<strong>Lưu Hà Sĩ Tâm</strong>
Khi đất nước lâm vào thời kỳ khó khăn và khủng hoảng kéo
dài vài chục năm qua, dẫn đến tụt hậu quá xa về mọi mặt
so với bè bạn năm châu, nhân dân ta rất chính đáng khi đặt
câu hỏi rất tha thiết: Nhân tài đất Việt ở đâu? Trí thức
Việt ở đâu?
Trước khi vào câu chuyện bàn luận này, xin được nhìn nhận
vấn đề với việc không nên tuyệt đối hóa một vài khái
niệm ở đây.
<em>"Trí thức"</em> có thể hiểu đơn giản là người làm
việc trí óc là chủ yếu trong chuyên môn của họ, hoặc muốn
hiểu sát nghĩa hơn, rằng họ còn cần phải thể hiện trách
nhiệm xã hội nữa (bằng chính kiến và hành động).
<em>"Vô hiệu hóa đóng góp cho xã hội"</em> theo hướng tích
cực, là một quá trình diễn ra với đối tượng (từng cá
nhân, số đông, tổ chức…), làm suy giảm hiệu quả đóng góp
cho xã hội của đối tượng, với các mức độ khác nhau ở
từng thời điểm, gọi là vô hiệu hóa từng phần. Thời
điểm tồi tệ là vô hiệu hóa hoàn toàn, nghĩa là đối
tượng không còn tác dụng gì trong phạm vi chức năng đối
với xã hội. Lại có thời điểm tồi tệ hơn nữa, khi có
hiện tượng phản hiệu quả, làm cho đối tượng trở thành
gây hại cho xã hội.
"<em>Nhân tài</em>" được hiểu đơn giản là những người
rất có năng lực (so với những người khác cùng hoàn cảnh)
cho việc đóng góp cho xã hội.
Chúng ta dễ dàng đồng ý với nhau rằng, thời phong kiến, nhân
tài chỉ có "đất phát" (môi trường tốt cho phát huy) khi
gặp được "minh quân". Minh quân cao nhất thì đó là vua
sáng suốt, nhưng thấp hơn (và bỏ qua ràng buộc bởi ngôn từ,
để dùng cách nói dân dã) thì đó còn nói đến các quan với
các phẩm trật khác nhau (các cụ ta khi xưa ít dùng từ "minh
quan"). Minh quân biết "dụng nhân như dụng mộc", nôm na là
thợ mộc biết dùng loại gỗ nào vào việc gì cho tốt, thì
minh quân biết dùng người có năng lực ra sao vào những công
việc nào cho ích lợi nhất. Nhưng minh quân thực sự phải là
người biết tối thiểu hóa các ràng buộc với thuộc cấp,
để cho họ có không gian tự do cần thiết về trí tuệ và
hành động, để kích thích tiềm năng sáng tạo của họ trong
phụng sự xã tắc. Minh quân hiển nhiên phải biết cách "đãi
hiền", không nhất thiết phải luôn ban phát bổng lộc cho
người tài, mà tối thiểu là phải "đãi bởi tinh thần",
nghĩa là xự xử công minh: người làm tốt phải được đánh
giá cao hơn, trân trọng hơn so với những kẻ bất tài, làm thì
tồi tệ, nhưng dẻo mép dối trên lừa dưới. Phải có minh
quân ở tầm cao thì mới phát sinh nhiều minh quân ở tầm thấp
hơn, và nhờ thế mà xã tắc mới có cơ thịnh vượng.
Ngày nay ở nước ta thì sao? Vì rằng Đảng thường nói đến
lãnh đạo tập thể, thì đối với quốc gia, vai trò "quân"
giờ đây chính là Đảng. Đảng ép buộc thiên hạ ngày xưa
phải "trung quân" thì giờ đây, nhất là lực lượng vũ
trang, phải "trung với Đảng". Mọi phương tiện tuyên
truyền của Đảng trước sau kiên định ca ngợi tầm cao của
tính "minh", tức tầm cao sáng suốt của Đảng. Tầm cao sáng
suốt này thể hiện ở đâu? Trước hết, thể hiện ở Cương
lĩnh của Đảng, và đang được cụ thể hóa trong Dự thảo
sửa đổi Hiến pháp 1992. Theo đó, Đảng chọn sẵn cho dân
tộc ta con đường phát triển, mà Đảng khẳng định đó là
con đường duy nhất đúng. Đó là con đường xây dựng xã hội
XHCN trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Câu chuyện về sai lầm của con đường này, đã được nhiều
người bàn đến, và sẽ còn được chúng ta bàn đến vào
nhiều dịp khác nữa.
Nhưng trong câu chuyện này, chúng ta chỉ bàn đến việc Đảng
có tầm cao sáng suốt hay không, trong việc sử dụng và phát huy
nhân tài, mà trước hết là đối với một lực lượng lớn
nhân tài của đất nước thuộc tầng lớp trí thức của chúng
ta.
Đảng tìm cách Hiến định sự lãnh đạo duy nhất và toàn
diện của Đảng đối với dân tộc, đồng nghĩa với việc
những trí thức của đất nước cần phải hội tụ trong
Đảng mới được tin dùng và phát huy tốt. Giá như lý luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin là đúng, hơn nữa lại được Đảng
"sáng tạo" thêm, thể hiện trong Cương lĩnh và Hiến pháp
1992, thì việc trí thức của đất nước hội tụ trong Đảng
là đúng đắn, và đó là hồng phúc của dân tộc. Nhưng thật
bất hạnh cho dân tộc ta, thực tiễn phát triển trên phạm vi
toàn cầu lại đã và đang chối bỏ lý luận của chủ nghĩa
này. Tại nước ta, gần 40 năm qua cho thấy rõ, Đảng vẫn đang
lúng túng hoang mang lèo lái con tàu dân tộc chạy vật vờ, lang
thang vô định trên mặt biển bao la không thấy bến bờ. Nói
riêng, tầng lớp trí thức của đất nước phải chịu vô vàn
nghịch lý và bất công, đến mức tủi hổ với bạn bè quốc
tế. Là người trí thức, ham muốn lớn nhất của họ là
được đóng góp nhiều nhất cho xã hội trong phạm vi năng lực
chuyên môn và nhận thức xã hội của mình. Vậy mà, cho dù
Đảng có muốn hay không, thì trong mấy chục năm qua trên đất
nước ta, đã và đang lặng lẽ diễn ra một quá trình rất
tồi tệ, làm giảm thiểu hiệu quả đóng góp cho xã hội của
giới trí thức. Có thể gọi đó là <em>quá trình vô hiệu hóa
đóng góp cho xã hội</em>, có tính quy luật, tác động vào
tầng lớp trí thức của đất nước.
Trong điều kiện tồi tệ này, những người thực sự là trí
thức có tài, dù ngoài Đảng hay còn trong Đảng, tỏ rõ chính
kiến và không chấp nhận lý luận và con đường Đảng chọn,
đứng về phía bảo vệ chân lý, thì hiển nhiên bị cô lập
nhanh chóng, tiến tới bị quy chụp và đàn áp. <em>Quá trình vô
hiệu hóa</em> diễn ra rất nhanh và khốc liệt đối với các
nhân tài trí thức này, đóng góp của họ cho xã hội bị phong
tỏa rất nhanh và rất tàn độc, nếu nhìn nhận theo góc độ
nhân văn. Trước đây, luật sư Nguyễn Mạnh Tường với hai
bằng tiến sĩ từ Pháp về, triết gia lừng danh Trần Đức
Thảo từ Pháp về, nhà văn hóa Nguyễn Hữu Đang… Rồi gần
đây, các tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ, Nguyễn Thanh Giang, Cù Huy Hà
Vũ… là các ví dụ điển hình cho các trí thức này. Một số
nhân tài trí thức, một mặt vẫn khó tránh khỏi việc trở
thành nạn nhân của <em>quá trình vô hiệu hóa</em> đóng góp cho
xã hội nói trên, nhưng mặt khác họ lại đủ tài năng và có
điều kiện để đóng góp cho xã hội theo một kênh cơ chế
khác, đó là cơ chế vừa hợp tác, vừa đấu tranh cho quyền
con người, cho hình thành một xã hội dân sự và dân chủ hóa
đất nước. Xin tạm nêu các ví dụ điển hình như các giáo
sư Hoàng Tụy, Hoàng Xuân Phú, Chu Hảo, Tương Lai, Nguyễn Huệ
Chi, Nguyễn Thế Hùng, nhà giáo Phạm Toàn….
Cho dù đã từng bị tù đày, quản chế, sách nhiễu… hay
không, tất cả những nhân tài trí thức nói trên đều là
những viên ngọc quý của đất nước. Họ có tài năng, tâm
huyết, và cả dũng khí nữa, để âm thầm đóng góp cho xã
hội theo hướng tích cực, với hiệu quả đóng góp rất lớn
lao, thậm chí ngay cả khi bị giam cầm trong tù ngục. Họ chính
là những trí thức thật sự đúng nghĩa, bên cạnh năng lực
chuyên môn cao còn có trách nhiệm rất cao đối với xã hội
thông qua chính kiến và hành động cụ thể của mình, để
cải biến xã hội theo hướng tiến bộ.
Một lực lượng trí thức đáng quý khác trong hai chục năm qua
là các trí thức từ nước ngoài, vốn là Việt kiều hoặc
đang sống và làm việc ở nước ngoài, đau đáu lo nghĩ về
quê hương đất nước. Các trí thức này đã qua các kênh khác
nhau, góp bàn nhiều ý kiến tư vấn, phản biện rất có giá
trị cho đất nước, hoặc về nước trực tiếp giảng dạy hay
hoạt động khoa học công nghệ đóng góp cho quê hương. Họ
kinh ngạc khi Đảng ngạo mạn và phớt lờ mọi ý kiến đóng
góp tư vấn của họ, nếu như khác ý của Đảng. Đặc biệt
là họ khó có thể chấp nhận cơ chế làm việc của hệ
thống do Đảng thiết lập nên. Có những trường hợp đã
từng bị an ninh sách nhiễu, như trường hợp GS Nguyễn Đăng
Hưng từ Bỉ về nước giảng dạy sau đại học và hoạt
động khoa học công nghệ... Cho nên đã diễn ra một sự thật
cay đắng, là <em>quy luật vô hiệu hóa đóng góp cho xã
hội</em> cũng đã lạnh lùng tác động lên các trí thức từ
nước ngoài, những trí thức mà đất nước rất cần trân
trọng trong lúc khó khăn này, khiến cho họ ngày càng nản lòng.
Một lực lượng đông đảo các trí thức, lựa chọn đi theo
Đảng và làm việc trong hệ thống chính trị do Đảng lập
nên, thì trên thực tế đã rơi vào một số trường hợp
dưới đây.
Một là, trường hợp cơ hội. Những nhân tài trí thức nhận
biết được sai lầm của lý luận và con đường dẫn dắt
của Đảng, nhưng họ buộc phải chấp nhận để tồn tại và
phát triển. Những người đó sẽ làm việc theo cách thức cơ
hội, mặc dù ban đầu họ không muốn thế. Có cơ hội tốt
bên cạnh các cơ hội xấu. Kết quả của cơ hội, đối với
rất nhiều trí thức, có thể đơn giản chỉ là công việc
nhàn hạ và cuộc sống ấm thân, hay là thỏa mãn nhu cầu
chuyên môn thuần túy. Nhưng đối với nhiều trí thức, kết
quả của cơ hội được thúc đẩy lên, phải là có được
vị trí quyền lực và giàu có. Nhưng hiệu quả đóng góp cho
xã hội của những trí thức làm việc kiểu cơ hội như vậy
bị hạn chế rất nhiều. Nhiều khi công việc của họ nghiêng
về phía gây hại cho xã hội, khi họ chỉ nhìn thấy lợi ích
cá nhân hay lợi ích nhóm, mà quên đi lợi ích quốc gia.Ví dụ
điển hình là Dự án Bauxite Tây Nguyên, đã và đang trở thành
sản phẩm tai họa của công việc do các vị trí thức kiểu
này thực hiện. Khi cách làm việc kiểu cơ hội diễn ra thành
thói quen, họ dễ đánh mất mình và nhiễm căn bệnh gian dối
ngày càng nặng, trong chuyên môn cũng như trong ứng xử xã hội.
<em>Quá trình vô hiệu hóa đóng góp cho xã hội</em> đối với
các trí thức này, mặc nhiên diễn ra, lặng lẽ nhưng không kém
phần khốc liệt và xã hội phải gánh chịu thiệt thòi.
Hai là, trường hợp phục tùng. Những trí thức không có nhu
cầu hiểu ở mức độ cần thiết về tính đúng sai của lý
luận và con đường đang theo. Họ sẽ làm việc chủ yếu theo
cách thức phục tùng. Một khi đã làm việc kiểu phục tùng,
tính sáng tạo bị hạn chế rất nhiều, hiệu quả làm việc
luôn bị hạn chế. Những trí thức đó cho dù không quan tâm
nhiều, nhưng trên thực tế là họ bị hạn chế nhiều hiệu
quả đóng góp cho xã hội. Khi cấp trên không đủ trí tuệ và
giao việc không đúng cho anh, anh chỉ biết phục tùng mà không
có năng lực điều chỉnh. Kết quả thu được khi đó là rất
tồi tệ, và anh là tội đồ trước tiên, khi cấp trên rũ bỏ
trách nhiệm. Ví dụ điển hình cho các trí thức thuộc trường
hợp này các luật sư, thẩm phán... làm công việc xử các án
bỏ túi, xử oan sai với các đối tượng dân chúng, hay trường
hợp các nhà báo bút nô tại các tòa báo "lề phải" cũng
vậy. Theo thời gian, <em>quá trình vô hiệu hóa đóng góp cho xã
hội</em> đã và đang diễn ra, tác động theo hướng hạn chế
hiệu quả, hoặc phản hiệu quả (có tác dụng gây hại) của
những trí thức này đối với xã hội.
Ba là, trường hợp cuồng tín. Những trí thức đã dành nhiều
thời gian và trí lực cho việc tìm hiểu hay nghiên cứu về lý
luận đang theo, và tin rằng lý luận và con đường đi là đúng
đắn. Những người đó không đủ năng lực trí tuệ, để
hiểu rằng lý luận có quá nhiều sai lầm nên lý luận ấy đã
và đang bị thực tiễn đào thải. Những người đó sẽ làm
việc theo cách thức không chỉ phục tùng mà còn cuồng tín. Khi
đã cuồng tín, họ có xu hướng bóp méo thực tiễn và lý
luận để thỏa mãn niềm tin của mình, bảo thủ đến mức
độ sẵn sàng ngụy biện chày cối đủ kiểu, thậm chí vi
phạm nhân cách, để chứng minh sự kiên định với chủ nghĩa.
Các trí thức này được Đảng tin dùng. Vì thế, ví dụ về
trường hợp này chính là các vị trí thức trong Bộ Chính
trị, trong Ủy viên Trung ương, trong hệ thống học viện chính
trị của Đảng… Người trí thức mà làm việc kiểu phục
tùng cuồng tín cho hệ thống luận thuyết sai lầm, thì kết
quả công việc của người đó đối với xã hội (theo hướng
tích cực) mà đạt được ở mức vô thưởng vô phạt, thì
cũng đã là rất may mắn. Trong rất nhiều trường hợp, kết
quả công việc của họ đối với xã hội có tính chất tàn
phá nhiều hơn là có tính chất xây dựng. Vì vậy, những trí
thức trong trường hợp này, dường như là rất có đất để
phát huy, nhưng trớ trêu thay, họ không thể ngờ rằng họ vẫn
không thể tránh khỏi là nạn nhân của <em>quy luật vô hiệu
hóa đóng góp cho xã hội</em> theo hướng tích cực.
Sự phân định ba trường hợp nói trên có tính chất tương
đối, do vậy có thể có quan điểm phân định thành nhiều
trường hợp hơn. Tính tương đối còn thể hiện trong mỗi
đối tượng, cả cuộc đời công tác có thể có các giai
đoạn khác nhau mà tư tưởng sống và làm việc có thay đổi,
và do vậy sẽ rơi vào các trường hợp khác nhau nói trên.
Trong một tổ chức (cơ quan, đơn vị…) nằm trong hệ thống
chính trị, luôn tồn tại đồng thời tất cả các trí thức
thuộc ba trường hợp nêu trên. Các trí thức thuộc trường
hợp ba (cuồng tín), mặc dù số lượng không lớn, nhưng
được Đảng và chính quyền ưu ái hơn nhiều, mặc dù năng
lực trí tuệ thấp hơn rất nhiều so với các trí thức đông
đảo thuộc các trường hợp khác. Sự ngạo mạn của Đảng
và chính quyền, coi thường đông đảo trí thức trình độ cao
cũng từ đó mà nảy nở. Họ kín đáo nhếch mép cười trên
đồng lương nghèo nàn của các giáo sư, vốn chỉ bằng lương
của một kỹ thuật viên mới vào làm việc cho một công ty
liên doanh. Các đồng nghiệp bè bạn quốc tế kinh hoàng khi
biết sự thật đó. Thực tế nói trên cũng là một trong các
biểu hiện tàn phá của <em>quy luật vô hiệu hóa</em> mà chúng
ta đang bàn đến.
Tất cả những thực tế trên đây cho thấy, trong hệ thống
chính trị được thiết chế trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin,
tầng lớp trí thức mặc nhiên chịu tác động bởi <em>quy
luật vô hiệu hóa đóng góp cho xã hội</em>. Đó là lý do vì
sao luôn xuất hiện ngày này qua tháng khác các câu hỏi với ý
tha thiết kêu gọi của nhân dân đối với tầng lớp trí thức
nước ta. Nền khoa học công nghệ của nước nhà tụt hậu thê
thảm ư, trình độ trí thức Việt nam ra sao? Nền giáo dục
của nước nhà tha hóa ư, đức độ trí thức Việt nam đến
đâu? Nền y học nước nhà lạnh lùng và vô cảm kiếm tiền
trên nỗi đau của bệnh nhân ư, lương tâm trí thức Việt nam
đâu? Nền văn hóa nước nhà xuống dốc và méo mó ư, văn hóa
trí thức Việt nam thế nào? Nền lập pháp - hành pháp - tư
pháp rối loạn và bất minh ư, nhân cách trí thức Việt nam còn
hay mất? Phương thức tổ chức xã hội bị tha hóa cần được
cải biến theo hướng tiến bộ ư, lương tri và dũng khí trí
thức Việt nam còn được bao nhiêu?...
Xin được trả lời: <em>trí thức Việt Nam đã và đang bị vô
hiệu hóa đóng góp cho xã hội</em>.
Đó cũng là một nghịch lý cay đắng đối với một dân tộc,
bị dẫn dắt theo con đường xây dựng xã hội XHCN trên cơ sở
nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thời kỳ 1930-1975, lựa chọn con đường này cho dân tộc là
bởi những bậc tiền bối của Đảng, được coi là những nhà
cách mạng lớn, nhưng lại không phải là những trí thức thực
sự. Ngày nay, tiếp tục kiên định con đường này, là sự
lựa chọn của các vị lãnh đạo Đảng với chất trí thức
cao hơn hẳn so với các vị tiền bối (nếu căn cứ theo học
vấn, học vị, học hàm). Nhìn nhận theo khía cạnh khoa học
của vấn đề, họ kiên định lựa chọn con đường này, trên
cơ sở các đề tài tiến sĩ, các đề tài cấp Nhà nước,
cấp Học viện… của chính họ và của số trí thức đảng
viên phục tùng cuồng tín, khi nghiên cứu các nội dung về lý
luận Mác-Lênin. Số lượng các trí thức đảng viên loại này
chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số tri thức Việt Nam?
Không cần con số chính xác vào lúc này, nhưng câu trả lời
chính xác là: đó là thiểu số.
Vậy là một nghịch lý cay đắng nữa xuất hiện đối với
dân tộc: <em>đa số trí thức Việt Nam bị vô hiệu hóa bởi
một thiểu số trí thức trong Đảng.</em>
Toàn dân vẫn kỳ vọng trí thức Việt Nam vượt qua hoàn cảnh,
chung sức kiên trì góp phần lập nên Hiến pháp mới, cho phép
điều chỉnh con đường đi của dân tộc, hướng đến giải
tỏa vô vàn nghịch lý đè nặng lên vai dân tộc.
Thái Bình, 1/4/2013
L.H.S.T.
<em>Tác giả gử</em><em>i trực tiếp cho BVN</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130418/vo-hieu-hoa-da-so-tri-thuc-boi-mot-thieu-so-tri-thuc),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét