GS Nguyễn Minh Thuyết phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục

<div class="special_quote"><em>Đây là bài GS Nguyễn Minh Thuyết gửi
trực tiếp cho tôi ngày hôm nay (27/July/2012) cho blog
zetamu.</em></div>

<h2><center>TIẾP TỤC PHẢN BIỆN GS HỒ NGỌC ĐẠI VỀ GIÁO
DỤC</center></h2>

Đọc loạt bài <a
href="http://zung.zetamu.net/2012/07/phản-biện-gs-hồ-ngọc-dại/">"Phản
biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục"</a>, tôi rất khâm phục
kiến thức sâu rộng và lập luận chặt chẽ của tác giả
Nguyễn Tiến Dũng, chủ blog Zetamu, và hoàn toàn tán thành ý
kiến của ông.

Được biết GS Nguyễn Tiến Dũng đã sinh sống và làm việc
lâu năm tại Pháp, tôi càng trân trọng tấm lòng của ông dành
cho sự nghiệp giáo dục ở quê hương mình.

Rất mong là với vị trí làm việc của mình và kinh nghiệm
quốc tế về giáo dục thu thập được trong hàng chục năm làm
việc ở một nước phát triển, GS Nguyễn Tiến Dũng sẽ tiếp
tục có nhiều ý kiến đóng góp vào sự phát triển nền giáo
dục nước nhà.

Để lý giải vì sao tán thành ý kiến phản biện của GS
Nguyễn Tiến Dũng, tôi có thêm một số chia sẻ như sau:

<h2>I. Về kết quả thực tế của "công nghệ giáo dục"
(CNGD) ở Việt Nam</h2>

Đề tài khoa học <em>"Công Nghệ Giáo Dục"</em> của GS Hồ
Ngọc Đại (GS HNĐ) đã được thực nghiệm từ hơn 30 năm nay
ở Trường Thực nghiệm, Hà Nội và có thời kỳ được cho
phép thực nghiệm mở rộng ở một số trường thuộc các
tỉnh thành khác trong nước. Lúc mới triển khai, GS HNĐ cho
rằng chương trình của mình cao hơn hẳn chương trình cải cách
giáo dục 1980 nên rất thích hợp với các địa bàn phát
triển, tức là các đô thị lớn. Sau khi Bộ ban hành một
chương trình thống nhất trong toàn quốc vào năm 2002, chương
trình Công Nghệ Giáo Dục chấm dứt thí điểm ở các địa
bàn ngoài Trường Thực nghiệm, Hà Nội. Nay Công Nghệ Giáo
Dục lại được triển khai thí điểm ở một số tỉnh miền
núi. Dư luận khen chê về chương trình Công Nghệ Giáo Dục thì
nhiều, mới đây lại rộ lên với việc phụ huynh học sinh xô
đổ cổng Trường Thực nghiệm để lấy hồ sơ đăng ký học
cho con. Nhưng cũng phải nhận xét một cách rất công bằng là
suốt hơn 30 năm nay, ở Hà Nội chưa có một trường nào ngoài
Trường Thực nghiệm sẵn lòng tiếp nhận Công Nghệ Giáo Dục.

<h2>II. Về lý luận Công Nghệ Giáo Dục của GS Hồ Ngọc
Đại</h2>

Từ một số tác phẩm của GS Hồ Ngọc Đại, có thể tóm tắt
lý luận giáo dục của ông như sau:

1. Đối tượng của giáo dục ngày nay là trẻ em hiện đại.
Giáo dục phải đưa đến cho các em những thành tựu mới mẻ
nhất của khoa học là hệ thống khái niệm khoa học hiện
đại.

2. Khái niệm khoa học là cái không thể chiếm lĩnh được
bằng con đường định nghĩa. Dạy khái niệm khoa học cho học
sinh có nghĩa là phân giải khái niệm ra thành một chuỗi thao
tác để chiếm lĩnh khái niệm. Quy trình chiếm lĩnh khái niệm
trong nhà trường diễn ra theo bốn bước: hành động bằng tay
(trên vật thật, rồi trên vật thay thế), hành động bằng
lời nói (nhắc lại hành động bằng tay thành lời nói to, sau
đó thành lời nói nhỏ, rồi lời nói không thành tiếng), mô
hình hoá (đúc rút chuỗi thao tác thành mô hình) và cụ thể
hoá (luyện tập trên những vật liệu mới).

3. Quy trình thành mỗi khái niệm cũng như toàn bộ chương trình
giáo dục phải phù hợp với quá trình phát triển của nhận
thức là đi từ trừu tượng đến cụ thể. Đây cũng chính là
con đường phát triển của bản thân khái niệm.

4. Về mặt tổ chức thực hiện, từ chương trình môn học
đến mỗi bài học, tiết học cụ thể đều phải được
thiết kế bởi những nhà chuyên môn trình độ cao. Giáo viên
chỉ đóng vai trò người thi công những bản thiết kế đó;
sự sáng tạo của họ không có giá trị đáng kể. Nhưng trong
quan hệ thầy – trò thì người thiết kế là giáo viên, còn
người thi công là học sinh (mặc dù vậy, người thi công loại
này được xem là nhân vật trung tâm của giáo dục).

Chúng ta hãy lần lượt xem xét từng luận điểm trên.

Để tiện theo dõi, tôi chỉ trích dẫn luận điểm của GS Hồ
Ngọc Đại từ cuốn <em>Công nghệ giáo dục</em> (Nxb Giáo
Dục,1994), bởi vì thực ra phần lớn nội dung, kể cả ví dụ,
trong các tác phẩm của GS trùng lặp nhau rất nhiều.

<strong>1. Trước hết, nói về trẻ em hiện đại và nhiệm vụ
giáo dục chúng.</strong>

Trung tâm Công Nghệ Giáo Dục được thành lập năm 1978, lúc
đầu gọi là Phòng Thực nghiệm tâm lý học trẻ em và sư
phạm thuộc Viện Khoa học giáo dục. Thế nhưng, trong hơn 30
năm hoạt động, nó chưa bao giờ cung cấp được cho Bộ Giáo
dục và Đào tạo những chỉ số và kết luận khoa học đáng
tin cậy về thể chất, trí tuệ của trẻ em Việt Nam hiện
đại. Ngay trong cuốn <em>Công nghệ giáo dục</em> của mình, GS
Hồ Ngọc Đại cũng chỉ giải thích: Trẻ em hiện đại là
những đứa trẻ …<em>"ăn cùng mâm, xem chung một ti-vi với
người lớn hiện đại"</em> [tr. 152].

Từ hiểu biết rất <em>"trực quan"</em> về trẻ em Việt Nam
như vậy, GS Hồ Ngọc Đại đặt cho giáo dục nhiệm vụ dạy
trẻ em ngay từ lớp 1 hệ thống khái niệm khoa học của đủ
các môn. Ai cũng biết hệ thống khái niệm của mỗi khoa học
đều rất phong phú và phức tạp. Vậy thì phải chọn dạy
những khái niệm nào và chọn trên nguyên tắc nào? GS Hồ Ngọc
Đại trả lời: <em>"Phải chọn ra cái gì cần thiết nhất
(không thể không có) phù hợp nhu cầu của xã hội hiện đại
(tức cũng là của trẻ em)"</em> [tr. 155 -156].

Tôi không nghĩ rằng đó là những câu trả lời mà xã hội
chờ đợi ở một cơ quan nghiên cứu khoa học sau hơn 30 năm
trời nghiên cứu.

GS Hồ Ngọc Đại đồng nhất nhu cầu của xã hội với nhu
cầu của trẻ em. Nhưng có phải đâu trẻ con cứ ngồi cùng
mâm và xem cùng ti-vi với người lớn là chúng có thể uống
rượu, hút thuốc và thả cửa thưởng thức mọi loại phim
trên màn ảnh nhỏ?

Với chủ trương dạy những khái niệm khoa học <em>"hiện
đại nhất"</em> cho trẻ em, cho đến tận bây giờ, GS Hồ
Ngọc Đại vẫn quan niệm dạy tiếng Việt cho trẻ lớp 1 không
phải là dạy chữ mà là dạy ngữ âm học hoặc âm vị học.
Ông chê cách dạy của chương trình Tiếng Việt hiện hành:
<em>"Sự nhầm lẫn rất tai hại của nhà trường là đánh
tráo vật thật với vật thay thế. Lẽ ra học tiếng nói (âm
thanh) thì lại học chữ."</em> [tr. 173 -174].

Chê như vậy không chỉ sai về nhận thức mục tiêu giáo dục
phổ thông mà còn rất sai về lôgic. Bởi vì trên đời này làm
gì có những sự vật hay quan hệ nhất thành bất biến? Chữ
đúng là <em>"vật thay thế"</em> của tiếng, nhưng đâu phải
tiếng vĩnh viễn là <em>"vật thật"</em> trong mọi quan hệ?
Trong quan hệ với nghĩa, tiếng trở thành vật thay thế. Đến
lượt nghĩa, nó cũng chỉ là vật thay thế cho ý (implicature) mà
thôi. Chọn dạy cái gì trong mỗi giai đoạn là tuỳ thuộc vào
đối tượng và mục đích của giáo dục.

GS Hồ Ngọc Đại đưa ra công thức A -> a để biểu diễn quy
trình giáo dục, trong đó A là <em>"thành tựu cuối cùng của
nền văn minh nhân loại"</em> (hay là <em>"hệ thống khái
niệm khoa học"</em>), a là <em>"sản phẩm giáo dục"</em>,
còn A -> là công nghệ chuyển A thành a. Theo GS, chỉ cần có
một công nghệ biến A thành a thì A sẽ trở thành <em>"mục
đích"</em> của giáo dục [tr 166, 168], do đó, để <em>"thiết
kế giáo dục", ta chỉ "phải làm hai việc cơ bản: 1. Thuộc
về A; 2. Thuộc về A ->"</em> [tr. 165].

Nói như vậy, phải chăng có nghĩa là nhà giáo dục không cần
biết cho trẻ <em>"món ăn A"</em> để làm gì, miễn tìm
được cách là anh ta có thể cứ <em>"nhồi"</em> cho chúng?

Liệu có phải vì công thức của GS HNĐ còn thiếu yếu tố quan
trọng nhất trong giáo dục là người học (ở đây là trẻ em)
nên mới xảy ra chuyện như vậy?

Theo tôi, khi dạy học, trước hết, nhà giáo dục phải đánh
giá đúng đối tượng giáo dục (người học) và xác định
được mục tiêu giáo dục a đã. Có a rồi, mới chọn được
nội dung giáo dục A và phương pháp giáo dục -> thích hợp.

<strong>2. Vấn đề thứ 2 cần thảo luận là khái niệm về
khái niệm khoa học và con đường hình thành khái niệm khoa
học cho trẻ</strong>.

<span class="underlined-text"><em>2.1. Khái niệm về "khái
niệm"</em></span>

Đây là cách hiểu của GS Hồ Ngọc Đại về <em>"khái
niệm"</em>:

<em>"Cái cốc theo đúng tên riêng của nó là cái cốc dùng
để uống nước, tức là theo đúng CÁCH cốc, đúng theo cái
sự sống (hay lẽ sống) của nó, nhiều khi tôi còn nói đúng
theo khái niệm của nó. Thế đấy, tôi dùng cả ba cách nói
để bạn nghe khỏi chán tai</em>:

<em>- Theo đúng tên riêng của nó.</em>

<em>- Theo đúng CÁCH của nó.</em>

<em>- Theo đúng KHÁI NIỆM của nó."</em> [tr 60 -61].

Theo cách giải thích trên thì <em>"khái niệm" = "cách" =
"tên riêng"</em> (thuật ngữ), và <em>"sự sống" = "lẽ
sống"</em> (?!).

Cũng theo cuốn <em>Công nghệ giáo dục</em>, <em>"khái
niệm"</em> còn đồng nghĩa với <em>"nguyên lí"</em>, và
<em>"nguyên lí"</em> lại được gọi là <em>"phương
pháp"</em>. Những điều này được GS Hồ Ngọc Đại khẳng
định rất rõ ràng: <em>"Để dễ hình dung, tôi gọi mỗi
nguyên lí là một PHƯƠNG PHÁP"</em> [tr. 50], <em>"Lẽ ra nói
nguyên lí, có khi tôi dùng thuật ngữ KHÁI NIỆM"</em> [tr. 51].

Tiếp đó, <em>"khái niệm"</em> lại được ký hiệu là A.
Các hình thức của A gồm <em>"hình thức vật chất"</em>
(còn gọi là <em>"hình thức vật thể"</em>) và <em>"hình
thức tinh thần". "Hình thức vật chất"</em>, đến lượt
nó, lại gồm <em>"hình thức vật thể"</em> và <em>"hình
thức ngôn ngữ"</em>. Còn <em>"hình thức tinh thần"</em> bao
gồm <em>"hình thức biểu tượng"</em> và <em>"hình thức
khái niệm"</em> [tr. 171 - 172].

Thật khó có thể giải trình sự phân loại độc đáo này
bằng lôgic học: <em>"hình thức vật thể"</em> là một loại
của … <em>"hình thức vật thể"</em>, và <em>"khái
niệm"</em> là một loại hình thức của … <em>"khái
niệm"</em>.

Khái niệm quan trọng nhất được hiểu một cách mơ hồ như
vậy thì <em>"thiết kế"</em> và <em>"thi công"</em> chương
trình Công Nghệ Giáo Dục thế nào?

<em><span class="underlined-text">2.2. Bây giờ nói sang phương pháp
hình thành khái niệm khoa học cho trẻ em.</span></em>

GS Hồ Ngọc Đại đúng một nửa khi cho rằng: <em>"Khái niệm
cốc trú ngụ trong cái vật thể gọi là cốc chỉ bị phát
hiện chừng nào chủ thể S có một cách thức hành động thích
hợp, thâm nhập được vào cái cốc, để S-hoá cái cốc ấy,
khiến cho cái cốc ấy không còn là vật-tự-nó (theo nghĩa của
Kant) mà trở thành vật-tự-nó-và-vì-nó (Hegel) hay vật-cho-ta
(Engels)"</em> [tr.200 -201].

Tuy nhiên, hình như ông quên mất là <em>"trên cơ sở nhận
thức các quy luật và các khuynh hướng phát triển, khái niệm
về một số sự vật hay hiện tượng có thể được hình
thành trước khi bản thân những sự vật hay hiện tượng ấy
xuất hiện"</em> [Rozental M. M. chủ biên. <em>Từ điển triết
học</em>. Nxb Tiến Bộ, Moxkva, 1986, /bằng tiếng Việt/, tr. 275].
Trong những trường hợp chưa có đối tượng như vậy thì chủ
thể thâm nhập đối tượng bằng cách nào? Và cái gì là
vật-tự-nó, cái gì là vật-tự-nó-và-vì-nó hay vật-cho-ta ở
đây?

Đối với những khái niệm rộng hay trừu tượng như <em>triết
học, toán học, chủ nghĩa lãng mạn, tâm hồn</em> …, hẳn
cũng không thể phân giải chúng thành chuỗi thao tác, rồi dùng
hành động bằng tay mà chiếm lĩnh được. Đặc biệt, yêu
cầu áp dụng nhất loạt quy trình chuyển vào trong gồm 4 bước
cho việc hình thành mọi khái niệm ở học sinh vừa không phù
hợp với đặc điểm của quá trình hình thành khái niệm là
sử dụng nhiều hình thức suy lý, vừa gây lãng phí thời gian.

<strong>3. Vấn đề thứ ba cần thảo luận là lôgic của chương
trình giáo dục và của bài học.</strong>

Theo GS Hồ Ngọc Đại, lôgic của chương trình và bài học là
phát triển từ trừu tượng đến cụ thể, phù hợp với sự
phát triển của sự vật, của khái niệm và của chính chủ
thể trong quá trình chinh phục khái niệm.

Luận điểm của GS bị nhiều người phản đối, nhưng cũng
được không ít người đánh giá là mới lạ. Cả hai loại ý
kiến này có lẽ đều bắt nguồn từ chỗ thấy nó ngược
với nhận định của V. I. Lênin [V. I. Lênin. Toàn tập, tr.29.
Nxb Tiến Bộ, Moxkva, 1981, /bằng tiếng Việt/, tr179].

Tuy nhiên, các thuật ngữ <em>"trừu tượng", "cụ
thể"</em> mà GS Hồ Ngọc Đại dùng là thuật ngữ của Hegel,
nghĩa khác hẳn với nghĩa thông thường. Theo cách hiểu này,
<em>"cụ thể là từ đồng nghĩa với liên hệ qua lại biện
chứng, với tính hoàn chỉnh bị phân chia; trừu tượng không
đối lập với cụ thể, mà là một giai đoạn phát triển của
bản thân cụ thể, là cụ thể chưa được phát hiện, chưa
được triển khai, chưa được phát triển"</em> [Rozental M. M.,
Sdd, tr. 624].

Về sau, khắc phục yếu tố duy tâm trong quan niệm của Hegel,
triết học mác-xít phân biệt các cặp khái niệm <em>"cụ
thể trong hiện thực khách quan"</em> với <em>"trừu tượng
trong nhận thức"</em> và khẳng định: <em>"Nhận thức lý
luận thực sự khoa học là một sự vận động của tư tưởng
xuất phát từ tính muôn vẻ cảm tính của cụ thể và tái
hiện được khách thể với tất cả tính chất quan trọng và
phức tạp của nó. Phương pháp tái hiện về lý luận một
đối tượng hoàn chỉnh trong ý thức là đi từ trừu tượng
đến cụ thể; đó là một hình thức phổ biến mở rộng tri
thức khoa học, phản ánh một cách có hệ thống đối tượng
trong những khái niệm"</em> [Rozental M. M., Sdd, tr. 625].

Có thể đọc những chuyện <em>"cao siêu"</em> này trong một
cuốn sách tra cứu bình thường là Từ điển triết học mà
tôi đã dẫn: nguyên bản tiếng Nga in năm 1975, còn bản dịch
tiếng Việt – năm 1986. Tiếc là trong cuốn sách của mình, GS
Hồ Ngọc Đại không dẫn nguồn nên đã gây hiểu lầm cho
nhiều người đọc.

<strong>4. Vấn đề thứ tư đặt ra trong lý luận Công Nghệ
Giáo Dục là vai trò của giáo viên đứng lớp.</strong>

Mô phỏng sự phân công trong sản xuất công nghiệp, GS Hồ
Ngọc Đại chia đội ngũ cán bộ giáo dục thành hai bộ phận:
thiết kế và thi công. <em>"Người thiết kế tìm ra giải pháp
tối ưu cho mỗi việc làm và hệ thống việc làm tạo ra sản
phẩm giáo dục"</em> [tr. 161]. Còn người giáo viên làm nhiệm
vụ thi công trên lớp, giống như người lái xe, <em>"không có
chức năng và cũng không có năng lực [...] vượt quá năng lực
thiết kế [...]. Và nếu giáo viên cũng <em>"sáng tạo"</em>
thực thì càng lấy làm xấu hổ"</em> [tr157 -158].

Chắc rằng rất ít người tán thành sự <em>"phân công lao
động"</em> cực đoan nói trên. Bởi vì không thể đánh đồng
việc đào tạo con người với việc sản xuất đồ vật và
điều khiển cái xe.

Tôi nhớ nhà lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn lúc sinh thời từng
căn dặn cán bộ giáo dục: <em>"Xây dựng con người, xây
dựng tình cảm không thể theo công thức được [...]. Cho nên,
thầy giáo không phải chỉ dạy bằng công thức, bằng những
câu, chữ có sẵn, mà phải dạy bằng tất cả tâm hồn
mình"</em> [Lê Duẩn, về văn hoá văn nghệ. Nxb Văn hoá - Thông
tin, Hà Nội, 1997, tr. 291]. Nhắc lại ý kiến này có thể bổ
ích ít nhiều cho lý luận về <em>"thiết kế"</em> và
<em>"thi công"</em> trong giáo dục chăng?

Giáo dục Việt Nam bên cạnh những thành tựu không hề nhỏ
cũng còn tồn tại rất nhiều bất cập, yếu kém, cần nhanh
chóng được khắc phục. Trên con đường đổi mới, có thể
có rất nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác nhau và
việc trao đổi, tranh luận giữa những người quan tâm, giữa
các nhà khoa học là rất đáng trân trọng. Bài viết này chỉ
góp thêm một tiếng nói vào mối quan tâm chung của nhiều
người về việc chọn đường đổi mới căn bản và toàn
diện nền giáo dục Việt Nam.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13557), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét