Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?

<center><img
src="http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2013/04/15/130415081326_truong_sa_hoang_sa_464x261_truongsahoangsa_nocredit.jpg"
/></center>

<em><center>Tưởng niệm các quân nhân Việt Nam từ cả hai
phía hy sinh ở Hoàng Sa - Trường Sa</center></em>

<strong>Những định nghĩa pháp lý cho các chính thể Việt trong
cuộc chiến chấm dứt ngày 30/4/1975 có vai trò quan trọng cho
lập luận của Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.</strong>

Sự quan trọng này không chỉ vì công hàm 1958 của Thủ tướng
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng, mà còn vì
Hà Nội đã không khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa,
Trường Sa từ năm 1954 đến 1975-1976.

<h2>Quốc gia duy trì chủ quyền</h2>

Trong phán quyết năm 2008 về tranh chấp cụm đảo Pedra Branca
giữa Malaysia và Singapore, Tòa án Công lý Quốc tế cho rằng ban
đầu Malaysia có chủ quyền đối với đảo Pedra Branca.

Tòa nói công hàm 1953 của Johor, nay là một tiểu bang của
Malaysia, trả lời Singapore rằng Johor không đòi chủ quyền trên
đảo này, không có hệ quả pháp lý mang tính quyết định và
không có tính chất ràng buộc cho Johor.

Nhưng Tòa lại dựa vào việc trước và sau đó Johor và Malaysia
không khẳng định chủ quyền và dùng công hàm 1953 của Johor
như một trong những chứng cớ quan trọng cho việc Malaysia không
đòi chủ quyền, để kết luận rằng tới năm 1980 chủ quyền
đã rơi vào tay Singapore.

Bài học cho Việt Nam là: bất kể ban đầu Hoàng Sa, Trường Sa
là của Việt Nam, và dù cho chúng ta có biện luận thành công
rằng công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng không có
tính ràng buộc về hai quần đảo này đi nữa, việc VNDCCH
không khẳng định chủ quyền trong hơn 20 năm, trong khi các
quốc gia khác làm điều đó, có khả năng sẽ làm cho VNDCCH
không còn cơ sở để đòi chủ quyền nữa.

Vì vậy, trong lập luận pháp lý của Việt Nam phải có sự
khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo này từ một
chính phủ khác, lúc đó là đại diện hợp pháp cho một quốc
gia Việt nào đó.

Trên lý thuyết, nếu chứng minh được từ năm 1954 đến 1975
chỉ có một quốc gia, và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)
là đại diện hợp pháp duy nhất của quốc gia đó, thì điều
đó cũng đủ là cơ sở cho lập luận pháp lý của Việt Nam
về Hoàng Sa, Trường Sa.

Trên thực tế, thứ nhất, chưa chắc chúng ta sẽ chứng minh
được điều đó; thứ nhì, chính phủ Việt Nam ngày nay sẽ
khó chấp nhận một chiến lược pháp lý dựa trên giả thuyết
này.

Vì vậy, chiến lược khả thi hơn cho lập luận pháp lý của
Việt Nam cần dựa trên điểm then chốt là từ năm 1958 đến
1976 có hai quốc gia khác nhau trên đất nước Việt Nam.

Phân tích này sử dụng ba khái niệm sau.

Đất nước, là một khái niệm địa lý, bao gồm một vùng
lãnh thổ với dân cư. Chính phủ, là cơ quan hành pháp và đại
diện. Quốc gia (trong bài này từ "quốc gia" được dùng
với nghĩa State/État), là một chủ thể chính trị và pháp lý.

Trong Công ước Montevideo 1933, một quốc gia phải có lãnh thổ,
dân cư, chính phủ, và khả năng có quan hệ ngoại giao với các
quốc gia khác.

Thực chất, trong công pháp quốc tế chỉ có định nghĩa quốc
gia như một chủ thể có năng lực pháp lý và năng lực hành vi
(tức là có các quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ
luật quốc tế) và chính phủ là thành phần của chủ thể
đó, chứ không có khái niệm đất nước.

<h2>Một lãnh thổ - hai quốc gia</h2>

Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập
kết quân sự. Mặc dù không chia Việt Nam thành hai quốc gia,
Hiệp định đã tạo ra một ranh giới tại vĩ tuyến 17 giữa
hai chính phủ đang tranh giành quyền lực, và ranh giới đó đã
tạo điều kiện cho sự hiện hữu của hai quốc gia.

Việc VNCH không chấp nhận thực hiện tổng tuyển cử vào năm
1956 đã làm cho ranh giới đó trở thành vô hạn định.
<div class="boxright300"><img
src="http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2013/04/03/130403082617_mischief_reef_304x171_sina_nocredit.jpg"
/><div class="textholder">Một cơ sở của Trung Quốc ở quần
đảo Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa</div></div>

Sự hiện hữu của hai chính phủ hai bên một ranh giới vô hạn
định ngày càng củng cố sự hình thành và hiện hữu trên
thực tế của hai quốc gia trên lãnh thổ đó.

Điều có thể gây nghi vấn về sự hiện hữu của hai quốc gia
là hiến pháp của VNDCCH và VNCH có vẻ như mâu thuẫn với sự
hiện hữu đó.

Tới năm 1956, Hiến Pháp VNDCCH viết "Đất nước Việt Nam là
một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia", và
Hiến Pháp VNCH viết "Ý thức rằng Hiến pháp phải thực
hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam
Quan" và "Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập,
Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân."

Nhưng sự mâu thuẫn đó không có nghĩa không thể có hai quốc
gia.

Hiến pháp của Bắc Triều Tiên viết Cộng Hòa Dân Chủ Nhân
Dân Triều Tiên là đại diện cho dân tộc Cao Ly, hiến pháp
của Nam Hàn viết lãnh thổ của Đại Hàn Dân Quốc là bán
đảo Cao Ly và các hải đảo, nhưng Bắc Triều Tiên và Nam Hàn
vẫn là hai quốc gia.

Như vậy, có thể cho rằng từ năm 1956 hay sớm hơn đã có hai
quốc gia, trên lãnh thổ Việt Nam, với vĩ tuyến 17 là biên
giới trên thực tế giữa hai quốc gia đó.

Việc có hai quốc gia là cơ sở để cho rằng VNCH có thẩm
quyền để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường
Sa; VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ gì đối với hai quần
đảo đó.

Khi Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam
(CPCMLT) ra đời ngày 8/6/1969, có thể cho rằng trong quốc gia
với tên VNCH, về mặt pháp lý, có hai chính phủ cạnh tranh
quyền lực với nhau: chính phủ VNCH và CPCMLT.

Khi VNDCCH công nhận CPCMLT là đại diện hợp pháp cho phía nam
vĩ tuyến 17 thì có nghĩa VNDCCH công nhận trên diện pháp lý
rằng phía nam vĩ tuyến 17 là một quốc gia khác.

Nhưng tới năm 1969 CPCMLT mới ra đời, và cho tới năm 1974 mới
có một tuyên bố chung chung về các nước liên quan cần xem xét
vấn đề biên giới lãnh thổ trên tinh thần bình đẳng, vv, và
phải giải quyết bằng thương lượng.

Vì vậy, nếu chỉ công nhận CPCMLT thì cũng không đủ cho việc
khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ
thập niên 1950.

<h2>Quá trình thống nhất</h2>

Ngày 30/4/75, VNCH sụp đổ, còn lại duy nhất CPCMLT trong quốc
gia phía nam vĩ tuyến 17. CPCMLT đổi tên quốc gia đó thành
Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), nhưng đó chỉ là sự thay
đổi chính phủ và đổi tên, không phải là sự ra đời của
một quốc gia mới.
<div class="boxright300"><img src="Chèn_địa_chỉ_của_ảnh_ở_đây"
/><div class="textholder">Việt Nam Cộng Hòa từng là một
quốc gia có chủ quyền với Hoàng Sa và Trường
Sa</div></div>

Năm 1976, trên diện pháp lý, hai quốc gia trên thống nhất lại
thành một, và từ đó Việt Nam lại là một quốc gia với một
chính phủ trên một đất nước (lãnh thổ).

Sự thống nhất này đã không bị Liên Hiệp Quốc hay quốc
gia nào lên tiếng phản đối.

Năm 1977, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được
chấp nhận tham gia Liên Hiệp Quốc.

CHXHCNVN kế thừa vai trò của hai quốc gia VNDCCH và VNCH/CHMNVN
trong các hiệp định và các tổ chức quốc tế, kế thừa lãnh
thổ và thềm lục địa của VNCH/CHMNVN trong các tranh chấp với
Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia, và mặc nhiên có quyền
kế thừa Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH/CHMNVN.

Lịch sử pháp lý trên nghe có vẻ sách vở, nhưng thực tế
của nó là bom đạn, xương máu, và nhiều cảnh huynh đệ
tương tàn.

Mặc dù lịch sử pháp lý đó đã kết thúc bằng một quốc gia
trên đất nước (lãnh thổ) Việt Nam thống nhất, nó là một
cuộc bể dâu làm đổ nhiều xương máu.

Nhưng quá khứ thì không ai thay đổi được, và tương lai thì
không ai nên muốn đất nước Việt Nam lại bị chia đôi thành
hai quốc gia lần nữa.

Cuộc bể dâu đó cũng đã góp phần làm cho Hoàng Sa bị Trung
Quốc chiếm đóng, và để lại cho Trung Quốc một lập luận
lợi hại, rằng trước 1975 Việt Nam không tuyên bố chủ quyền
trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và đã công nhận chủ
quyền Trung Quốc trên hai quần đảo này.

Nhưng việc đã từng có hai quốc gia trên một đất nước
(lãnh thổ) Việt Nam trong giai đoạn 1956 đến 1976, và việc,
vào năm 1976, hai quốc gia đó thống nhất thành một một cách
hợp pháp, là một yếu tố quan trọng trong lập luận về Hoàng
Sa, Trường Sa.

Ngày nay, chính phủ Việt Nam một mặt viện dẫn các tuyên bố
và hành động chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa về Hoàng
Sa, Trường Sa, nhưng mặt kia vẫn e ngại việc công nhận cụ
thể và rộng rãi rằng Việt Nam Cộng Hòa từng là một
quốc gia, mặc dù trong quá khứ Hà Nội đã công nhận rằng
Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một quốc gia.

Việc không công nhận cụ thể và rộng rãi rằng VNCH đã từng
là một quốc gia làm giảm đi tính thuyết phục của việc
viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của VNCH về
Hoàng Sa, Trường Sa, vì các tuyên bố và hành động chủ quyền
phải là của một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý.

Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải bỏ sự e ngại này.

Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì
Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN
ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên
nước thành VNDCCH.

<em>Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Dương Danh Huy,
Phạm Thanh Vân và Nguyễn Thái Linh từ Quỹ Nghiên cứu Biển
Đông. Các tác giả cảm ơn GS Phạm Quang Tuấn đã góp ý cho
bài.</em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130415/cong-nhan-vnch-vi-bien-dao-ngay-nay),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét