Pages

Đỗ Kim Thêm - Hiến Pháp Cộng Hoà: Lý Thuyết của Immanuel Kant và Thực Tế tại Việt Nam (2)

<h2>Thực tế tại Việt Nam</h2>

Các khuyết điểm của Hiến pháp đã được thảo luận quá
nhiều để góp ý hay thỉnh nguyện, ở đây sẽ không bàn thêm
chi tiết các vấn đề quen thuộc này, mà chỉ nhìn lại trong
khuôn khổ lý thuyết của Kant với mục đích là để thảo
luận về thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.

<h2>Thực trạng</h2>

<h3>Không tự do </h3>

Việt nam hiện nay đang có tự do về mọi mặt, nhưng là một
loại tự do không luật lệ. Đúng hơn, Việt Nam có đủ luật
lệ, nhưng không áp dụng theo tinh thần của nhà nước pháp
quyền như hiến pháp đề cao, mà vi phạm nhân quyền là vấn
đề chính. Cụ thể nhất là Hiến pháp không phân biệt dân
quyền và nhân quyền, hai phạm trù cần áp dụng riêng biệt.
Hiến pháp công nhận nhân quyền như một ban phát của nhà
nước, không nằm trong ý nghĩa cao cả cuả nhân quyền, một
quyền tự nhiên nội tại, thành tựu văn minh của nhân loại
và có giá trị phổ quát. Hiến pháp công nhận tổng quát giá
trị nhân quyền, nhưng không tạo căn bản để tuân thủ, không
có một cơ chế tranh tụng khi vi phạm, không công nhận tố
quyền trực tiếp của nạn nhân để khởi động và không có
cơ quan theo dõi các vi phạm để cảnh báo khi cần thiết. Khái
niệm làm chủ tập thể làm thiệt haị cho công cuộc phát
triển kinh tế đất nước; đây là vi phạm nhân quyền nặng
nề nhất.

<h3>Không ràng buộc luật pháp </h3>

Dù Hiến pháp quy định là mọi hoạt động của Đảng phải
nằm trong khuổn khổ cuả Hiến pháp và luật pháp, nhưng không
đem lại ràng buộc pháp luật trong thực tế, một điều kiện
tạo hiệu lực cho luật hiến pháp. Vì không có luật pháp làm
cơ sở nên Đảng có quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt
đối nhưng không chịu trách nhiệm pháp luật: tất cả các
Cương lĩnh và Nghị quyết của Đảng đứng ngoài và đứng
trên luật pháp, mọị sinh hoạt nội bộ của Đảng không theo
nguyên tắc dân chủ và mọi kỷ luật Đảng dựa trên đạo
đức cách mạng và lương tâm tập thể. Hiển nhiên đây là
sự vi phạm nguyên tắc ràng buộc và không cần lý giải thêm.
Tạo ra một khuôn khổ pháp chế cho Đảng hoạt động và đề
ra mối quan hệ giữa Đảng trong vai trò lãnh đạo và chức
năng điều hành Nhà nước là một nhu cầu khách quan thời
đại.

<h3>Không bình đẳng </h3>

Kant giới hạn nguyên tắc bình đẳng trong phạm vi áp dụng
luật pháp và không đi sâu vào các lĩnh vực công bình cơ hội
và thể chế như John Rawls hay công bình cụ thể như Amartya Sen
phân tích. Vi phạm bình đẳng xảy ra trong trường hợp áp
dụng hoặc không áp dụng luật kinh tế.

Trường hợp không áp dụng luật doanh nghiệp nhà nước đang
bị phá sản mà không giải thể là thí dụ. Đây là một
nghịch lý trong luật cạnh tranh, vì doanh nghiệp tiếp tục
hoạt động thì chỉ duy trì khủng hoảng và kiềm hãm tăng
trưởng. Chính sách này thuộc về Đảng quyền, một lĩnh vực
nằm ngoài và trên sự tài phán của nhà nước pháp quyền.
Hậu quả là người vi phạm pháp luật mà cả nước không dám
minh danh để truy tố theo luật định, một thắng lợi cho
Đảng quyền nhằm bảo vệ người vi phạm, tư bản thân tộc
và các nhóm lợi ích.

Trường hợp áp dụng luật cho dành cho công nhân và nông dân
thì lại làm bất công trầm trọng hơn. Nông dân là thành phần
chủ yếu đóng góp và không được hưởng thành quả tương
xứng. Trở ngại chính là đất đai thuộc quyền sở hữu toàn
dân mà do nhà nước đại diện chủ sở hữu, một khái niệm
ngược với tinh thần tôn trọng quyền tư hữu. Chính sách công
nghiệp hoá, thành thị hoá và an ninh quốc phỏng không nhằm
bảo vệ tư lợi của nông dân. Các luật lệ chống lạm phát
và an ninh lương thực làm nông dân không bán được nông phẩm
theo đúng giá cạnh tranh và các biện pháp thu mua chỉ phục vụ
cho quyền lợi công ty nhà nước.

Việc thực tế nhất để đem lại công bình cho công nhân là
tăng lương tối thiểu và cải thiện các biện pháp an sinh xã
hội. Vì môi trường đầu tư đang bớt thu hút mà luật pháp
dành nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư ngoại quốc và quyền lợi
công nhân bị thua thiệt. Bất công sẽ kéo dài khi luật lao
động không là một giải pháp thích hợp. Cả hai trường hợp
trên là bằng chứng vi phạm nguyên tắc công bình theo lý
tưởng của Kant.

Vì không tuân thủ các nguyên tắc tự do, công bình và ràng
buộc theo chuẩn mực nên Hiến pháp không có giá trị về mặt
pháp lý. Do đó, theo Kant cũng có nghĩa là không có Hiến pháp
về mặt thực tế.

<h2>Nguyên nhân</h2>

Có nhiều lý giải về thực trạng vô luật pháp mà độc tôn
Đảng quyền, vi phạm thẩm quyền lập hiến của toàn dân và
thiếu kỹ năng lập pháp và lập quy của quốc hội là nguyên
nhân chính.

<h3>Độc tôn Đảng quyền </h3>

Theo Kant, Hiến pháp thể hiện quyền quyết định của người
dân về ý chí chung sống với chính quyền và có mục tiêu là
phụng sự hoà bình. Thực tế cho thấy tất cả các Hiến pháp
chỉ thể hiện ý muốn chính trị của Đảng, sao chép lại
những đường lối đấu tranh cho từng giai đoạn lịch sử
để dân chúng tuân thủ hơn là đề ra một khuôn mẩu quy phạm
chung cho xã hội. Điển hình là việc phát động các cuộc
đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ là kết quả của các Nghị
quyết của Đảng và không có phúc quyết của người dân theo
thủ tục hiến định. Người dân hoàn toàn không có cơ hội
bày tỏ chính kiến trong các Tuyên ngôn Độc Lập, Hiệp định
Genève và Paris như Hội nghị Diên Hồng, một trường hợp duy
nhất trong lịch sử Việt.

<h3>Vi phạm thẩm quyền lập hiến</h3>

Một mặt Hiến pháp xác định thẩm quyền lập hiến là chủ
quyền của nhân dân và nhưng mặt khác lại đề cao vai trò
tối thượng của Quốc hội, vì không phân định rõ phạm vi
nên đây là một nghịch lý. Tất cả quyền lực của Nhà
nước đều thuộc về nhân dân và Nhà nước bảo đảm và
không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân
dân, nhưng người dân không thể thực hiện quyền này trong
thực tế, vì dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua
Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Quốc hội là cơ quan duy
nhất có quyền lập hiến và lập pháp và chỉ có Quốc hội
mới quyền sửa đổi Hiến pháp. Hiến pháp đề cao chủ quyền
cuả nhân dân, nhưng không minh thị thẩm quyền phúc quyết
hiến pháp, một sự thiếu nhất quán trong quy định quyền lực
của nhân dân. Hiến pháp mặc nhiên không phát huy đúng mức
quyền làm chủ của nhân dân vì cho phép Quốc hội không thực
hiện trưng cầu dân ý, một lổi hệ thống.

<h3>Thiếu kỹ năng lập pháp và lập quy</h3>

Sự hổn loạn của việc áp dụng luật pháp còn đến từ kỹ
năng lập pháp và lập quy. Trên lý thuyết, nguyên tắc quyền
lực nhà nước phải được thống nhất và do phân công và
phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. Trong thực tế, mức vi
phạm của các văn bản quy phạm luật pháp đến mức độ báo
động vì các cơ quan ban hành không có kỹ năng và cơ quan kiễm
tra cũng không thể hoàn thành chức năng. Nguyên tắc phân công
nội bộ của Đảng là quan trọng nhất phải tuân thủ nên
kiểm soát thẩm quyền lập hiến, lập pháp và lập quy không
được đặt ra đúng mức. Nhiều Nghị Định quy định các
quyền tự do hiến định của người dân mà không dựa vào
Hiến pháp, chỉ căn cứ vào Luật Tổ chức Chính phủ để ban
hành, một vi phạm trầm trọng về luật thủ tục. Việt Nam
chưa có Toà Bảo Hiến để xét vấn đề vi hiến hay vi luật
của các quyết định hành chính trong khi Toà án Hành chính hay
Toà án Nhân dân lại không có thẩm quyền. Quyền giải thích
luật pháp thuộc về Uỷ ban Thường Vụ Quốc hội, một cơ
chế kiểm tra nhưng không bảo đảm tính thống nhất cuả hệ
thống luật pháp và một số Đại Biểu phải dồn sức trao
dồi kỹ năng viết, đọc và chất vấn.

Kant giải thích khi hình thái cai trị dựa trên lịch sử và
chuyên chính chính trị không phải là cai trị bằng pháp luật.
Tại Việt Nam mối quan hệ trực tiếp giữa cương lĩnh chính
trị và soạn thảo hiến pháp là thí dụ. Hiến pháp không do
dân phúc quyết nên không thể hiện thẩm quyền lập hiến và
chính quyền cuỡng chế luật hiến pháp không thể hiện tinh
thần trọng pháp.

Tóm lại, do những nguyên nhân này mà tìm giải pháp cho việc
sửa đổi Hiến pháp là vấn đề, nhưng cụ thể nhất là phân
biệt mục tiêu chính trị và trách nhiệm luật pháp của
Đảng, trả lại thẩm quyền tối thượng lập hiến cho toàn
dân, nâng cao kỹ năng lập pháp của quốc hội và thực thi tinh
thần trọng pháp của chính quyền.

<h2>Giải pháp</h2>

<h3>Các giải pháp hiện nay</h3>

Giải pháp thứ nhất cho là tu chỉnh Hiến pháp phải phù hợp
với nhu cầu tự hoàn thiện của cơ chế. Do đó, cần duy trì
Đảng quyền để cho mọi sinh hoạt chính tri sẽ tuần tự
chuyển hoá trong an hoà và việc thay đổi triệt để bằng cách
soạn thảo Hiến pháp mới là không cần thiết. Điều kiện
cần có là nâng cao ý thức về trọng pháp qua giáo dục và
khái niệm về NNPQXHCH cần được triển khai sâu rộng hơn.
Những người tin rằng Đảng sẽ đem lại giải pháp cho vấn
đề Hiến pháp nên họ ủng hộ và góp ý trong khuôn khổ mà
Đảng đề xuất. Thành tựu tiệm tiến là một triển vọng
khả thi.

Giải pháp thứ hai chủ trương đột phá hơn. Tu chỉnh không
thể cải thiện các lổi hệ thống vì không có tác dụng
triệt để và lâu dài mà du nhập những mô hình ngoại lai để
thay thế là giải pháp. Nguyên tắc tam quyền phân lập, xác
định vai trò Đảng quyền trong hệ thống chinh trị đa nguyên
và đa đảng và phát huy tinh thần thượng tôn luật pháp là
những biện pháp cụ thể. Các nhà đấu tranh cho dân chủ trong
nước và hải ngoại cổ vũ cho giải pháp này. Họ tin rằng
Đảng là vấn đề mà mô hình Hiến pháp các nước phương Tây
là giải pháp, nhưng họ không đủ khả năng huy động sự
đồng thuận của Đảng để cùng thực hiện giải pháp này.

Dù tiệm tiến hay đột phá, tu chỉnh hay soạn mới, cả hai
giải pháp đều tùy thuộc vào thiện chí của ba tác nhân chủ
yếu là chính quyền, dân chúng và học giới, mà hiện nay thì
không ai tạo được niềm tin cho triển vọng cải cách: thực
tâm sửa đổi của Đảng, tích cực tham gia của toàn dân và
đóng góp hiệu năng của luật giới là vấn đề.

Khi dân góp ý để sửa đổi Hiến pháp trong khuôn khổ của
Đảng, thì những ý kiến táo bạo trong vấn đề Đảng quyền
lại không được Đảng phản biện lập luận dựa trên khái
niệm pháp luật mà xử lý dựa theo quyền lực chuyên chính và
suy thoái đạo đức. Lập luận này không thuyết phục khi tranh
luận về luật pháp, vì hai phạm trù này khác nhau cần phân
biệt. Khi dân thỉnh nguyện ngoài hệ thống, thiểu số này
thể hiện tinh thần can đảm đáng khâm phục, nhưng lại bị
phê bình là không phản ánh thực thi dân quyền là phải đòi
lại quyền mình đã bị tướt đoạt và không thể xác minh
được thẩm quyền đại diện, vì không có thống kê chính
xác. Chứng minh khoa học về nhu cầu thay đối Hiến pháp là
nhiệm vụ của học giới, nhưng lại là vấn đề nhạy cảm
chính trị và họ không được phép tiến hành. Dù thành tâm
đóng góp của học giới là có thực, nhưng hiệu năng bị nghi
ngờ. Vì Đảng không đào tạo được những nhà luật học
tầm vóc quốc gia và quốc tế, nên thoả mãn nhu cầu này hiện
nay là điều mơ ước.

<h3>Giải pháp của Kant</h3>

Lý thuyết của Kant có đem lại giải pháp nào không? Kant không
có lập luận ủng hộ cho độc quyền Đảng trị và nghiêm
khắc khi cho là Hiến pháp phải theo thể chế cộng hoà, không
thể khác hơn. Hiến pháp không có giá trị khi có Đảng đứng
trên Hiến pháp. Khi Hiến pháp không có giá trị pháp lý thì
cũng đồng nghĩa là không có Hiến pháp trong thực tế. Suy
luận theo quan điểm chặt chẻ này thì Việt Nam trong suốt
thời chiến cũng như bình đã không có Hiến pháp mà chỉ có
Đảng quyền cai trị. Việc sửa đổi Hiến pháp trong khuôn
khổ Đảng soi sáng là tiếp tục duy trì tình trạng vô luật
pháp. Do đó, một Hiến pháp mới theo thể chế cộng hoà cho
Việt Nam sẽ phù hợp với suy luận của Kant.

Triển vọng này sẽ không mở ra vì Đảng sẽ chống đối.
Một là, hoàn cảnh của Việt Nam với thí dụ về truyền
thống đấu tranh Cách mạng, liên tục của lịch sử và thành
tích Đổi Mới. Hai là, Hiến pháp với mô hình theo các nước
phương Tây sẽ không bảo đảm được sự vận hành. Đề cao
giá trị văn hoá Á Đông trong sinh hoạt chính trị là một đề
tài gây nhiều tranh luận và không đem lại một giải pháp,
nhưng lập luận chính cho rằng trình độ dân trí là không phù
hợp. Đảng sẽ không mở lối cho lý thuyết của Kant làm thành
một lộ trình khả thi như một triển vọng khởi đầu.

<h3>Chúng ta đang ở đâu? </h3>

Suốt một quá trình dài, chúng ta chưa có luật Hiến pháp đúng
nghĩa; người dân không còn được lên tiếng để quyết định
vận mệnh đất nước. Hiện nay chúng ta đang muốn thoát khỏi
tình trạng tự do vô luật lệ và tự đặt mình trong khuôn
khổ của luật Hiến pháp để giải quyết các vấn đề chung
sống. Chúng ta hoàn toàn không có một khế ước nguyên thủy
theo ý nghĩa cao đẹp nhất của một contrarius originarius trong lý
thuyết luật học, một vấn đề nền tảng cho Hiến pháp. Khi
khế ước nguyên thuỷ là một vấn đề ưu tiên, thì các
nguyên tắc hiến định trở thành vấn đề kỷ thuật có thể
sẽ được giải quyết sau.

Hiện nay, khái niệm NNPQXHCH chưa đủ sức thuyết phục, khái
niệm về chuyên chính vô sản đã hết hào quang; khái niệm
thế lực phản động cũng không phù hợp trào lưu dân chủ
hoá; những khái niệm về đối lập, quyền tư hữu và tự do
báo chí cũng không được chấp nhận. Tất cả các khó khăn
về khái niệm sẽ được làm lại trên một căn bản mới khi
một khế ước nguyên thủy hình thành. Đó là điểm mà ý dân
và ý Đảng còn có thể gặp nhau trong một giới hạn nhất
định. Khi học giới biết được căn bản này thì họ sẽ
đóng góp hữu hiệu hơn để giải quyết vần đề khái niệm
hiến định.

Ý Đảng? Chuyện dể hiểu vì đã thể hiện rõ. Không một
Đảng cầm quyền nào, kể cả tại các nước dân chủ, lại
muốn tự bỏ điạ vị cai trị. Ở Việt Nam có khác hơn, vì
theo quan điểm lịch sử mà Đảng muốn cầm quyền toàn diện
triệt để và muôn đời, trong khi Kant cho là một chế độ
chính trị chỉ đem lại một giải pháp tạm thời cho các vấn
đề xã hội. Khi uy lực của luật pháp loan toả trong xã hội
và ý thức trọng pháp của dân chúng lên cao, đó là cơ sở
để làm ổn định cho việc phát triển chính trị dân chủ.

Ý dân? Không ai có khả năng tri thức để trả lời câu hỏi
này thoả đáng. Đảng tự hào thu phục nhân tâm khi dựa vào
thành tích đấu tranh giải phóng và Đổi Mới, nhưng hiện nay
Đảng không chứng minh được về niềm tin của dân vào sự
lãnh đạo của Đảng với phương pháp thăm dò dư luận như
các nước phương Tây. Người bất đồng chính kiến thấy mình
là thiểu số; bi quan này thiếu cơ sở, khi ý thức về bất
công xã hội càng ngày càng nhiều, mà chính họ không thể xác
định được mức độ. Đã đến lúc ý kiến của toàn dân
trước vấn đề hệ trọng của đất nước cần được tìm
hiểu, luận chứng và trình bày công khai với các phương pháp
khoa học khả tín; một chuyện dễ làm, xảy ra hàng tuần và
hằng tháng tại các nước phương Tây, nhưng chưa hề có tại
Việt Nam. Tuân theo sự chỉ đạo của Đảng nên đã có một
số góp ý sửa đổi Hiến pháp trong sự dè dặt thường lệ,
trong khi đó đã có một số khác đang kiến nghị ngoài sự
chỉ đạo của Đảng với tất cả thiện chí. Cả hai đóng
góp này rất đáng được trân trọng và gây tiếng vang. Hiển
nhiên cả hai luồng ý kiến này cũng không phải là của tất
cả 90 triệu dân Việt, vì nếu có là đa số thì cũng cần
được kiểm chứng khách quan. Nhưng cả hai loại góp ý này
tiếp tục chấp nhận duy trì nguyên trạng vô luật pháp và
không là khởi điểm cho tiến trình cải cách.

<h3>Chúng ta phải làm gì? </h3>

Nếu chúng ta đồng ý với Kant và nghiêm khắc với chính mình
thì chúng ta phải nhận ra rằng đã đến lúc đất nước cần
có một khế uớc nguyên thủy làm nền tảng cho sự chung sống,
một nguyên ủy cho mọi chuyển động tương lai của xã hội.
Triển vọng duy nhất mở ra cho Việt Nam hôm nay phải là một
cuộc trưng cầu dân ý theo phương cách khách quan để xác
định lòng dân. Chúng ta muốn đặt mình trong khuôn khổ mới
của luật pháp, một tiền đề cho mô hình tương lai của Hiến
pháp, kết quả này phải tùy thuộc vào trưng cầu dân ý. Ở
đây không có thể bàn sâu chi tiết về mô hình cụ thể mà
chỉ đề cập về điều kiện khả thi cần có, đó là thiện
chí của Đảng và hợp tác của dân chúng.

Thiện chí của Đảng được suy đoán nhiều, nhưng không ai có
thể biết chính xác các tác động đang chuyển biến. Vũ khí
của Đảng hôm nay không còn là bạo lực mà là lập luận của
lý trí dựa trên khái niệm pháp luật để thuyết phục, một
hình thức tự khai sáng và vận dụng mà Kant đề cao. Đảng
phải tự diễn biến hoà bình trong bối cảnh mới, tạo thu hút
hơn bằng cách chấp nhận dân chủ là một trò chơi mới và
đồng ý với kết quả luật chơi khi tham dự. Đảng cần lập
luận và thuyết phục dân chúng trên cơ sở hợp tác và đối
thoại. Người đầy tớ của nhân dân, đại biểu trung thành
của giai cấp, thành tích trong chiến tranh và Đổi Mới không
là khái niệm pháp luật đem đến sự đồng thuận về hình
thức cai trị như Kant đòi hỏi, nên không tạo ra chính danh cho
một nhà nước pháp quyền. Quan trọng hơn, khả năng trong quá
khứ không bảo chứng cho Đảng có thể lãnh đạo hữu hiệu
hơn cho tương lai của đất nước. Đảng và dân chúng, ai là
vấn đề và ai là giải pháp, rồi ai sẽ thắng ai trong các
lập luận này, không ai biết được, nhưng như Kant đề xuất,
lý trí là mệnh lệnh để cả hai cùng tuân thủ. Nếu dân
chúng là vấn đề mà Đảng đem lại giải pháp, thì Đảng sẽ
làm cho chính danh thêm ngời sáng. Nhưng thiện chí của Đảng
đang bị nghi ngờ vì góp ý là một trò chơi nguy hiểm cho
người tham dự, lý do dể hiểu là Đảng không áp dụng tiêu
chuẩn khách quan để phân biệt giữa thiện chí đóng góp và
ác ý nói xấu chế độ. Tiếp tục sử dụng bạo lực để
trấn áp người bất đồng chính kiến thì Đảng sẽ làm tình
hình tệ hại hơn mà Liên Xô, Đông Âu và khối Á Rập là bài
học.

Hợp tác của dân chúng đòi hỏi có ý thức về giá trị sử
dụng thẩm quyền lập hiến. Dân chúng phải kể đến đầu
tiên ở đây là cộng đồng do mạng lưới thông tin hiện đại
nối kết, tuy là thiểu số trong thế giới ảo nhưng họ là
tác nhân quan trọng làm gia tăng kiến thức và tạo nên một
hệ thống thông tin trung thực và nhanh chóng hơn cho xã hội
đang bị bưng bit sự thật mà đa số thầm lặng và mất niềm
tin đang cần đến. Đa số thờ ơ có lý do chính đáng: cơm áo
là thực tế quan trọng nhất; quyền lực, thân tộc và tiền
là phương tiện tốt nhất để giải quyết tranh chấp; nếu tin
tức và luật pháp không cần thiết thì việc sử dụng thẩm
quyền lập hiến không thể đặt ra. Cảm nhận giá trị này
đến từ một nền hệ thống thông tin tự do và giáo dục
trọng pháp; nó sẽ mang lại kiến thức và trở thành ý thức.
Ý thức giúp nâng cao khả năng phán đoán về thẩm quyền lập
hiến. Giáo dục ngày càng lạc lối và tác động tích cực
thông tin cho mọi sự chuyển hoá xã hội khó kiểm chứng; tình
huống này không cho phép lạc quan về triển vọng hợp tác của
dân chúng.

Ngược lại, một thực tế khác đang xảy ra khắp mọi nơi
trên đất nước: các cuộc biểu tình của dân oan đòi công
lý, bảo vệ lãnh thổ, đòi làm sáng tỏ những cái chết do
bạo lực công quyền trở thành bức thiết hơn bao giờ hết.
Như vậy, ý thức về luật pháp đến từ bức xúc trước các
bất công trước mắt này. Đó là những tín hiệu khởi đầu
cho một sự bất ổn thường trực mà bạo lực chính quyền
làm cho động loạn trầm trọng hơn. Phản ứng trước bất
công là cần nhưng chưa đủ để chuyển biến thành ý thức
của toàn xã hội về vai trò luật hiến pháp và thẩm quyền
lập hiến. Ước vọng của đa số thầm lặng về một cuộc
Đối Mới khác toàn diện và triệt để hơn đang dâng cao,
nhưng cũng khó xác định chiều hướng và tốc độ. Huy động
toàn dân tham gia vào cuộc trưng cầu dân ý càng khó khăn hơn
vì cần quá nhiều yếu tố khác. Những chuyển biến gần đây
cho thấy ý thức về vai trò luật Hiến pháp thay đổi nhiều so
với trước đây, mà kết quả góp ý và thỉnh nguyện là thí
dụ. Dĩ nhiên, khi dân chúng ý thức rằng Đảng là vấn đề
mà dân chúng là giải pháp thì trưng cầu dân ý là một cơ
hội lịch sử để toàn dân tham gia đem lại giải pháp này.
Trong chiều hướng này, chúng ta được phép hy vọng là mức
độ tham gia sẽ cao hơn bao giờ hết.

<h2>Kết luận</h2>

Lý thuyết của Kant đề cao ba nguyên tắc tự do, ràng buộc
pháp luật và bình đẳng của Hiến pháp cộng hoà. Đây là
một kết ước giữa người dân vả chính quyền để theo
đuổi một lý tưởng là chung sống trong an hoà. Sư đồng
thuận về hình thức cai trị phải dựa trên các khái niệm
pháp luật, một cơ sở lập luận cần có của người dân và
chính quyền và cả hai cùng tuân thủ. Lịch sử Việt Nam cận
đại cho thấy dân Việt chưa bao giờ hành sử thẩm quyền lập
hiến. Để bước vào thời kỳ mới cho đất nước thì một
cuộc trưng cầu dân ý tìm sự đống thuận theo ý nghĩa khế
uớc nguyên thủy cần được lập ra.

Đề xuất trưng cầu dân ý không hoàn toàn mới lạ, mà thực
ra đã có nhiều kêu gọi tương tự trước đây của các nhà
đấu tranh cho dân chủ trong nước và hải ngoại. Họ chứng
minh là Đảng tước đoạt quyền dân tộc tự quyết và kêu
gọi Đảng thức tỉnh về lý trí và đạo đức. Ở đây đề
xuất dựạ vào lý thuyết luật Hiến pháp của Kant, đó là
sự khác biệt, nhưng dể bị phê phán là hoang tưởng; một là
lý thuyết của Kant hình thành trong một điều kiện lịch sử
và xã hội khác biệt, hai là Đảng muốn tiếp tục nằm quyền
mà không cần lý thuyết của Kant và không muốn có điều kiện
của dân. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận học thuyết của Kant
có giá trị phổ quát thì đề xuất này thực tế hơn bao giờ
hết. Kant để lại cho chúng ta một phương cách hành động
với tính thời sự và cẩm nang. Nhận chân các giá trị này và
nổ lực đòi lại thẩm quyền đã mất để thực thi là vấn
đề chọn lưạ hành động của toàn dân.

Dù nâng cao tầm quan trọng của giải pháp trưng cần dân ý,
tiểu luận này còn nhiều thiếu sót, vì không đưa ra các mô
hình cụ thể để thực thi, không bàn đến mối quan hệ giữa
trưng cầu dân ý và mô hình hiến pháp và không đi vào chi
tiết của các góp ý và thỉnh nguyện để so sánh. Đóng góp
này chỉ là ý tưởng khiêm tốn ban đầu để thảo luận mà
dĩ nhiên lý thuyết của Kant không là tất cả cho thực tế
Việt Nam.

__________________

* Dr. Đỗ Kim Thêm, L. L. M, M. A

Tiểu luận Luật quốc tế về cạnh tranh và Lý thuyết pháp
luật:
- The Perspectives of the International Cooperation in Competition Law and
Policy, Journal of Competition Law (ZWeR) Issue 3, September 2009, 289-234;
- A Bad Problem Getting Worse: Regional Trade Agreements and the Future of
the Multilateral Framework on Competition Policy and Law, Journal of
Competition Law (ZWeR) Issue 4, December 2010, 353-377;
- Developing Countries and the Possible Future WTO Framework on Competition
Law and Policy: A Fresh Look at a Current Controversy, Journal of Competition
Law(ZWeR) Issue 2 Juni 2011,133-160;
- Competition Law and Policy and Economic Development in Development
Countries, Manchester Journal of International Economic Law Volume 8, Issue
1: 18-35, 2011;
- Idee der Gerechtigkeit und öffentlicher Vernunftgebrauch in einer
demokratischen Gesellschaft, Rechtstheorie, 43 Band, Heft 2, 2012, 241-249;
Sách sẽ xuất bản:
- Global Governance of Competition: Key Issues (Peter Lang, Frankfurt am
Main).



***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130407/do-kim-them-hien-phap-cong-hoa-ly-thuyet-cua-immanuel-kant-va-thuc-te-tai-viet-na-0),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét