Chuyên chế độc tài & Dân chủ đa nguyên: Mô hình nào tốt nhất cho Việt Nam? - Phần 1: Thực chất mô hình XHCN

<b>Nền tảng lý luận CNCS đã bị biến tướng ngay từ đầu,
làm nảy sinh một thế hệ các lãnh đạo với mô hình tổ
chức nhà nước nửa phong kiến độc tài, nửa quân chủ nghị
viện.</b>

<div class="boxcenter400"><img
src="http://3.bp.blogspot.com/-qGwdBW6zqrE/VHNIwrdJ-_I/AAAAAAAAEMo/aZ8y6y42pXE/s1600/7030.jpg"
width="640"></div>

<h2>Nhắc lại một vài quan điểm về CNCS </h2>

Trong Tuyển tập Mark- Engels (Mác-Ăng ghen), luận thuyết cơ bản
để hình thành hệ ý thức Chủ Nhĩa Cộng sản (CNCS - xã hội
sở hữu tài sản chung) được giải thích rằng: Con đường
phát triển đi lên CNCS được hình thành dựa trên các tiến
bộ vượt bậc về mặt khoa học. Khi nhân loại đạt đến
đỉnh cao của khoa học, mọi quy trình sản xuất hàng hóa đều
được tự động hóa. Khi đó, con người không cần phải thực
hiện bất kỳ hình thức lao động chân tay nào nhằm tạo ra
của cải, vật chất. Sản phẩm dư thừa đủ cho con người
"làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu".

Trong quá trình soạn thảo học thuyết của mình, Các-Mác khi
luận giải về các hệ tư tưởng, cơ sở giải quyết quan hệ
giữa con người với con người bị bế tắc trong nội dung
giải quyết các mâu thuẫn trong quản lý xã hội, đặc biệt
là trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo và đời sống tinh
thần trong chế độ cộng sản nên ông đã phải dừng lại
một khoảng thời gian khá dài cho đến khi gặp Ăng-Ghen.

Trên thực tế, chính Ăng-Ghen mới là người hoàn thiện học
thuyết về CNCS khi đưa ra thang bậc phát triển nhu cầu về tinh
thần của con người: Nhu cầu tự thỏa mãn (làm theo sở thích
của mình). Lý giải này được Ăng-Ghen phát triển và lý giải
rằng: Do tâm lý con người không còn nhu cầu về vật chất
để thỏa mãn các nhu cầu thông thường (nhu cầu thông thường
– nhu cầu sinh lý), nên sẽ tự phát triển tới nhu cầu làm
để đạt được mục đích thỏa mãn theo sở thích cá nhân.
Sự tích lũy tư bản trở thành vô nghĩa khi mọi thứ đều dư
thừa bởi tiến bộ của tự động hóa, vượt qua nhu cầu của
con người. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: <b><i>Để đạt
được xã hội cộng sản. Nhân loại phải đạt được hai
điều kiện cơ bản tiên quyết: Văn hóa cộng đồng và trình
độ khoa học, công nghệ tự động hóa hoàn toàn</i></b>. Nghĩa
là <i>con người phải có nhận thức và văn hóa thích hợp với
lối sống có trách nhiệm, sẵn sàng chia sẻ với người khác
và một nền kỹ thuật tự động hóa toàn diện.</i>

Đề cập về văn hóa, Ăng-ghen đã phân tích khá sâu về vấn
đề tôn giáo. Ông cho rằng tôn giáo vẫn tồn tại trên vai trò
là công cụ giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội trên góc
độ "là một chuẩn mực đạo đức tích cực, một ước mơ
vươn tới sự hoàn thiện tuyệt đối mà con người hướng
tới" (Friedrich Engels). Cũng ở phần này, ông chỉ ra rằng:
CNCS chỉ hình thành khi nhân loại đã đạt đến đỉnh cao của
Chủ nghĩa tư bản (CNTB) – Mô hình xã hội mà trong đó con
người chú trọng tạo ra thặng dư (tư bản) bằng sự phát
triển của khoa học. Văn hóa cộng đồng được xây dựng và
đề cao sự tôn trọng đối với mọi cá nhân trên mọi phương
diện.

Trong đó, Mark và Engels có nói tới việc hình thành quan hệ
các nước giàu – phát triển – sẽ tác động, giúp đỡ các
nước nghèo (chậm phát triển) hướng tới thịnh vương chung,
còn gọi là <b><i>giai đoạn quá độ</i></b>.


<h2>Sai lầm khi vận dụng học thuyết CNCS</h2>

Khi phong trào Quốc tế cộng sản (QTCS) ra đời, cuộc cách
mạng tháng 10 Nga đặt dấu chân hình thành chế độ theo tư
tưởng cộng sản đầu tiên trên thế giới và sau đó kéo theo
sự hình thành khối Cộng sản (Xã hội chủ nghĩa sau này). Sự
bùng nổ phong trào cộng sản xuất phát từ khao khát với cái
mới, sự thỏa mãn trong mong muốn về một thay đổi trong mối
quan hệ còn nhiều bất công của xã hội phong kiến, chủ nghĩa
đế quốc... đang trong giai đoạn chuyển sang xã hội tư bản
đã mang lại cho QTCS sự thành công mạnh mẽ ở khía cạnh thay
thế quyền lực -"phong trào giải phóng dân tộc".

Việc thay đổi chế độ, dẫn đến một lực lượng khác,
một ý thức hệ khác lên cầm quyền. Trong bối cảnh văn hóa
cộng đồng và nền văn minh nhân loại chưa đạt đến một
nhận thức và chuẩn mực phù hợp, nền tảng lý luận CNCS đã
bị biến tướng ngay từ đầu, làm nảy sinh một thế hệ các
lãnh đạo với mô hình tổ chức nhà nước nửa phong kiến
độc tài, nửa quân chủ nghị viện.

Nét tư tưởng phong kiến độc tài thể hiện ở chính sách
độc tôn về chính trị. Áp đặt xã hội lệ thuộc vào quan
điểm duy ý chí - ở mô hình XHCN là một nhóm lãnh đạo (Bộ
chính trị). Không cởi mở trong việc tiếp nhận cái mới. Đố
kỵ với các quan điểm tự do, quan điểm đối lập...

Mô hình nửa quân chủ nghị viện thể hiện trong cấu trúc
bộ máy quản lý nhà nước. Mặc dù có Quốc hội là cơ quan
lập pháp, trên danh nghĩa là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng
định hướng, quyết sách thực thi cả trong lập pháp lẫn hành
pháp (các cơ quan nhà nước) lại chịu sự chi phối của
Đảng, là tổ chức chính trị đại diện cho một nhóm mang
một hệ ý thức trong xã hội.

Vô hình chung, quyền lực thật sự tập trung vào tay một nhóm
lãnh đạo là Bộ chính trị (tương tự Vua trong chế độ quân
chủ). Từ đó, mô hình nhà nước XHCN thay vì chỉ có một lãnh
đạo tối cao (trong chế độ quân chủ độc tôn) lại là một
nhóm quyền lực chi phối cả lập pháp lẫn hành pháp. Đây
chính là nguyên nhân xâu xa nhất, căn bản nhất dẫn đến vấn
nạn tham nhũng, tạo nên các hệ thống quyền lực mà người ta
gọi là "lợi ích nhóm", khiến cho giai cấp lãnh đạo trong
các nhà nước XHCN sa vào tham nhũng dễ ràng và tham nhũng bậc
nhất trong tất cả mọi mô hình nhà nước khác.

Tại nước Nga, sau này là Liên bang Xô-Viết (Liên Xô) - cái
nôi của chủ nghĩa cộng sản, sau khi giành được quyền lực,
tham vọng quyền lực nhanh chóng khiến các lãnh đạo cộng sản
sớm nhận ra việc nếu tiếp tục trung thành với học thuyết
Mác-Ăng Ghen thì bắt buộc sẽ hình thành nền chính trị gần
giống với mô hình cộng hòa, dân chủ, làm chia sẻ hoặc mất
đi ngôi vị quyền lực tối cao, nên đã từng bước thay vào
các tư tưởng tiến bộ của Ăng Ghen. Người ta biến thành
Mác-Ăng Ghen – Lê Nin, và cuối cùng chỉ còn là Mác-Lê Nin như
ngày nay. Nó thể hiện cả ra ngoài khá rõ khi hàng loạt các
nước phe cộng sản lúc đầu lấy tên là Cộng hòa Dân chủ
nhân dân (Việt Nam, Trung Quốc, Bungari, Triều Tiên..) Hoặc đơn
giản là Cộng hòa nhân dân.. A,B,C (Ba Lan, Anbani, Séc,
Slovakia…). Sau này lại đồng loạt đổi thành Xã hội chủ
nghĩa.

Để che giấu lỗ hổng trong việc giải thích mối quan hệ nhà
nước pháp quyền với công dân, quan hệ phân chia quyền lợi
kinh tế và giá trị thực tế hình thành trong thời kỳ quá
độ, khái niệm "Xã hội chủ nghĩa" ra đời, nhằm tạo ra
ảo giác rằng nó là một mô hình mới, hợp lý... Tuy nhiên,
ngay cụm từ XHCN vô hình chung đã thể hiện một chế định
không rõ ràng khi nó không chỉ ra cấu trúc cụ thể là gì,
cấu trúc và các quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và người
dân ra sao…, từ đó dẫn đến việc điều hành nhà nước rơi
vào hỗn loạn, lúng túng và thụ động. Các cấu trúc phân chia
quyền lực, quyền lợi trong xã hội bị phá vỡ, bất bình
đẳng, dẫn đến việc thực thi chính sách theo kiểu ngẫu
hứng, đụng đâu làm đó. Không có nền tảng vững chắc và
cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu, các tác động bởi
khủng khoảng kinh tế, lòng tin và nhận thức xã hội là nguyên
nhân dẫn tới sự sụp đổ mang tính tất yếu của khối XHCN
mà nhân loại đã chứng kiến trong hơn 30 năm qua.

Việc một số nước vẫn cố giữ danh nghĩa cộng sản, CNXH,
thực chất là sự thể hiện mong muốn níu giữ quyền lực
của giai cấp lạnh đạo đương quyền. Sợ thay đổi, từ bỏ
danh nghĩa chính trị thì sẽ mất hết quyền lợi đang có,
nhưng thay đổi theo hệ tư tưởng dân chủ, đa nguyên thì không
theo kịp, không nhận thức đầy đủ được nền tảng lý
luận của một thể chế khác hoàn toàn với nhận thức hiện
tại. Vô hình chung, nhà nước XHCN trở thành lực cản, là trở
ngại ngăn chặn con đường phát triển. Các nhà nước XHCN –
trong đó có Việt Nam – về thực chất không phải là mô hình
đúng hoặc gần đúng với mô hình nhà nước cộng sản. Có
chăng, ngay cả cái tư tưởng chính trị cũng chỉ còn là gắn
cái danh nghĩa cộng sản vì không có danh nghĩa nào khác hợp lý
mà thôi.

<i>(Phần 2: CNXH ở Việt Nam – Thụ động và mù quáng)</i>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20141124/chuyen-che-doc-tai-dan-chu-da-nguyen-mo-hinh-nao-tot-nhat-cho-viet-nam-phan-1-thuc),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét