<div class="special_quote"><strong>Tin liên quan:</strong>
<ul>
<li><a
href="https://danluan.org/tin-tuc/20130418/truong-nhan-tuan-cong-nhan-vnch-vi-chu-quyen-bien-dao">Trương
Nhân Tuấn - Công nhận VNCH vì chủ quyền biển đảo? </a></li>
<ul>
<li><a
href="https://danluan.org/tin-tuc/20130415/cong-nhan-vnch-vi-bien-dao-ngay-nay#comment-84492">Công
nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?</a></li>
</ul>
</ul></div>
<div class="boxright300"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjrsgS6010Zokw9hff94oI4MrjYHvoxWodmd7L-SQ7nclPaRxwr-w-HfFcOqO6RSDy9Am5MCgUJ1uUZLl9bCa8UZf2xIbd2M51cmbQuxqIhbwz5NNAMLj3vnd5W74R_ohNJ_WmfoZMCixk/s1600/VNCH-VNDCCH-danlambao.jpg"
/></div>
Trước những hành vi thể hiện quyền chủ quyền của Trung
Quốc tại biển Đông, toàn bộ khu vực biển chung quanh Hoàng Sa
và vùng biển phía bắc Trường Sa lần hồi trở thành việc
"trong nhà" của Trung Quốc, thay vì một vấn đề quốc tế.
Hiện nay Trung Quốc cho phép tổ chức du lịch các đảo Hoàng
Sa, cùng lúc đuổi, bắn các tàu đánh cá của Việt Nam không
cho phép đến gần khu vực. Nhưng phản kháng chiếu lệ của
Việt Nam không có hiệu quả, trong lâu dài tính hợp pháp các
hành vi "effectivité" của Trung Quốc được khẳng định.
Gần đây Phi đã mở mặt trận pháp lý với Trung Quốc tại
Scarborough và Trường Sa. Hành động này sẽ làm sáng tỏ những
đòi hỏi của Trung Quốc đồng thời khẳng định "các quyền"
của Phi tại các "chủ thể" tranh chấp. Việt Nam có lợi trong
việc kiện tụng này. Tại HS, Việt Nam cần có động thái
tương tự. Việt Nam có thể vịn nhiều lý do khác nhau, ngoài
tranh chấp chủ quyền, còn có quan điểm đối nghịch của hai
bên về thềm lục địa, về cột nước, về quyền khai thác
tài nguyên (như đánh cá)… Việt Nam cần xúc tiến việc "pháp
lý hóa" những lãnh vực tranh chấp ở Hoàng Sa nhằm tạo thế
chủ động "khoanh vùng tranh chấp".
Muốn làm việc này Việt Nam phải có một cơ sở pháp lý vững
chắc về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa. Trong bài viết
ở đây và ở đây, tác giả đã vạch ra những kẻ hở trong
hồ sơ pháp lý của Việt Nam. Trong một thời gian dài 3 thập
niên, nước VNDCCH, tức quốc gia tiền nhiệm của quốc gia
Việt Nam hiện nay, đã có những hành vi, minh thị và ám thị,
từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Bài viết này, nhân cận kề 38 năm ngày đánh dấu sụp đổ
Sài Gòn 30-4-1975, trình bày một mảng khác của Công pháp quốc
tế, các vấn đề về "kế thừa" và "tính liên tục quốc gia".
Đây cũng là các yếu tố pháp lý mà Việt Nam cần tuân thủ.
Cần khẳng định: không có danh nghĩa chủ quyền pháp lý hỗ
trợ, Việt Nam không thể bảo vệ Trường Sa nếu chỉ dựa vào
sức mạnh quân sự. Nguy cơ mất trắng biển Đông là có thật.
Lấy lại Hoàng Sa là thiên nan vạn nan nhưng hạn chế những tai
hại của Hoàng Sa là việc làm có thể. Ít nhứt Việt Nam phải
chứng minh "quyền lịch sử" và sự liên tục quốc gia – cho
dầu trên danh nghĩa - ở nơi này bằng cách cho thấy quốc gia
Việt Nam hiện tại và các quốc gia tiền nhiệm chưa bao giờ
có ý định từ bỏ nó.
<h2>I.</h2>
"Kế thừa quốc gia [i]" và "liên tục quốc gia" là những khái
niệm thuộc Quốc tế công pháp. "Kế thừa" quốc gia là sự
thay thế một quốc gia bởi một quốc gia khác ở các quan hệ
quốc tế, về những vấn đề liên quan đến lãnh thổ. Nói
đến "liên tục quốc gia" là nói đến tính pháp nhân của một
quốc gia có luôn được tồn tại (trước các định chế quốc
tế), bất chấp những thay đổi về lãnh thổ, dân số, hệ
thống chính trị-pháp lý và quốc hiệu hay không.
Việc kế thừa quốc gia được đặt ra trong những tình huống
: 1/ quốc gia giải thể, 2/ chuyển nhượng, tức chuyển giao
vùng lãnh thổ của quốc gia này cho một quốc gia khác, 3/ ly
khai, tức một lãnh thổ tách rời tự thành lập một quốc gia
khác và 4/ những trường hợp thống nhất của hai hay nhiều
quốc gia.
Kế thừa quốc gia là thủ tục pháp lý nhằm tái xác định,
hay phủ định, trách nhiệm của quốc gia kế thừa đối với
vùng lãnh thổ mới, cũng như hiệu lực các kết ước, hay các
tuyên bố của nhà nước tiền nhiệm đã thể hiện trước các
định chế quốc tế, hay đối với các quốc gia khác.
<h2>II.</h2>
Vấn đề "kế thừa" và tư cách pháp nhân của quốc gia Việt
Nam sẽ bị đặt lại ở ba thời điểm : 1) Sau khi Nhật đầu
hàng Đồng Minh tháng 8-1945, 2) sau khi hiệp định Genève 1954
được ký kết và 3) sau ngày Sài gòn sụp đổ 30-4-1975.
Các thời điểm này quan trọng vì Việt Nam có những thay đổi
lớn lao về lãnh thổ và chế độ chính trị.
Vấn đề kế thừa và tính liên tục giữa các nhà nước Việt
Nam từ thời nhà Nguyễn, thời Pháp thuộc, cho đến thời kỳ
các quốc gia ở miền Nam dễ dàng chứng minh. Chỉ khó khăn
nhận diện tư cách pháp nhân của quốc gia Việt Nam ở khoản
thời gian Nhật chiếm Việt Nam (10-3-1945) cho đến khi Quốc gia
Việt Nam được thành hình (1948). Khoản thời gian này tuy ngắn
nhưng quan trọng, cần làm sáng tỏ[ii], vì hiện hữu hai "quốc
gia" Việt Nam: "Đế Quốc Việt Nam" và "Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa". Tư cách pháp nhân của hai quốc gia này không rõ rệt.
Sau khi Nhật "đảo chánh" Pháp, chủ quyền (toàn thể vùng Đông
Dương) trước kia thuộc Pháp, lọt vào tay Nhật. Nhưng sau khi
Nhật thua trận, theo qui định của phe chiến thắng là Đồng
Minh tại Hội nghị Potsdam 1945, các vùng lãnh thổ mà Nhật đã
chiếm đóng trước đó là trái phép, phải tuyên bố từ bỏ.
Điều này có nghĩa, các chế độ chính trị do Nhật đặt ra
tại các vùng lãnh thổ do Nhật chiếm trước đó là không có
tư cách pháp lý (trường hợp Mãn Châu quốc với vua Phổ Nghi,
hay Việt Nam với Bảo Đại v.v...). Các vùng lãnh thổ này sẽ
do Đồng Minh quản lý và quyết định số phận (ngoại trừ
các vùng lãnh thổ đã được giải quyết số phận trước).
VNDCCH được thành lập qua "cuộc Cách mạng tháng Tám". Phe
cộng sản Việt Nam do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo cho rằng đã
đánh Nhật, "dành chính quyền" từ tay Nhật.
Điều này không đúng. Nhật đầu hàng đã giao toàn bộ thẩm
quyền của đế quốc tại các thuộc địa cho đại diện của
Đồng Minh. Ông Hồ không thể "cướp chính quyền" từ tay Nhật
vì không thể cướp cái mà Nhật không còn nữa.
VNDCCH không có "tư cách pháp nhân" của một quốc gia.
Hội nghị Potsdam 1945 giữa các nước Đồng Minh qui định cho
quân đội Trung Hoa có trách nhiệm giải giới quân Nhật tại
Việt Nam ở những vùng phía bắc vĩ tuyến 16, cho quân đội Anh
có trách nhiệm giải giới quân Nhật tại Việt Nam ở vùng
phía nam (vĩ tuyến 16). Sở dĩ không có mặt Pháp (dẫu rằng
Pháp là một bên trong phe chiến thắng thuộc khối Đồng Minh)
vì Hoa Kỳ có ý muốn trả lại độc lập cho tất cả các
nước thuộc địa cũ.
Như thế, trong khoản thời gian 1945-1948, Việt Nam không có đại
diện chính thức, chủ quyền quốc gia Việt Nam do Đồng minh
quản lý. Ta có thể quan niệm, Pháp [iii] là đại diện của
Đồng minh vào Việt Nam để thực thi tinh thần Hội nghị
Potsdam. Tư cách pháp nhân của quốc gia Việt Nam có thể xem là
không bị mất lại vào tay Pháp mà chỉ bị "ngưng đọng".
<h2>III.</h2>
Ngày 27-5-1948 Quốc gia Việt Nam thành hình với Chính phủ Trung
ương Lâm thời Việt Nam được thành lập do Nguyễn Văn Xuân
làm thủ tướng, Bảo Đại làm "Hoàng Đế, Quốc trưởng".
Việc này dựa trên kết ước Elysée, ngày 8 tháng 3 năm 1949,
giữa Tổng thống Vincent Auriol và Bảo Đại.
Nội dung kết ước Elysée có nhiều điều cần bàn cãi, nhưng
điểm chính là Pháp công nhận Việt Nam "độc lập" và "thống
nhứt" ba miền.
Quốc gia Việt Nam của của Bảo Đại đã được quốc tế
công nhận rộng rãi [iv]. Năm 1951, nhờ sự ủng hộ của hoa
Kỳ, Quốc gia Việt Nam được nhìn nhận là một nước độc
lập, có tuyên bố chiến tranh với Nhật, tham gia Hội nghị San
Francisco để ký hòa ước với Nhật. Nhật đã cam kết bồi
thường chiến tranh cho Việt Nam (qua một số công trình xây
dựng).
Các việc này khẳng định tư cách pháp nhân của Quốc gia
Việt Nam trên trường quốc tế. Điều quan trọng, nhân dịp
Hội nghị ông Trần Văn Hữu, nguyên thủ tướng kiêm bộ
trưởng bộ ngoại giao, đã tuyên bố trước Hội nghị chủ
quyền lâu đời của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa đã bị Nhật chiếm đóng trái phép trong thời kỳ
chiến tranh. Ông thay mặt quốc gia Việt Nam tuyên bố quyết
định thâu hồi hai vùng lãnh thổ này về lại quốc gia Việt
Nam. Tuyên bố này không gặp phản đối của nước nào nào
tại hội nghị.
Tại Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền của Việt Nam là liên
tục, mang tính kế thừa. Vấn đề kế thừa và tính liên tục
quốc gia đã thể hiện xuyên suốt các thời kỳ: nhà Nguyễn
– thuộc Pháp – thuộc Nhật (tháng 3-1945 – tháng 8-1945) –
Đồng Minh quản lý (tháng 8-1945 – tháng 5-1948) – Quốc gia
Việt Nam.
Nhà nước Phong kiến Việt Nam đã khám phá, khai thác tài nguyên
và hành sử chủ quyền trên các đảo thuộc hai quần đảo này
từ thế kỷ 18, lúc chưa có đế quốc nào bén mảng tới.
Đến thời Pháp thuộc, nhà nước bảo hộ Pháp đã thay mặt
Việt Nam long trọng tuyên bố trước cộng đồng quốc tế
việc sát nhập các đảo Hoàng Sa, sau đó các đảo Trường Sa
vào lãnh thổ Việt Nam. Tại hội nghị San Francisco 1951, Quốc
gia Việt Nam đã tái khẳng định chủ quyền này trước cộng
đồng quốc tế.
Cho đến ngày 30-4-1975, Việt Nam vẫn giữ được danh nghĩa chủ
quyền ở Hoàng Sa (de jure) và Trường Sa, mặc dầu Hoàng Sa bị
Trung Quốc xâm lăng năm 1974.
<h2>IV.</h2>
Ở miền Bắc, từ tháng 12-1946 đến tháng 7 năm 1954 là khoảng
thời gian gọi là "chín năm kháng chiến", hay còn gọi là "cuộc
chiến Đông dương lần thứ nhứt". Chính phủ của ông Hồ
tuyên bố "tiêu thổ kháng chiến", phá bỏ thành thị, làng xã,
rút vào rừng thành lập các khu kháng chiến. Chính phủ của
ông Hồ trở thành một "chính phủ kháng chiến" thực sự với
ý nghĩa của nó.
Hoạt động của "chính phủ kháng chiến" không có điều nào
đáng ghi nhận, cho đến khi Hồng quân của Mao Trạch Đông
chiến thắng phe Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh
đạo. Vấn đề kháng chiến chống Pháp của Việt Minh đi vào
khúc quanh thuận lợi vì được sự trợ giúp tận tình của
CSTQ.
Cuối cùng "kháng chiến thành công", Pháp thua Việt Minh ở trận
Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định Genève tháng 7 năm 1954.
Chính phủ VNDCCH do ông Hồ lãnh đạo vì vậy lấy được một
nửa đất nước, tính từ vĩ tuyến 17.
Chính phủ VNDCCH là một chính phủ hiện hữu trên thực tế (de
facto), được khối cộng sản công nhận. Quốc gia Việt Nam, do
chính phủ VNDCCH đại diện, quan niệm Việt Nam là một quốc
gia duy nhứt, thống nhứt ba miền Bắc, Trung, Nam, theo như qui
định của hiệp định Genève 1954. Việc phân chia đất nước
chỉ là tạm thời. VNDCCH không có đại diện nào tại các
định chế quốc tế thuộc LHQ. Điều đáng ghi nhận là VNDCCH
tuyên bố đoạn tuyệt với quá khứ của các nhà nước phong
kiến và thực dân. VNDCCH là một quốc gia "mới", lãnh thổ có
là do chiếm được, không do kế thừa. Điều ghi nhận khác,
ngày 14-9-1958, nhà nước VNDCCH có viết công hàm nhìn nhận các
tuyên bố về lãnh thổ và bề rộng lãnh hải của Trung Quốc,
theo đó minh thị nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại
Hoàng Sa và Trường Sa. Công hàm này là trở ngại pháp lý của
nhà nước Việt Nam hôm nay trong hồ sơ Hoàng Sa và Trường Sa.
<h2>V.</h2>
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được khai sinh ngày
20-12-1960, theo nghị quyết của của Đại hội đảng toàn quốc
lần thứ ba của đảng CSVN (lúc đó là đảng Lao Động), do
bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục miền Nam lãnh
đạo. Vì vậy thực thể chính trị này và VNDCCH có quan hệ
mật thiết.
Mục tiêu của Mặt Trận là: <em>"« đoàn kết các tầng lớp
nhân dân, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và nhân sĩ yêu
nước không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh lật
đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình
Diệm, tay sai của Mỹ, để thực hiện độc lập, dân chủ,
hòa bình, trung lập tiến tới hòa bình thống nhứt tổ
quốc."</em>
Cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, thực hiện theo một
nghị quyết khác của đảng CSVN, là một thành công chính trị
lớn lao. Thế giới qua cuộc tấn công này biết được sự
hiện hữu của MTGPMN. Chính phủ Cách mạng Lâm thời được
thành lập ngày 8-6-1969, dĩ nhiên được VNDCCH cùng các nước
trong khối cộng sản công nhận.
Sự hiện hữu của CPCMLT ảnh hưởng đến tính chính thống
của chính phủ VNCH trước các định chế quốc tế, làm yếu
đi tư thế đại diện một nước Việt Nam duy nhứt.
Chình Phủ Cách Mạng Lâm Thời (CPCMLT) được nhìn nhận là
một thực thể chính trị có tư cách pháp nhân. Bốn bên Mỹ,
CS miền Bắc, VNCH và CPCMLT ký kết hiệp định Paris 1972. Hoa
Kỳ bắt đầu rút quân khỏi miền Nam đồng thời ngưng viện
trợ quân sự cho VNCH. 30-4-1975 VNCH sụp đổ.
Nhưng cho đến khi sụp đổ, VNCH vẫn là đại diện duy nhứt
cho quốc gia Việt Nam tại các tổ chức quốc tế.
<h2>VI.</h2>
Ngày 30-4-1975, nhà nước VNCH sụp đổ, chính quyền mất vào tay
Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
(CHMNVN). Chính phủ mới tuyên bố kế thừa VNCH tại các định
chế quốc tế thuộc LHQ[v]. Việc kế thừa thể hiện dễ dàng
qua việc thay đổi "tên nước" VNCH thành CHMNVN.
Nhưng về vấn đề kế thừa lãnh thổ, không thấy chính phủ
CMLT tuyên bố lời nào về chủ quyền của Hoàng Sa và Trường
Sa. Trong khi việc phải lên tiếng khẳng định chủ quyền là
một điều bắt buộc khi quốc gia có thay đổi chính thể do
biến động chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một
quốc gia mới được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai
vùng lãnh thổ, quốc gia ly khai…).
Quốc tế cần phải biết thái độ của chính phủ mới về
chủ quyền của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc
lên tiếng không chỉ là cần thiết mà còn là bắt buộc, nếu
Việt Nam muốn khẳng định chủ quyền ở hai quần đảo này.
Về vấn đề Hoàng Sa, CPCMLT có lên tiếng một lần duy nhứt
trong khoản thời gian Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam
(tháng giêng 1974), nội dung yêu cầu tranh chấp cần được
giải quyết theo đàm phán. Phía VNDCCH thì im lặng trong khi phía
Liên Xô lên tiếng phản đối.
Thái độ "im lặng[vi]" của CPCMLT ở vấn đề Hoàng Sa và
Trường Sa không gây ngạc nhiên, vì đó cũng là thái độ của
VNDCCH từ khi lập quốc (2-9-1949) cho đến cuối thập niên 70.
Việt Nam chỉ lên tiếng sau khi có bất đồng với Trung Quốc.
Vấn đề kế thừa về lãnh thổ (Hoàng Sa và Trường Sa) do
vậy không đặt ra. Cuộc chiến 54-75 được phía CPCMLT gọi là
cuộc chiến "giải phóng", tức cuộc chiến đánh đổ (phủ
nhận) chính phủ tiền nhiệm. CHCMLT xem chính phủ tiền nhiệm
là "ngụy", là "quân bán nước", "làm tay sai của quân cướp
nước" (tức đế quốc Mỹ). Do đó không thể có vấn đề
"kế thừa" lãnh thổ.
Làm thế nào có việc kế thừa "bọn cướp nước và bè lũ
bán nước"? mà chỉ có vấn đề "giải phóng", "đánh cho Mỹ
cút, ngụy nhào", chiếm lại đất đai và dành lại dân chúng.
Một số đảo ở Trường Sa đã được thể hiện như thế (de
facto).
Quốc gia tên gọi "Việt Nam Cộng Hòa" là một quốc gia bị
giải thể. Tư cách pháp nhân VNCH bị xóa bỏ, không có thừa
kế.
<h2>VII.</h2>
Cho đến 30-4-1975, VNDCCH vẫn không xin gia nhập vào bất kỳ các
định chế quốc tế nào để giữ nguyên tắc "một quốc gia
Việt Nam duy nhứt", theo qui định của hiệp định Genève 1954
(cũng như theo nội dung hiến pháp).
Nguyên tắc này chỉ bị hủy bỏ khi VNDCCH quyết định xin gia
nhập O.M.S như là "một thành viên chính thức" vào ngày 10 tháng
4 năm 1975. Việc này được đại hội O.M.S chấp nhận ngày
7-5-1975.
Như thế từ ngày 9-5-1975 hiện hữu hai quốc gia Việt Nam trên
trường quốc tế, được quốc tế nhìn nhận: VNDCCH và CHMNVN.
Việc thống nhứt đất nước như thế là thống nhứt giữa hai
quốc gia.
Ngày 2-7-1976 hai nước VNDCCH và CHMNVN hiệp thương thống nhứt
đất nước. Từ nay quốc gia Việt Nam chỉ có một: Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra: Quốc gia CHXHCNVN đã kế thừa chủ quyền
của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa của các quốc gia
tiền nhiệm như thế nào?
Như đã viết, VNDCCH chủ trương có hai nước Việt Nam sau
30-4-1975, qua việc VNDCCH xin gia nhập các định chế quốc tế.
Quyết định gia nhập của nước VNDCCH vào các định chế
quốc tế là khẳng định tư cách một nước Việt Nam khác.
Sau khi thống nhứt đất nước, đại diện của Việt Nam tại
các định chế quốc tế là đại diện của nước VNDCCH vừa
mới gia nhập trước đó. Tính liên tục quốc gia đã được
xác định: từ VNDCCH chuyển sang CHXHCNVN.
Nước CHXHCNVN là một quốc gia Việt Nam mới. Đoạn tuyệt với
mọi nhà nước thực dân, phong kiến, hay chính quyền Ngụy ở
Sài Gòn. Lãnh thổ của nước CHXHCNVN là lãnh thổ chiếm
được từ tay Pháp (1954) và Mỹ, Ngụy (1975), không phải là
lãnh thổ kế thừa.
Tinh liên tục quốc gia đã được thể hiện: di sản của VNDCCH
được chuyển sang CHXHCNVN. Chính quyền CHXHCNVN kế thừa di sản
của chính phủ VNDCCH. Việc này càng rõ rệt hơn khi ta nhận
thấy đảng lãnh đạo nhà nước VNDCCH trước kia và đảng
lãnh đạo nhà nước CHXHCNVN hôm nay là một: đảng CSVN.
Vấn đề kế thừa chính phủ CMLT cũng không đặt ra. Những
người lãnh đạo chính phủ này cũng là nhân sự đảng CSVN.
Tức cả hai nước VNDCCH và CHMNVN, nhân sự lãnh đạo đều
nằm trong một đảng. Cả hai thực thể chính trị, có tư cách
pháp nhân, thật ra chỉ do một đảng lãnh đạo.
Việc kế thừa sẽ đặt lại các vấn đề về bang giao quốc
tế. Nước CHXHCNVN, kế thừa VNDCCH, có nghĩa vụ tôn trọng
những kết ước, những tuyên bố đơn phương về một vấn
đề quốc tế... của nhà nước tiền nhiệm VNDCCH.
Quan điểm của CHXHCNVN về Hoàng Sa và Trường Sa là quan điểm
của VNCH. Bạch thư công bố 1979 cho thấy việc này. Quan điểm
này mâu thuẩn với quan điểm quốc gia tiền nhiệm VNDCCH.
Trên quan điểm pháp lý, CHXHCNVN không thể kế thừa cùng lúc
hai quan điểm đối nghịch thuộc về hai quốc gia tiền nhiệm
(CVDCCH và VNCH, nếu xem VNCH là quốc gia tiền nhiệm).
<h2>VIII.</h2>
Như vậy, khuyết điểm lớn về pháp lý của quốc gia Việt Nam
hiện nay là đã kế thừa di sản của VNDCCH. Công hàm 1958 của
Phạm Văn Đồng cùng các động thái khác của nhà nước VNDCCH
trong nhiều thời kỳ đã củng cố chủ quyền của Trung Quốc
tại Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều người hiện nay cố tìm cách
diễn giải nội dung công hàm 1958 nhằm hạn chế hiệu lực
của nó nhưng đều không thuyết phục. Công hàm 1958 là một
tuyên bố đơn phương, có hiệu lực ở phạm vi quốc tế.
Người ta không thể hóa giải hiệu lực một văn bản quốc
tế bằng các điều luật quốc gia. Cũng không thể diễn giải
theo lối "người ta không thể cho cái mà người ta không có".
Nguyên tắc "quốc gia Việt Nam duy nhứt" theo qui định của
hiệp định Genève không cho phép nói vậy. Bên nào cũng có
trách nhiệm như nhau trong việc bảo vệ đất nước. Cũng không
thể yêu cầu nhà nước « giải thích » nội dung công hàm. Nhà
nước CHXHCNVN đã lên tiếng về nội dung công hàm này. Ông
Phạm Văn Đồng, tác giả công hàm, sau đó là ông Nguyễn Mạnh
Cầm nguyên bộ trưởng bộ ngoại giao, cũng đã giải thích
nội dung.
Chỉ có phương án kế thừa VNCH (và đoạn tuyệt với di sản
VNDCCH) mới có thể giúp quốc gia Việt Nam thể hiện tính liên
tục của quốc gia Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Việc
kế thừa đáng lẽ là quá trình hòa giải dân tộc, lý ra phải
được thực hiện từ lâu, với một trình tự pháp lý được
xác định rõ rệt qua một bộ luật về hòa giải quốc gia.
Kế thừa thế nào?
<h2>IX.</h2>
Nhà nước CSVN bỏ tên nước, đặt lại tên nước, thí dụ:
Cộng Hòa Việt Nam, thay đổi quốc kỳ, quốc ca, hiến pháp…
thay đổi tất cả những gì dính líu đến VNDCCH và CHXHCNVN
để lập một nền cộng hòa mới, tổ chức bầu cử tự do,
lập chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân; đoạn
tuyệt với quá khứ sai lầm của VNDCCH.
Nhà nước mới, trên nền tảng dân chủ, thảo luận về một
bộ luật "hòa giải dân tộc", trong đó qui định phương cách
phục hồi danh dự cũng như việc đền bồi xứng đáng cho các
thành phần quân nhân công chức VNCH nạn nhân của chính sách
học tập cải tạo. Lập ra điều luật cấm sử dụng tiếng
"ngụy" đối với những người thuộc chế độ cũ. Đền bồi
cho các nạn nhân do cải tạo công thuơng nghiệp, đánh tư sản
mại bản, kinh tế mới; làm luật phục hồi danh dự (cho
người quá vãng) và đền bồi tương xứng cho nạn nhân của
cộng sản như vụ Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm,
vụ án "xét lại chống đảng".v.v… Nếu những người này đã
mất thì đề bồi cho con cháu của họ. Cho tu bổ các nghĩa
trang liệt sĩ, không phân biệt nam bắc, dân tộc kinh, thuợng,
không phân biệt cuộc chiến 1975, 1979 hay cuộc chiến với
Kampuchia v.v…
Đứng trên quan điểm đó, một nước Việt Nam mới, dân chủ,
hoàn toàn đủ tư cách và tính chính thống, long trọng tuyên
bố trước cộng đồng thế giới kế thừa di sản VNCH. Như
thế Việt Nam khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường
Sa, từ đó làm căn bản giải quyết các tranh chấp chủ quyền
Hoàng Sa và Trường Sa bằng một trọng tài quốc tế.
Trên tinh thần đó, với sự hưởng ứng của toàn khối dân
tộc, Việt Nam sẽ đứng ở thế mạnh, hay ở thế không ai có
thể bắt nạt, toàn dân một lòng chắc chắn đủ khả năng
để tự bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của tổ tiên để
lại.
Dự án thay đổi hiến pháp 1992 hiện nay có thể là một dịp
để bày tỏ thiện chí hòa giải và kế thừa.
<strong>Trương Nhân Tuấn</strong>
___________________________________
[i] "Quốc gia – l'Etat" được cấu thành do ba yếu tố: 1)
người dân, 2) lãnh thổ và 3) một chính phủ. Việc "công nhận
quốc gia" là quan trọng trong quan hệ quốc tế, vì nó xác
định sự hiện hữu (tư cách pháp nhân) một quốc gia trên sân
khấu quốc tế. Thủ tục công nhận thể hiện bằng việc
"thiết lập bang giao", qua các việc trao đổi lãnh sự, ký kết
các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn phương giữa các
quốc gia. Việc công nhận quốc gia là các bên chấp nhận các
yếu tố đặc thù về công dân, về lãnh thổ và về chính
phủ của các bên. Việc công nhận có thể mang tính pháp lý "de
jure", tức công nhận quốc gia như là chủ thể duy nhứt, bình
đẳng về độc lập và chủ quyền trước Công pháp quốc tế.
Hoặc "de facto", một hình thức công nhận tạm thời cho những
quốc gia đang thành hình.
"Quốc gia", theo qui ước của Công pháp quốc tế, là thực thể
pháp nhân duy nhứt, bất khả phân. Đại diện quốc gia ở Liên
hiệp quốc và các định chế quốc tế thuộc thẩm quyền của
LHQ chỉ có một. Trường hợp quốc gia bị phân chia (có hai
vùng lãnh thổ khác biệt, có hai nhóm dân chúng khác biệt mặc
dầu có cùng quốc tịch, do hai chính phủ khác biệt lãnh
đạo), chỉ có một vùng lãnh thổ duy nhứt được phép đại
diện cho quốc gia ở LHQ (và các định chế quốc tế khác
thuộc LHQ). Thí dụ: quốc gia Việt Nam sau hiệp định Genève
1954 là một "quốc gia duy nhứt", bị chia cắt thành hai vùng
lãnh thổ: Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam và Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa ở miền Bắc. Không bên nào được nhìn nhận là
đại diện chính thức quốc gia Việt Nam tại LHQ. Tuy nhiên, ở
các định chế quốc tế thuộc LHQ, đại diện chính thức cho
quốc gia Việt Nam là VNCH.
[ii] Ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông
Dương. Đại diện Nhật Hoàng tiếp xúc với ông Bảo Đại
đề nghị trả lại độc lập cho Việt Nam. Ngày 12 tháng 3 năm
1945 Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, lấy quốc hiệu
là "Đế Quốc Việt Nam", bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ đã
ký trước đây với Pháp. Ngày 17-4-1945 chính phủ Trần Trọng
Kim thành lập. Nhưng chỉ vài tháng sau, 16 tháng 8 năm 1945, Nhật
tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt
trận Việt Minh làm "cách mạng". Một chính phủ "lâm thời"
được Hồ Chí Minh thành lập tại Hà Nội. Ngày 25 tháng 8 Bảo
Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Ủy ban giải
phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc gia gọi là "Đế Quốc Việt
Nam" kết thúc và quốc gia "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" ra
đời.
[iii] Việc quân Đồng minh vào Việt Nam giải giới quân Nhật
không được thực hiện theo tinh thần của Hội Nghi Potsdam 1945.
Bởi vì, tại Nam Kỳ (Cochinchine) là "nhượng địa" của Pháp,
do Việt Nam nhượng cho Pháp qua các hòa ước 1862, 1874… vì
thế Anh nhượng lại cho Pháp công việc giải giới quân Nhật
có thể với hậu ý trả lại vùng đất này về cho Pháp.
Trong khi ở phía bắc, quân Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch vào
Việt Nam chỉ sau "cách mạng tháng tám" vài ngày. Mục tiêu của
họ là "giải giới quân Nhật" và trao trả chính quyền lại cho
người đại diện nhân dân Việt Nam, theo tinh thần của Hội
nghị Potsdam. Quân Trung Hoa vào Việt Nam tước khí giới của
Việt Minh, giao chính quyền cho các đảng phái (VNQDD, DV, VNCMDMH).
Lo ngại mất quyền, Hồ Chí Minh hô hào "tuần lễ vàng", quyên
góp vàng bạc trong dân để có phương tiện đút lót cho các
tướng Trung Hoa là Tiêu Văn và Lư Hán. Nhờ việc "lo lót" này
các vị tướng Tàu ngả về ủng hộ Hồ Chí Minh, làm áp lực
lên các đảng phái khác, ép thành lập "Chính phủ Liên hiệp
Lâm thời" ngày 25 tháng 12 năm 1945. Chính phủ này gồm có đại
diện của các phe phái tại Việt Nam. Quốc hội cũng được
tổ chức qua cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Ngày 2 tháng
3, Quốc hội nhóm họp, tuyên bố "Chính phủ Liên hiệp Kháng
chiến" thành hình, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và Nguyễn Hải
Thần làm phó chủ tịch.
Đáng lẽ thực thể VNDCCH với Chính phủ Liên hiệp Kháng
chiến có tư cách pháp nhân vì thực thể này sinh ra từ ý
nguyện của phe Đồng Minh: trao trả nền độc lập Việt Nam cho
đại diện của nhân dân Việt Nam. Nhưng việc Pháp "đi đêm"
với Tưởng Giới Thạch, đề nghị trao đổi quyền lợi trả
miền bắc lại cho Pháp. Vấn đề tồi tệ thêm khi ông Hồ
bắt được tin này, lén liên lạc với Pháp để tìm thỏa
ước, mục đích dĩ nhiên là để được xem là đại diện
chính thức của Việt Nam (nhằm loại các địch thủ chính trị
khác như VNQDD, DV…). Ngày 28-2-1946 Pháp và Trung Hoa ký kết
ước Trùng Khánh thì ngày 6 tháng 3 ông Hồ cũng ký với Pháp
một hiệp ước gọi là "hiệp ước sơ bộ". Theo đó Pháp công
nhận Việt Nam là một nước "tự do" nằm trong Liên bang Đông
dương và Liên hiệp Pháp.
Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam độc lập
mà chỉ nói một nước "Việt Nam tự do" thuộc "Liên bang Đông
dương" và khối "Liên hiệp Pháp". Tức ông Hồ chấp nhận
"quốc gia" Việt Nam, thực ra là "tiểu bang" hay "xứ", do chính
phủ ông lãnh đạo, nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế
pháp lý tương đương với xứ Bắc Kỳ.
Việc này cũng kết liễu tính chính thống của nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa.
Sau khi bị chỉ trích "rước Pháp vào Việt Nam", ông Hồ cố
gắng thay đổi thực tế này qua các hội nghị tại Đà Lạt
và Fontainebleau, nhưng đều thất bại. Chính phủ của ông Hồ
rút khỏi Hà Nội và bước vào cuộc kháng chiến, bắt đầu
từ tháng 12 năm 1946. Ông Bảo Đại phê ông Hồ rằng: "Sau
thất vọng ở Fontainebleau, (Việt Minh) chỉ còn giữ được uy
tín bằng cách đưa cả nước vào biển máu."
[iv] Quốc gia Việt Nam được chấp thuận là đại diện của
nước Việt Nam duy nhứt (và thống nhứt ba miền), gia nhập vào
các tổ chức quốc tế như sau: Tổ chức Y tế Quốc Tế
(l'Organisation mondiale de la Santé - O.M.S.), Tổ chức Lao động
Quốc tế (l'Organisation internationale du Travail - O.I.T.), Tổ chức
của Liên Hiệp Quốc về Lương thực và Nông nghiệp
(l'Organisation des Nations Unies pour l'alimentation et l'agriculture -
F.A.O.), Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa (l'Organisation des Nations Unies pour l'éducation, la science
et la culture - U.N.E.S.C.O.), Liên hiệp Quốc tế về Viễn Thông
(l'Union internationale des Télécommunications - U.I.T), Liên hiệp Bưu
chính Thế giới (l'Union postale universelle - U.P.V.)…
[v] Bộ trưởng bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm
thời là bà Nguyễn Thị Bình. Sau khi VNCH sụp đổ, bà Bình đã
có những động thái hướng đến các tổ chức quốc tế nhằm
kế thừa danh nghĩa của VNCH đại diện cho quốc gia Việt Nam.
Ngày 7-5-1975, một điện tín từ Bộ ngoại giao của Cộng hòa
Miền Nam Việt Nam đã gởi đến O.M.S, cùng lúc với các định
chế quốc tế khác, nội dung tóm lược như sau:
<em>"Chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thông báo đã kiểm
soát hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam. Chế độ cũ ở Sài Gòn đã
sụp đổ. Chính phủ Cách Mạng lâm thời là người duy nhứt
có thẩm quyền, thực sự đại diện dân chúng miền Nam, có
tính chính thống để đại diện miền Nam Việt Nam tại O.M.S
cũng như các định chế quốc tế khác."</em>
Việc "kế thừa" VNCH của CPCMLT tại các định chế quốc tế
không gặp khó khăn, chỉ đơn giản là việc "đổi tên nước",
tại UNESCO vào tháng 7 -1975, U.I.T vào tháng 2 năm 1976.
[vi] Theo thông lệ quốc tế, người ta thường xem việc một
quốc gia giữ yên lặng trước một động thái của một quốc
gia khác là không có ý kiến (hay mặc nhiên đồng thuận) về
động thái đó.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130418/truong-nhan-tuan-nhan-ngay-30-4-noi-ve-danh-nghia-chu-quyen-cua-quoc-gia-viet-nam),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét