Association of Southeast Asian Nations</em>) thành lập năm 1967 do năm
nước: Phi, Mã Lai, Nam Dương (Indonesie), Singapour và Thái Lan. Ban
đầu, năm 1961, do nỗ lực của ba nước Thái Lan, Phi và Mã Lai.
Nỗ lực này thất bại vì xung đột do tranh chấp lãnh thổ
giữa các nước. Vấn đề tranh chấp vùng Sabah giữa Phi và Mã
Lai đã khiến hai nước này gián đoạn ngoại giao (1962-1966).
Cùng thời kỳ, hai nước thành viên sáng lập khác là Indonesie
và Mã Lai cũng có những căng thẳng, do chủ trương
«konfrontasi» của Indonesie. Hai nước này đã có lần đứng
trên bờ của một cuộc chiến toàn diện. Nội bộ Indonesie còn
bị đe dọa ly khai (vùng Aceh, Đông Timor…). Trong khi Singapour
tách khỏi Mã Lai năm 1965. Trong khi đó lịch sử, văn hóa…
của các dân tộc này cũng không tương đồng hay cùng nguồn
gốc nếu ta so sánh với cộng đồng Châu Âu (UE).
Với những mâu thuẫn nội tại và xung đột quyền lợi như
thế, các nước thành viên sáng lập ASEAN chỉ có thể ngồi
lại với nhau thành một liên minh (quân sự) khi mà các quyền
lợi hay an ninh của các quốc gia này có chung một mối đe dọa
ghê gớm.
Thật vậy, thập niên 60 đánh dấu cuộc chiến tranh lạnh giữa
hai khối Tự do - Cộng sản bước vào giai đoạn gay gắt nhất,
sau chiến tranh Triều Tiên. Các nước như Indonesie, Mã Lai, Phi,
Thái Lan... thường xuyên bị đe dọa bất ổn do các hoạt
động «phiến cộng» do Bắc Kinh giật giây. Cộng đồng Hoa
Kiều tại các nước này rất đông đảo. Trong khi đó tại
Trung Hoa lục địa (gọi là Trung Quốc sau 1972, trước đó gọi
là Trung Cộng để phân biện với Trung Hoa Dân Quốc và Đài
Loan. Năm 1972 Đài Loan mất ghế đại diện LHQ về tay TQ), Mao
Trạch Đông bắt đầu cuộc Cách mạng văn hóa và có chủ
trương «xuất khẩu» cách mạng sang các nước trong vùng. Thái
Lan, một thành viên sáng lập khác của ASEAN, bị đe dọa chiến
tranh cách mạng bởi các hoạt động của phiến cộng Mao-ít ở
các vùng phía bắc. Các nước kế bên là Lào, Kam Pu Chia đã
đánh mất vị trí trung lập, theo Bắc Việt Nam lần lượt trở
thành các «tên xung kích vô sản», qua sự ủng hộ nhiệt tình
về tư tưởng cũng như vũ khí đạn dược của Trung Cộng.
Thanh niên miền Bắc Việt Nam được tuyên truyền về một
cuộc chiến thần thánh «đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào», tình
nguyện «sinh Bắc tử Nam» để «giải phóng miền Nam», mà
thực tế là xung phong lên lò nướng cho «thí điểm nóng» của
cuộc chiến tranh lạnh, còn gọi là cuộc chiến «ý thức hệ»
do hai bên Hoa Kỳ và Liên Xô lãnh đạo.
Các nước thành viên sáng lập ASEAN như thế có cùng một đe
dọa chung về an ninh: làn sóng đỏ cộng sản. Vấn đề Hoa
kiều tại các nước này làm cho tình hình thêm khẩn cấp. Chủ
nghĩa về Dân tộc của Quốc Dân Đảng (sau này Trung Cộng
tiếp nối) chi phối nặng nề lên luật quốc tịch của Trung
Hoa Dân Quốc. Luật này buộc rằng bất kỳ một người Hoa nào
ở nước ngoài, cho dầu sanh trưởng tại nước ngoài, nếu có
cha mẹ là người Hoa thì đứa con cũng có quốc tịch Trung Hoa.
Chính sách này không cho phép có hai quốc tịch. Do đó lớp
người này tạo thành «đạo quân thứ năm» rất đông đảo.
Để đối phó, tại Indonesie, năm 1965 một cuộc thảm sát rộng
lớn đã xảy ra, những người gốc Hoa bị chính quyền tiêu
diệt vì lo sợ một cuộc đảo chánh của phe cộng sản mà đa
phần là người Hoa cộng do Mao Trạch Đông ủng hộ. Qua cuộc
«thanh trừng» sâu rộng này Indonesie tránh được nạn phiến
cộng thân Mao (như xảy ra ở Thái Lan, Lào, Kampuchia, Miến
Điện, Mã Lai, Phi v.v…). Riêng tại Nam Việt Nam, chính quyền
Ngô Đình Diệm đã có bộ luật về quốc tịch, buộc những
người Hoa muốn sinh sống làm ăn tại VN thì phải nhập tịch
VN. Chính sách này cũng được áp dụng tại các nước khác. Hoa
kiều bị cấm hoạt động ở một số ngành nghề, nhất là
tiểu thuơng, hoạt động chính của cộng đồng người Hoa.
Nhưng tất cả các nỗ lực đó không thể ngăn chặn làn sóng
đỏ, nếu không có một mặt trận chung, khi mà chủ thuyết
Domino đang thời thuợng, cũng như âm hưởng hậu chiến tranh
Triều Tiên về một «hiểm họa da vàng» mới, lần này với
Bắc Việt Nam, một tên xung kích sừng sỏ được Trung Cộng
chủ động và hậu thuẫn về mọi mặt, tư tưởng, nhân sự
cũng như vũ khí. (Liên Xô lúc đó chỉ lo ở mặt Châu Âu, chỉ
có thể giúp mặt trận Châu Á về vũ khí, cho đến thập niên
70). Dân số Trung Hoa lục địa trong các năm 1963 đến 1970 từ
700 triệu lên đến 850 triệu người.
Như thế mục đích thành lập ban đầu của ASEAN là để đối
phó với họa cộng sản, nhưng thực chất là chống lại sự
bành trướng của Trung Cộng, qua sự «chống lưng» giúp đỡ
(quân sự) của Hoa Kỳ và (kinh tế) Nhật Bản, mà trực diện
trong khu vực là «tên xung kích» Bắc Việt Nam. Nên biết, đe
dọa bành trướng của Trung Cộng, tức «họa da vàng», từ sau
trận chiến Triều Tiên đầu thập niên 50 là nỗi lo ngại
chiến lược lớn nhất của Hoa Kỳ.
Do đe dọa về một hiểm họa chung, các nước ASEAN bỏ qua các
tranh chấp về lãnh thổ, những xung đột do tôn giáo, chủng
tộc… để ngồi lại với nhau nhằm tạo sức mạnh để
chống lại. Sự vắng mặt nổi bật trong ASEAN là miền Nam
Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa). Đây là một lựa chọn mang tính
chiến lược của nhóm (có lẽ đến từ ý kiến của Thái Lan),
được áp dụng trong nội bộ ASEAN, thấy được qua nội dung
bản Tuyên Ngôn ngày 8 tháng 8 năm 1967. Mục tiêu thành lập
Hiệp hội phản ảnh qua các điểm của Bản Tuyên Ngôn, đại
khái gồm các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội và văn
hóa, xây dựng một cộng đồng các nước Đông Nam Á thinh
vượng và hòa bình. Điều thứ hai của Tuyên Ngôn nhằm mục
đích gắn bó các nước trong khối: thúc đẩy hòa bình và sự
ổn định trong vùng bằng cách tôn trọng pháp luật cũng như
qui tắc pháp lý trong các quan hệ giữa các nước và tôn trọng
các nguyên tắc của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Điểm
được nhấn mạnh nhiều lần trong Tuyên ngôn là «hòa bình,
bảo vệ hòa bình, ổn định khu vực…». Có lẽ vì vậy mà
Miền Nam Việt Nam, thay vì phải là một thành viên nòng cốt,
lại trở thành vùng «phên dậu» ngăn cản chiến tranh lan rộng
sang các nơi khác.
Như thế các nước trong khối ASEAN kết hợp với nhau vì các
mục tiêu «phát triển kinh tế và gìn giữ nền hòa bình và
thịnh vượng chung». Không hề thấy có một khoản nào nói
đến quốc phòng, hay hợp tác về quốc phòng hay một liên minh
về quốc phòng. Mặc dầu lý do để các nước ngồi lại với
nhau là sự đe dọa cộng sản và «họa da vàng» của Trung
Quốc. Các nước này không ai ngu xuẩn gì đem đổ máu dân
chúng để làm công tác bẩn thỉu chống cộng, vì đã có Việt
Nam Cộng Hòa (và Hoa Kỳ) làm việc đó cho mình rồi. Nhờ máu
của binh lính VNCH và Hoa Kỳ đổ xuống nêm các nước trong
khối ASEAN mới có được sự hòa bình cũng như cơ hội phát
triển kinh tế, đem lại sự thịnh vượng tương đối cho khu
vực. Cũng nên nhắc lại, khối Châu Âu cho dầu đã có đồng
tiền chung từ khoảng 10 năm nay, nhưng trong vấn đề quốc
phòng các nước này đến nay vẫn chưa có một đường lối
thống nhất để có thể tiến đến một «liên minh» về quốc
phòng, có hiệu quả như OTAN.
Đến năm 1975, «tiền đồn của thế giới tự do» là miền
Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ. Lý ra vai trò chống cộng của
ASEAN được củng cố, vì lúc này các nước trong khối phải
trực diện với Việt Nam, thì lại bị (Hoa Kỳ) hạ xuống hàng
thứ yếu. Nguyên nhân vì Việt Nam không còn là «tên xung kích»
sừng sỏ chịu sự điều khiển trực tiếp của Bắc Kinh trong
thập niên 60 mà đã trở thành cánh tay nối dài của Quốc Tế
Cộng Sản do Liên Sô lãnh đạo. Trong khi đó mâu thuẫn giữa
Liên Xô và Trung Cộng đã lên đến tột đỉnh từ thập niên
60. Sau năm 1972 khi Mao bắt tay với Nixon, mâu thuẩn này lại
càng gay gắt. Việc này làm xấu đi quan hệ giữa Việt Nam với
Trung Cộng. Sự «trở mặt» của Việt Nam qua việc ngả hẵn
về phía Liên Xô đối với Bắc Kinh là một sự xúc phạm lớn
lao. Bắc Kinh không tiếc lời sỉ vả VN, trước và sau khi cuộc
chiến 1979, là loài «phản phúc», «ăn cháo đá bát», «tiểu
bá». Ảnh hưởng Trung Quốc do đó bị ngăn chặn tại biên
giới miền bắc VN. Việt Nam cộng sản lại trở thành «tiền
đồn» chặn bước tiến của Trung Quốc. Khối ASEAN lần nữa
lại được an toàn vô sự. Việc chống lại ảnh hưởng của
Trung Quốc đã khiến VN mang thêm gánh nặng, do đó không còn
thực lực để thi hành «nghĩa vụ quốc tế», tức tổ chức
làm «cách mạng» sang Thái Lan hay các nước lân bang. Thuyết
Domino vì thế không còn hiệu lực. Mục tiêu bao vây (containment)
Trung Quốc của HK mà nước này đổ biết bao nhiêu xương máu
binh lính (kể cả binh lính Việt Nam Cộng Hòa) cũng như tiền
bạc, vũ khí, đạn dược trong suốt hơn một thập niên mà
không thành công. Bây giờ lại thành công, nhờ khai thác mâu
thuẩn Trung - Việt. Biên giới Thái Lan được an ninh hóa do xung
đột Việt - Kampuchia. Dĩ nhiên Kam Pu Chia, do quan hệ lịch sử,
cần dựa vào Thái Lan để chống Việt Nam.
Con thỏ đã hạ xong thì cung tên cũng dẹp bỏ. Khối ASEAN không
còn giá trị trong bàn cờ chiến lược của Hoa Kỳ, như trong
thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Từ đó khu vực biển Đông có
sự hiện diện của hạm đội thuộc hải quân Liên Xô. Trung
Quốc chưa bao giờ có cảm giác bị bao vây một cách khó chịu
như thế.
Để không bị phân hủy, các nước trong khối ASEAN ký hiệp
ước TAC (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia) năm 1976
gồm các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền lẫn nhau,
không can thiệp vào nội bộ lẫn nhau, chủ trương giải quyết
các tranh chấp bằng phương tiện hòa bình…
Vấn đề an ninh của ASEAN chỉ được đặt lại năm 1979 sau khi
quân VN xâm nhập vào Kampuchia để giải quyết vấn đề Khmer
đỏ. Biên giới Thái Lan bị đe dọa, việc này quan hệ trực
tiếp đến an ninh của toàn khối ASEAN, vì Thái Lan là một
thành viên sáng lập của khối. Nhưng đe dọa này chỉ mang tính
chiến thuật, cục bộ, vì Liên Xô đang bị sa lầy ở chiến
trường Afghanistan. Mối lo ngại của ASEAN không được Hoa Kỳ
chia sẻ.
Đến năm 1995, một khúc quanh ngoạn mục của ASEAN qua việc
nhận Việt Nam làm thành viên chính thức. Nguyên nhân cũng đến
từ việc an ninh của các nước trong khối bị đe dọa. Hành vi
Trung Quốc chiếm đảo Vành Khăn mà đảo này sát sườn Phi,
thành viên sáng lập ASEAN. Trước đó, Trung Cộng cũng gây hấn
với Việt Nam, đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại
Trường Sa. Các đảo Vành Khăn hay các đảo đá chiếm được
của VN đã được Trung Quốc nhanh chóng xây dựng các căn cứ
quân sự. Điều này làm Indonesia và Mã Lai lo ngại vì Trung
Quốc một mặt đòi chủ quyền quần đảo Trường Sa và vùng
biển chung quanh, một mặt lên tiếng đòi chủ quyền quần
đảo Natuna, phía nam quần đảo Trường Sa, mà khu vực này đã
được công ty dầu khí Pertamina của Indonesia khám phá nhiều
mỏ dầu quan trọng. Việc Hoa Kỳ rút khỏi vùng năm 1975 và sự
suy yếu, sau đó sụp đổ của Liên Xô đã tạo một vùng
trống quyền lực trong khu vực biển Đông. Khoảng trống này
tạo cơ hội cho Trung Quốc bành trướng thế lực, đặt dấu
ấn của mình trong khu vực. Bóng dáng của người khổng lồ
Trung Quốc lại đe dọa an ninh khu vực. Quyết định tiếp nhận
Việt Nam vào làm thành viên chính thức năm 1995 là các nước
trong khối ASEAN muốn dùng Việt Nam để đối trọng với Trung
Cộng. Tuy vậy, vấn đề một «liên minh quân sự» vẫn không
đặt ra.
Như vậy, mục tiêu thành lập ban đầu của ASEAN, cũng là
«chất keo» để các nước này ngồi lại với nhau, là yếu
tố an ninh khu vực bị đe dọa, do nạn cộng sản và hiểm họa
da vàng của Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu không có chất «xúc
tác» là Hoa Kỳ và tài chánh của Nhật Bản thì việc thành
lập ASEAN sẽ khó thành công. Dĩ nhiên, nếu không còn một đe
dọa nào cho khu vực, tức chất keo gắn bó không không tồn
tại, hiệp hội này có lẽ sẽ không còn lý do hiện hữu.
Nhưng giữa các nước với nhau vẫn còn tồn đọng nhiều vấn
đề như tranh chấp lãnh thổ chưa giải quyết. ASEAN với hiệp
ước TAC 1976, vì vậy trở thành một nơi để các bên giải
quyết tranh chấp nội bộ mà việc này không hề thiếu. Xem các
trường hợp tranh chấp giữa các bên qua tài liệu của học
giả Malaysia J.N.Mak:
http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/944-chu-quyen-trong-asean-va-van-de-hop-tac-o-bien-dong
Đối với Trung Quốc, hiệu quả giải quyết tranh chấp ở
biển Đông của ASEAN, giữa một số thành viên của nước này
với Trung Quốc, là Tuyên Bố về cách ứng xử ở biển Đông
(DOC) ký vào tháng 11 năm 2002, có thể đọc ở đây:
http://nghiencuubiendong.vn/trung-tam-du-lieu-bien-dong/doc_details/87-tuyen-b-v-cach-ng-x-ca-cac-ben--bin-ong.
Nhưng Tuyên bố này chỉ có hiệu lực của một «tuyên bố»,
tức không có hiệu lực bắt buộc, vì thế vấn đề biển
Đông không những đã không giải quyết mà những mâu thuẩn
ngày càng chồng chất do các hành động đơn phương của các
bên, nhất là Trung Quốc. Nước này đã ngang nhiên cấm biển,
cho thao diễn quân sự tại vùng biển tranh chấp, cấm cản các
công ty dầu khí khai thác trên thềm lục địa của các nước
khác… Như thế, đối với một số nước thành viên như Việt
Nam, Phi, Mã Lai…, hành động của Trung Quốc đe dọa trực
tiếp đến an ninh cũng như việc vẹn toàn lãnh thổ của các
nước này. Dầu vậy việc này vẫn không được đề cập
đến trong các hội nghị thuợng đỉnh của ESEAN (tổ chức vào
tháng 11 hàng năm). Chỉ đến khi Việt Nam làm chủ tịch luân
phiên ASEAN, việc này mới được đặt ra tại bàn hội nghị.
Nhưng một «liên minh» về quân sự giữa các nước cũng không
hề được nhắc đến.
Vì thế, ta có thể kết luận rằng, với một khối 10 nước
đồng sàn dị mộng như khối ASEAN, một liên minh chung về quân
sự sẽ chỉ là một giấc mơ. Từ thời mới thành lập cho
đến nay, ngay cả những lúc an ninh khu vực bị đe dọa gay
gắt, chưa bao giờ các nước này đồng thuận về một vấn
đề gì. Trong khi đó, với sự phát triển chóng mặt về kinh
tế của Trung Quốc, một số nước trong khối ASEAN không còn
xem nước này là một đe dọa mà là một cơ hội. Sự đe dọa
của Trung Quốc ở biển Đông thực ra chỉ quan hệ đến Việt
Nam, Phi và trong chừng mực Mã Lai và Indonesie. Những nước khác
cảm thấy không dính dáng gì về tranh chấp này. Riêng về mâu
thuẩn nội bộ, những tranh chấp của các nước đã không thể
giải quyết tại khu vực. Tranh chấp Thái - Miên về ngôi đền
Preah Vihear rốt cục phải đưa ra Tòa án quốc tế CIJ. Các tranh
chấp khác về chủ quyền các đảo giữa các nước như
Indonesie và Mã Lai, giữa Mã Lai và Singapour… cũng được giải
quyết bằng CIJ. Ta còn có thể mong đợi gì ở ASEAN?
Tuy nhiên, quyết định trở lại khu vực của Hoa Kỳ trong
những ngày gần đây, qua động thái tham gia hàng loạt các hội
nghị cũng như ký kết một số các hiệp ước, có thể sẽ
làm cục diện thay đổi. Ta có thể mong đợi ở «Hiệp định
quan hệ đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương»
giữa Hoa Kỳ và các nước, trong đó có thể gồm có Việt Nam,
Phi, Brunei, Mã Lai… tức những nước trực tiếp bị Trung Quốc
đe dọa, hơn là trông chờ ở khối ASEAN về một ngày khai sinh
ra một «liên minh về quốc phòng để bảo vệ biển Đông».
<strong>Trương Nhân Tuấn</strong>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10192), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét