từ đất nước của họ, bây giờ
có một truyền thông riêng, cái không bị nghi ngờ là đứng
trong chủ nghĩa lấy châu Âu làm trung tâm, cái đã trở nên
nổi tiếng từ những tường thuật nhiệt thành và lòng can
đảm hướng đến tranh luận.
Ở Phương Tây, Al–Jazeera được biết đến sau ngày 11 tháng 9
năm 2011, vì đài truyền hình này, đã mở một văn phòng ở
Kabul trước những vụ khủng bố ở Hoa Kỳ, đã thường xuyên
phát đi các thông điệp video của Osama bin Laden. Sau đó, trước
hết là các chính khách và nhà xuất bản bảo thủ của Hoa Kỳ
đã lên án Al–Jazeera rằng họ đã tạo một ra một diễn đàn
cho mạng lưới khủng bố Al–Qaida. Tuy vậy, phần lớn các
đài truyền hình trên thế giới đều phát lại một phần từ
những video này. Trong tháng 11 năm 2001, máy bay chiến đấu Hoa
Kỳ đã phá hủy "nhầm", như người ta nói, văn phòng của
Al–Jazeera ở Kabul. Trong tháng 4 năm 2003, trong Chiến tranh Iraq,
văn phòng của đài truyền hình này tại Bagdad đã bị ném bom,
thông tín viên Tariq Ayyoub đã chết trong lúc đó. Từ nỗi lo
sợ, rằng đài này ủng hộ bài Mỹ và củng cố cho các thế
lực quá khích, Tổng thống George W. Bush được cho rằng đã
cân nhắc cho ném bom trụ sở chính ở Doha. Rõ ràng là ông ấy
không biết rằng cuộc Chiến tranh Iraq được điều phối từ
căn cứ Mỹ ở Katar.
Al–Jazeera ám ảnh Washington cho tới đâu, điều đấy được
các "Guantánamo Bay files" chứng tỏ, những cái được
Wikileaks đưa lên mạng trong tháng 4 năm 2011. Vào đầu 2002,
người quay phim Sami al–Hajj làm việc cho Al–Jazeera bị bắt và
bị mang đến Guantánamo qua Pakistan. Theo tài liệu của Wikileaks,
anh ấy đã bị hành hạ, thuộc trong các phương pháp tra tấn
là xâm hại tình dục. Anh ấy cần phải "cung cấp thông tin
về các chương trình đào tạo của Al–Jazeera và trang bị kỹ
thuật của họ. Thêm vào đó là về công tác báo chí của họ
ở Chechnya, trong Kosovo và Afganistan. Kể cả câu hỏi, đài này
làm thế nào mà có được những cuốn băng video của Osama bin
Laden." Theo Wikileaks, người Mỹ tin chắc rằng al–Hajj là
một người đưa tin của Al–Qaida. Anh ấy đã chuyển tiền cho
một tổ chức từ thiện ở Chechnya, có quan hệ với bin Laden.
Sau sáu năm tù, người Sudan này được trả tự do mà không
được mang ra tòa. Trong diễn tiến của hàng trăm cuộc hỏi
cung, anh ấy, theo luật sư Stafford Smith của anh ấy, chưa từng
một lần được hỏi về những điều mà người ta kết tội
anh ấy.
<h2>"Các cảm xúc sôi sục"</h2>
Các nhà báo Phương Tây tường thuật về Chiến tranh Iraq
thường là những "nhà báo tích hợp", đi theo quân đội Hoa
Kỳ hay quân đội Anh trong các trận chiến. Ngược lại, các
nhà báo của Al–Jazeera đứng vào góc nhìn của người dân
thường và chỉ cho thấy các nạn nhân của chiến tranh, những
việc phần lớn đều bị loại ra khỏi các tường thuật của
Phương Tây. Chính là cái góc nhìn đấy, góc nhìn "từ ở
dưới", đã đánh trúng tâm lý của khán giả Ả Rập và
khiến cho đài truyền hình này trở thành người dẫn đầu cho
các quan điểm trong thế giới Ả Rập. Đài có thông tín viên
ở những nơi mà các nhà báo Phương Tây thường tránh né, trong
đó có Gaza và Mogadishu, và ngay cả trong những tỉnh lẻ xa xôi
nhất. Khi văn phòng ở Cairo của đài truyền hình này bị bắn
phá vào đầu năm 2011, lúc cuộc cách mạng bắt đầu, nó đã
làm cho những người biểu tình Ai Cập trở thành phóng viên và
phát đi những đoạn video quay bằng điện thoại di động của
họ. Al–Jazeera từ lâu đã là một nhà hoạt động chính trị
độc lập và ngày nay là cái mà nhân vật Ả Rập sáng danh,
Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser, trong những năm 1950 và 1960
đã là: thể chế chính trị có ảnh hưởng mang tính quyết
định.
Những vấn đề mà Al–Jazeera đề cập đến, như tham nhũng và
kinh tế móc ngoặc, vị trí của người phụ nữ, sự kém phát
triển của thế giới Ả Rập, bắt buộc những người đang
cầm quyền phải hành động. Điều họ thường làm là đóng
cửa các văn phòng của Al–Jazeera hay trục xuất các thông tín
viên của họ, điều nhất thời đã xảy ra hầu như trong tất
cả các nước Ả Rập. Trong Israel, Al–Jazeera được xem là cái
loa của Hamas và được đối xử tương ứng như thế. Trong khi
đó, cứ hai người Palestine thì có một người nêu đài này ra
như là nguồn thông tin chủ yếu, như nhiều cuộc thăm dò
chứng nhận.
Al–Jazeera không phải là nguyên nhân của cuộc Cách mạng Ả
Rập, nhưng hẳn là cái đã khuếch đại nó. Tờ New York Times
viết trong tháng 1 năm 2011: "Cách tường thuật mang tính công
kích của Al–Jazeera đã giữ cho các cảm xúc sôi sục từ thủ
đô này sang thủ đô khác. "Cách dùng từ để cho nhận thấy
rằng (không chỉ) ở New York người ta vẫn còn có khó khăn
trong việc chấp nhận một cảm nhận khác cũng bình đẳng với
cảm nhận của chính mình. Al–Jazeera xúc cảm hóa tường
thuật của mình cho tới tận ranh giới của đau đớn, không
chỉ dưới dạng những đoạn video quảng cáo hàng phút cho
chính mình, với nhiều cận cảnh về sự đau khổ của con
người và sự tàn phá. Người ta không bắt buộc phải ưa
thích sự "khách quan theo ngữ cảnh" này, như một nhà
truyền thông học nói. Nó thường phiến diện. Nhưng điều
đấy không đúng cho cách tường thuật "của chúng ta" hay
sao, khi nhìn ngược lại? Ví dụ như về Israel và người
Palestine? Sự khiêu khích nằm chính ở trong đó: Al–Jazeera có
một cái nhìn đến thế giới khác với các truyền thông dẫn
đầu ở Phương Tây. Cái nhìn này không "tốt hơn", "đúng
hơn" hay "thật hơn". Nhưng nó bắt buộc người quan sát
Phương Tây phải xem xét lại những sự tin tưởng và lòng tin
của chính mình. Ông ấy bất thình lình nhìn thấy chính bản
thân mình bị hoài nghi.
Để đừng mất cả những khán giả cuối cùng, các truyền
thông Ả Rập nhà nước bắt buộc phải mở cửa và chuyên
nghiệp hóa. Chất lượng về kỹ thuật và nhiều lần là cả
nội dung cũng được cải tiến thấy rõ, các đề tài trước
đó không được động chạm đến bây giờ cũng được nói
đến ở đây, ngay cả khi dưới dạng đã được làm mềm
mỏng đi. Năm 2003, Ả Rập Saudi nhận thấy phải thành lập
một đài truyền hình vệ tinh khác để cạnh tranh với
Al–Jazeera. Al–Arabiya ([Đài] Ả Rập), phát sóng từ Dubai và
bảo thủ hơn thấy rõ và ít dựa vào xúc cảm hơn. Từ 2004,
Hoa Kỳ điều hành đài truyền hình vệ tinh tiếng Ả rập
Al–Hurra ([Đài] Tự Do) với trụ sở ở Virginia, để, theo
George W. Bush, "xua tan đi sự tuyên truyền đầy thù hằn đang
chiếm lĩnh bầu không khí trong thế giới Ả Rập". Ý muốn
nói đến chương trình của Al–Jazeera. Tuy vậy, tỷ lệ khán
giả của Al–Hurra ở Cận Đông chỉ ở khoảng một phần
trăm. Tất cả các đài nước ngoài lớn của châu Âu, cả
Deutsche Welle TV, đã phản ứng lại Al–Jazeera, bằng cách về
phần mình cũng có cả chương trình nói tiếng Ả Rập.
Từ 2006, Al Jazeera phát bằng tiếng Anh, đài mà đã đột phá
được cũng nhờ vào cuộc Cách mạng Ả Rập. Con số khán giả
của Al Jazeera tiếng Anh hiện giờ ngang với đài truyền thống
BBC. Tiếp theo đó, ở Doha người ta đã có kế hoạch cho một
chương trình tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Nhóm mục tiêu không phải là
Thổ Nhĩ Kỳ, như người ta phỏng đoán – mà là Iran. Tròn
một phần ba người Iran, khoảng 25 triệu người, nói tiếng
Azeri, đặc biệt là ở trong miền Tây của Iran. Tiếng Thổ Nhĩ
Kỳ và tiếng Azeri gần với nhau như tiếng Đức và tiếng
Đức Thụy Sĩ. Tại sao tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tại sao không phải
là một chương trình trong tiếng Farsi, ngôn ngữ của nước
Iran? Nếu như Al Jazeer phát sóng bằng tiếng Farsi, Iran sẽ nhìn
điều đấy như là một sự khiêu khích, có thể như là một
hành động hiếu chiến và sẽ phản ứng thích hợp. Chính phủ
Katar muốn tránh điều đấy. Chính sách truyền thông bao giờ
cũng là chính sách quyền lực, đặc biệt là tại một giao
điểm mang tính địa chiến lược như vùng Vịnh.
<h2>Katar trên con đường trở thành thương hiệu</h2>
Đài Al–Jazeera được vua Hamad tài trợ. Ngân sách hàng năm
(không có Al Jazeera tiếng Anh) ở tròn 500 triệu dollar. Quốc
vương của Katar không can thiệp vào việc điều hành chương
trình. Nhưng có ba đề tài bị kiểm duyệt hay kiểm soát. Phê
phán gia đình đang cai trị và quan hệ của Katar với hai láng
giềng hùng cường của nó là Ả Rập Saudi và Iran. Tuy vậy, Al
Jazeera đã tường thuật tỉ mỉ về phong trào phản đối ở
Bahrain, kể cả lần quân đội Saudi đàn áp nó, ngược với
đài Al–Arabiya do Ả Rập Saudi tài trợ.
Khác với láng giềng Bahrain đang bị đe dọa chìm đắm vào
trong các xung đột sắc tộc–tôn giáo của nó, Katar nhỏ bé
phát triển trở thành cường quốc ở vùng Vịnh. Nền tảng
của thành công là những thu nhập khổng lồ từ kinh doanh dầu
mỏ và đặc biệt là khí đốt. Katar có trữ lượng khí đốt
lớn thứ ba trên thế giới và là một trong các quốc gia giàu
nhất thế giới. Chỉ riêng khí đốt và dầu đã mang lại cho
đất nước này hàng năm số tiền thu nhập trò 50 tỉ dollar.
Thêm vào đó là các lợi nhuận từ doanh nghiệp đầu tư Qatar
Holding, đầu tư vào trong các lỉnh vực kinh doanh có lời ở
khắp nơi trên thế giới, trong đó có Sàn giao dịch chứng
khoáng London, các nhà sản xuất ô tô VW và Porsche hay công ty
xây dựng Hochtief. Hoạt động trong lĩnh vực thể thao của
Katar, đặc biệt là việc tổ chức Giải Vô địch Bóng đá
Thế giới 2022, cũng như Al–Jazeera và Qatar Airways, phục vụ
trước hết là cho một mục đích: biến đổi toàn bộ đất
nước này trở thành một thương hiệu chất lượng trên
trường quốc tế, như các doanh nghiệp vừa được nêu ra ở
trên đã là. Cả trên lĩnh vực thành tích hàng đầu của đại
học nữa, nơi Đại học Katar liên kết với các đại học danh
tiếng Harvard và Princeton của Mỹ. Với sự giúp đỡ của họ,
Trung tâm Y học lớn nhất vùng Vịnh dự định sẽ hình thành.
Katar giữ quan hệ tốt như nhau với Hoa Kỳ và Iran, việc tự
bản thân nó đã là một thành tích rồi, người ta nói chuyện
với Hamas và với Israel, mời đến dự các hội nghị lớn về
chính trị và kinh tế. Doha làm trung gian trong nhiều xung đột,
trong số đó là các thương lượng kéo dài 18 tháng để lập
chính phủ ở Libanon 2007/2008, ở Jemen và Sudan, giữa các nhóm
Palestine Hamas và Fatah. Katar là nước Ả Rập duy nhất đã tham
gia về mặt quân sự trong các chiến dịch của khối NATO ở
Libya. (Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng có mặt
trên giấy tờ.)
Chứng nhận cho chính một nhà cai trị phong kiến, rằng chính
sách của ông ấy khôn khéo cũng như bền vững, không phải là
điều dễ dàng. Vua Hamad không cần phải lo sợ phê phán từ
phía người dân Katar, cuộc Cách mạng Ả Rập không khiến cho
ông ấy phải lo ngại. 200.000 người Katar, những người không
phải trả thuế, được nhà nước đảm nhận bảo hiểm y tế,
nhận một ngôi biệt thự hay một căn hộ hạng sang và một
chiếc limousine như là quà cưới, không có lý do để nổi
loạn. Không có tù nhân chính trị. Tuy vậy, lực lượng lao
động người nước ngoài, tròn một triệu người, không hy
vọng có được quà tặng, nhất là những người không có tay
nghề chuyên môn từ Ấn Độ, Pakistan hay Bangladesh.
<h2>Cuộc nổi dậy ở Quảng trường Ngọc trai</h2>
Hòn đảo láng giềng Bahrain, nhỏ hơn thành phố Hamburg, còn xa
mới có những điều kiện khung như vậy. Trữ lượng dầu mỏ
sẽ kiệt quệ trong vài năm tới đây, cuộc tái cấu trúc nền
kinh tế để trở thành một trung tâm tài chính và dịch vụ
diễn tiến một cách chậm chạp. Nếu như tổng sản phẩm
nội địa trên đầu người ở Katar hàng năm là 69.000 dollar
thì ở Bahrain là vào khoảng 20.000. (Nước Đức, để so sánh:
34.000 dollar.) Cứ đơn giản mua đứt phía đối lập, điều
đấy thì Bahrain không có khả năng. Bahrain là quốc gia duy nhất
có đa số dân cư là người Shiite, được cầm quyền bởi một
vương triều người Sunni, Al Khalifa. Người Shiite chiếm 70% của
tròn 500.000 dân cư địa phương, người Sunni chỉ 30%. Thêm vào
đó là nửa triệu "lao động khách".
Và các vấn đề đều bắt đầu từ đó. Cho tới khi cuộc
Cách mạng xảy ra, các sắc tộc thiểu số nhỏ cai trị đa số
dân cư trong tất cả các quốc gia Ả Rập. Nhưng ở Bahrian và
Syria, giới tinh hoa nắm quyền lực này đồng thời cũng quyết
định về sắc tộc–tôn giáo. Việc có theo tín ngưỡng
"đúng", Sunni ở Bahrain, Alawi–Schia ở Syria, hay không quyết
định về "trên" hay "dưới" trong xã hội, về sự tiếp
cận đến đào tạo, thịnh vượng và có phần. Ở Syria, quân
đội bảo đảm từ nhiều thập niên nay sự thống trị của
những người Alawite, ở Bahrain, sự giàu có về dầu mỏ lúc
đầu đã che đậy sự bất cân bằng giữa người Sunni và
người Shiite. Nhưng khi sự biến đổi và hiện đại hóa xã
hội tiếp tục diễn ra, nhà nước phong kiến chỉ có thể
sống sót được nếu như nó đi cùng với thời gian – xem
Katar. Nếu không như thế, nó phải dựa vào sự đàn áp. Nhưng
với một kết cục không biết trước được và với tính
chính danh như là cái giá phải trả. Trong khi ở Tunesia và Ai
Cập có một ý thức quốc gia rõ rệt và qua đó là có một
hình ảnh quốc gia, thống trị trong các nhà nước Ả Rập còn
lại là sự nhận dạng về tôn giáo, sắc tộc và/hay bộ
tộc. Ở đó thiếu cơ chế chính trị để giải quyết các xung
đột một cách hòa bình. Khi các mẫu hình cai trị đã qua thử
thách, áp lực và tống tiền, hối lộ và kết nạp, đi đến
ranh giới của nó, thì con đường đi đến bạo lực, tan rã
nhà nước và nội chiến không còn xa nữa.
Mâu thuẫn sắc tộc–tôn giáo sinh sôi nảy nở trong các xã
hội tiền hiện đại hay chỉ được hiện đại hóa một
phần, trong các quốc gia đang tan rã hay đã bị chiến tranh phá
hủy, trong các đất nước có một nhà nước trung tâm yếu
ớt, thường trong một môi trường bao gồm những cấu trúc
thị tộc và bộ tộc. Nhưng cũng gặp chúng ở châu Âu, xem
Bắc Ireland hay các quốc gia hình thành từ nước Nam Tư ngày
trước. Nhìn khách quan thì các xung đột sắc tộc–tôn giáo
luôn luôn là các xung đột về chính trị, đấu tranh để phân
chia quyền lực và tài nguyên, những cái được tiến hành dọc
theo các đường phân chia tôn giáo hay vùng địa lý. Trong sự
cảm nhận của Phương Tây thì phần nhiều đều là do sự
cuồng tín đạo Hồi gây ra, khi ví dụ như người Sunni và
người Shiite giết lẫn nhau trong Iraq hay trong Pakistan. Thật ra
thỉ đạo Hồi chỉ là cái van xả cho các căng thẳng đang tồn
tại.
<h2>Người Shiite và người Sunni</h2>
Người Shiite ở Bahrain không phải là con cháu của những
người Ba Tư di cư đến. Nguồn gốc của họ nằm trong Iraq –
cũng như khoảng 2,5 triệu người Shiite dọc theo bờ biển phía
Đông của Ả Rập Saudi, tạo thành tròn mười phần trăm của
dân cư Saudi. Những khác biệt về thần học giữa người Sunni
và người Shiite tương đối nhỏ, nếu như người ta so sánh
chúng với ví dụ như những bất đồng về quan điểm giữa
người Công giáo và Tin Lành. Sau cái chết của Mohammed, câu
hỏi được đặt ra là ai cần phải thừa kế nhà tiên tri
tiếp tục lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo trong thời kỳ
đầu. Việc đấy đã dẫn đến những xung đột trầm trọng,
kể cả chiến tranh, dẫn đến hậu quả là nhiều lần chia
cắt và phân ly. Lần quan trọng nhất dẫn đến sự hình thành
người Sunni và người Shiite. Ngày nay, người Sunni chiếm
khoảng 90 phần trăm của tròn 1,5 tỉ người Hồi giáo ở khắp
nơi trên thế giới. Người Shiite chiếm đa số trong dân cư
Iraq, Iran, Libanon cũng như ở Bahrain và Azerbaijan.
Ali, vị khalip được "dẫn dắt đúng đắn" thứ tư, người
đồng hành trực tiếp của Mohammed, không thành công trong việc
thống nhất cộng đồng Hồi giáo của thời kỳ đầu ở sau
lưng mình. Sau cái chết của Ali, tướng Mu'awiya thuộc bộ
tộc Quraish ở Mecca đã giành lấy quyền lực và thành lập
vương triều Sunni đầu tiên ở Damascus, triều đại Umayyaden
(661–750). Những người theo phái Ali (tiếng Ả Rập: shi'at
Ali) không đồng ý với việc đó. Qua nhiều thế hệ, tình
đoàn kết của những người ngoan đạo với gia đình của nhà
tiên tri đã bị tước quyền lực (Ali là anh em họ và con rể
của Mohammed) trở thành đảng tôn giáo–chính trị đối lập
của người Shiite. Khái niệm Sunni về phần mình thì lại
được dẫn xuất ra từ tiếng Ả Rập "Sunna", bao gồm
những hành động cần phải được noi theo của nhà tiên tri.
Đặc biệt, cái chết của con trai Ali là Hussein năm 680 trong
trận đánh ở Karbala trong Iraq, trận mà "những người theo
phái của Ali" đã thua người Umayyaden, đã trở thành vụ nổ
lớn cho Học thuyết Shiite.
Ngay trong những năm từ 1994 tới 2000 đã thường hay xảy ra
những cuộc xung đột đẫm máu giữa lực lượng an ninh Bahrain
và phe đối lập Shiite. Phe đối lập này là một liên minh
lỏng lẻo từ phe cánh tả, phe tự do và những người Hồi
giáo với mục đích chấm dứt sự phân biệt đối xử vói
người Shiite. Người Shiite đã và hiện vẫn hầu như không hề
có cơ hội nào cho một việc làm trong công nghiệp dầu mỏ,
trong hành chính và ở các lực lượng an ninh. Người Sunni
được ưu tiên khi phân chia chỗ học đại học. Thay vì mang
người Shiite vào nhà nước và kinh tế, người ta lại loại
họ ra. Cảnh sát được tuyển mộ từ Jordan và Pakistan và
nhận được hộ chiếu Bahrain một cách tương đối dễ dàng,
để đừng phải đào tạo người Shiite sử dụng vũ khí. Khi
quốc vương Hamad Al Khalifa giành lấy quyền lực từ cha của
mình năm 1999, ông ấy quyết định cải cách. Ông trả tự do
cho tất cả các tù nhân chính trị, thiết lập Quốc Hội, cho
phép bầu cử và trao cho phụ nữ quyền đi bầu. Về mặt chính
thức, Bahrain trở thành một nền quân chủ lập hiến. Trong
một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 14 tháng 2 năm 2001, "Tuyên
ngôn Hành động Quốc gia" của ông ấy được tuyệt đại đa
số xác nhận.
Thật ra thì ít có thay đổi. Quốc hội bao gồm hai viện,
Thượng Viện và Hạ Viện với 40 ghế cho mỗi viện. Thượng
nghị sĩ không được bầu ra mà được vua Hamad bổ nhiệm.
Trong Hạ Viện, Đảng Wifag (Đồng Thuận) Shiite cho tới khi bị
cấm hoạt động với 18 trong số 40 ghế là lực lượng mạnh
nhất. Quốc vương có quyền phủ quyết tại tất cả các đạo
luật và có thể giải tán Quốc Hội vào bất cứ lúc nào. Có
thể nhìn thấy rõ tình thế tiến thoái lưỡng nan: trong một
nền dân chủ thật sự, các nhà cai trị người Sunni sẽ bị
mất quyền lực trước người Shiite.
<h2>Xe tăng chống lại nhân dân</h2>
Được chắp cánh bởi những cuộc cách mạng ở Tunesia và Ai
Cập, người Shiite xuống đường lần đầu tiên vào ngày kỷ
niệm lần thứ 10 lần trưng cầu dân ý, ngày 14 tháng 2 năm
2011. Cũng giống như trong quá khứ, các yêu cầu của họ lúc
đầu giống như các yêu cầu của một phong trào vì quyền công
dân nhiều hơn. Ngoài ra, họ yêu cầu tăng cường quyền lực
Quốc Hội đối với gia đình hoàng thân. Những người biểu
tình chiếm Quảng trường Ngọc trai ở trung tâm và dựng lều
trại ở đó theo gương của Quảng trường Tahrir ở Cairo. Lực
lượng an ninh Bahrain nhiều lần cố giải tỏa quảng trường,
nhưng không thành công mặc cho tất cả các sự tàn bạo. Con
số những người phản đối tăng lên hàng tuần, cuối cùng
lên đến hơn 100.000, một phần năm người dân bản xứ. Mang
vào tỷ lệ tương quan của nước Đức thì đấy là hơn 15
triệu người biểu tình.
Trong gia đình cai trị đã xảy ra cuộc tranh giành quyền lực.
Hoàng tử nối ngôi Salman Bin Hamad Al Khalifa ủng hộ thương
lượng với phe đối lập, nhưng không thắng nổi phần còn
lại cùa gia đình: cha của ông ấy, quốc vương, người chú
của ông ấy, người từ 1971 là thủ tướng đương nhiệm và
bị người Shiite căm ghét vô cùng, Khalifa Al Khalifa, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng, sếp Hội đồng cố vấn nhà vua, Bộ trưởng
Bộ Nội vụ và Ngoại giao. Họ bật đèn xanh cho lực lượng an
ninh xả súng bắn vào những người biểu tình. Trong vòng vài
ngày, có hơn 20 người chết. Phe đối lập trở nên cực đoan.
Ngày 8 thám 3, tám nhóm, trong đó có cả người Sunni, liên kết
lại thành "Liên minh của một Cộng hòa Bahrain" dưới sự
lãnh đạo của nhà bất đồng chính kiến Hassan Mushaima, người
vừa trở về vài ngày trước đó từ London, nơi ống ấy sống
lưu vong.
Qua đó, theo cái nhìn của những người cầm quyền, làn vạch
đỏ cuối cùng đã bị vượt quá, mặc dù lời yêu cầu xóa
bỏ nền quân chủ không phản ánh ý kiến đa số trong người
Shiite. Cả các nền quân chủ còn lại trong vùng Vịnh cũng
giật mình. Vào ngày 15 tháng 3, theo lời yêu cầu của Al Khalifa,
2000 người thuộc lực lượng an ninh của Saudi và các Tiểu
Vương quốc tiến quân vào và đập tan cuộc nổi dậy lớn
nhất trong lịch sử của đất nước này. Để xóa đi "những
tưởng nhớ xấu", như Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bahrain Khalid
Al Khalifa diễn đạt, bức tượng ngọc trai cao 100 mét ở Quảng
trường Ngọc trai bị giật sập và đại sứ của Iran bị
trục xuất. Theo cái nhìn của chính quyền, Teheran đã dựng lên
cuộc nổi dậy này.
Song song với đó, chính phủ tuyên bố "các biện pháp bảo
vệ an ninh quốc gia" và qua đó trên thực tế đã áp dụng
tình trạng khẩn cấp. Họ trao cho các lực lượng an ninh toàn
quyền trên diện rộng để bắt bớ, kiểm duyệt cũng như
giới hạn quyền tự do đi lại và hội họp. Hàng trăm người
bị quẳng vào tù, hầu như toàn bộ những người dẫn đầu
đối lập đều bị bắt ở nhà về ban đêm. Bị giữ ở
những nơi bí mật, không có tiếp xúc với thế giới ở bên
ngoài. Nhiều người rơi vào nhà giam của Saudi. Nhiều người
đối lập bị tra tấm cho tới chết, về mặt chính thức,
nguyên nhân cho cái chết là "liệt tim". Những người khác
bị công khai kết án tử hình và bị hành quyết. Bác sĩ và y
tá, những người từng chăm sóc cho người biểu tình bị
thương trong các bệnh viện, bị đe dọa một cách có hệ
thống, bị đánh đập hay bị bắt giam. Qua đó, người ta muốn
làm cho họ sợ hãi, vì họ biết con số nạn nhân chính xác.
Nhiều nhà thờ Hồi giáo của người Shiite bị phá hủy. Đảng
Wifag Shiite, đảng lớn nhất nước, bị cấm hoạt động, tài
sản bị tịch thu. Cuộc phản cách mạng của gia đình cai trị
đã đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy trong Bahrain, cái đã bắt
đầu bằng những cuộc phản đối hòa hoãn, được gợi ý
bởi cung cách phản ứng của Ghaddafi ở Libya. Các vấn đề cơ
bản, phân biệt đối xử với đa số dân cư Shiite đã không
được giải quyết qua đó. Khả năng lại có một cuộc nổi
dậy trong tương lai là lớn.
Michael Lüders
Nhà xuất bản C. H. Beck
Phan Ba dịch
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/node/18960), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét