Gò Cỏ May - Tình hình Biển Đông đã có gì mới chưa, thưa bác Cả Trọng?

Như chúng ta đã biết, từ hàng chục năm qua, mặc dù hai nước
"cộng sản anh em" Việt-Trung đã bình thường hóa quan hệ
và hợp tác chặt chẽ không ngừng đưa quan hệ chiến lược
giữa hai đảng hai nhà nước lên "tầm cao mới". Nhưng thật
lạ kỳ, cứ mỗi đợt gặp gỡ cấp cao như thế là Trung Quốc
lại gia tăng các hoạt động gây căng thẳng trên các vùng
biển mà Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền
"không tranh cãi". Phía Trung Quốc thì hành động. Còn phía
Việt Nam lại chỉ cho Người phát ngôn BNG lên tiếng phản
đối chứ các giới chóp bu thì đều bị cái vòng kim cô
"đại cuộc" mang tên ý thức hệ kiềm tỏa, ngậm tăm. Trong
đó bác Cả Trọng là một điển hình tiêu biểu.

Còn nhớ khi Trung Quốc gây hấn cắt cáp ngầm tàu thăm dò
địa chấn, đâm tàu cá, bắt ngư dân Việt Nam, vẽ bản đồ
đường lưỡi bò trùm lên biển đảo Việt Nam và các nước
khu vực… làm Biển Đông sôi sùng sục, khiến đại biểu
Quốc Hội đề nghị đưa vấn đó vào thảo luận, thì bác Cả
Trọng (khi đó còn là Chủ tịch Quốc hội) cười, thản nhiên
phán một câu xanh rờn rất nổi tiếng: <em>"Tình hình biển
Đông không có gì mới, nói biển Đông mà không phải Biển
Đông…".</em><div class="boxright300"><img
src="http://gocomay.files.wordpress.com/2013/06/tau-ca-trung-quoc.jpg?w=300&h=229"
/><div class="textholder">32 tàu cá Trung Quốc hoạt động trái
phép, lượn lờ ngoài Đá Xu Bi, Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn
hiện đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép trong Q.đảo
Trường Sa của Việt Nam.</div></div>

Từ đó tới nay (chắc vẫn "không có gì mới") nên Trung
Quốc được đà cứ lấn tới mãi. Song song với các hành
động gây hấn như cho tàu quân sự giả tàu Ngư Chính xua
đuổi và bắn cháy ca bin tàu cá của ngư dân ta. Đặc biệt
sự kiện vô cùng phi lý là trong khi chính quyền tỉnh Nam Hải
rầm rộ hộ tống đưa 32 tàu cá xuống đánh bắt cá trái phép
tại vùng biển Trường Sa của Việt Nam. Thì từ 12 giờ, ngày
16/6 tới 12 giờ, ngày 1/8/2013, lệnh cấm biển được cái chính
quyền Nam Hải ấy ban ra để nhằm ngăn cản con đường mưu
sinh của ngư dân Việt Nam trên ngư trường truyền thống của
mình.

Bên cạnh những việc ngang ngược đó, thời gian gần đây Trung
Quốc đã không ngừng dùng các thủ đoạn văn hóa thâm độc
để xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền biển đảo của Việt
Nam như: Phát hành bản đồ; in sách sách kỷ niệm một năm
"Thành phố Tam Sa"; phát hành tem "Tam Sa thất liên dữ"
(Nhóm 7 đảo nhỏ liền nhau ở Tam Sa) và 'tuồn' rất nhiều
đèn lồng in chữ Tam Sa vào Việt Nam. (xem <a
href="http://www.buudoan.com/2013/06/bien-ong-lat-tay-chieu-oc-trung-quoc.html">ở
đây</a>).

<em>"Nói biển Đông mà không phải biển Đông"</em> là nói
tới chuyện gì mà cứ để Trung Quốc thao túng theo kiểu
"tằm ăn dâu" từng bước lấn áp và thôn tính chủ quyền
biển đảo của Việt Nam bằng cả vũ lực cứng và mềm như
vậy?<div class="boxright300"><img
src="http://gocomay.files.wordpress.com/2013/06/nguyen_phu_trong_giaoduc-net-vn_copy.jpg?w=300&h=229"
/><div class="textholder">TBT Nguyễn Phú Trọng trong buổi tiếp xúc
cử tri Q.Ba Đình HN, chiều 28/6/2013</div></div>

Theo các báo quốc doanh đưa tin, chiều hôm qua (28/6), đến hẹn
lại lên, bác Cả Trọng cùng các đại biểu Quốc hội Đơn
vị bầu cử số 1, TP Hà Nội tiếp xúc cử tri quận Ba Đình
để báo cáo kết quả kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII.
Trước những quan tâm của bà con cử tri với tình hình Biển
Đông, bác Cả cho biết:

<em>"Đây là vấn đề liên quan đến nhiều nước, đến an
toàn tự do hàng hải, liên quan đến độc lập chủ quyền
quốc gia, hòa bình ổn định trong khu vực, cần xử lý bình
tĩnh, tỉnh táo.

Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đều hết sức coi
trọng vấn đề này, chúng ta đã có cả Chiến lược về
biển, đảo; đã thông qua Luật Biển Việt Nam; thành lập Ban
chỉ đạo về biển Đông…

Tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, các kênh ngoại giao
song phương, đa phương, chúng ta đều thể hiện rõ ràng, nhất
quán quan điểm giải quyết vấn đề biển Đông bằng biện
pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.

Với tinh thần độc lập, tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ… phải
xử lý làm sao để giữ môi trường hòa bình. Nếu xảy ra va
chạm, xung đột thì tình hình đất nước thế nào? Còn môi
trường hòa bình mà phát triển không? Nếu không cẩn thận sẽ
mắc phải âm mưu kích động". </em>(Trích lục <a
href="http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Van-de-bien-Dong-neu-khong-can-than-se-mac-phai-am-muu-kich-dong/303848.gd">ở
đây</a>).<div class="boxright300"><img
src="http://gocomay.files.wordpress.com/2013/06/tong-bi-thu-bo-phieu-tin-nhiem-giaoduc-net-vn-copy-1.jpg"
/><div class="textholder"></div></div>

Trước đó hơn tháng, tại buổi tiếp xúc với cử tri quận
Hoàn Kiếm, Tây Hồ ngày 14/5/2013, bác Cả cũng chia sẻ:

<em>"Vấn đề chủ quyền biển đảo là rất quan trọng cho
nên phải gìn giữ, thứ hai là phải làm sao giữ được ổn
định hoà bình để phát triển, không xảy ra những cái phức
tạp dẫn đến xung đột, không còn điều kiện để mà phát
triển, thứ ba là phải chăm lo bảo vệ dân, tạo điều kiện
để phát triển kinh tế xã hội. Nhà nước hết sức quan tâm
tới việc này, từ chuyện đi đánh cá thế nào, xem tàu bè ra
sao, rồi các tổ hợp tác tổ chức để giúp nhau khai thác tài
nguyên của ta, đồng thời bảo vệ cho được chủ quyền,
độc lập của mình".</em> (Trích <a
href="http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Tong-Bi-thu-Nguyen-Phu-Trong-noi-ve-chu-quyen-bien-dao/296923.gd">ở
đây</a>)

<div class="boxright300"><img
src="http://gocomay.files.wordpress.com/2013/06/kt27-3-tau-ca-1.jpg?w=300&h=224"
/><div class="textholder">Tàu cá QNg 96382 bị bắn cháy đen, nham
nhở ngày 20/5/2013. (Ảnh: NLĐ)</div></div>Qua đó cho thấy, sau
việc <a
href="http://www.tienphong.vn/the-gioi/619646/Trung-Quoc-lat-long-vu-ban-tau-ca-Viet-tpod.html">Trung
Quốc lật long</a> trong vụ bắn cháy cabin tàu của ngư dân
Quảng Ngãi hồi thượng tuần tháng 3 vừa rồi, bác Cả nhà ta
không còn có thể bênh che "bạn vàng" được nữa nên đã
có những phát ngôn sát thực tế hơn. Mặc dù vậy, với việc
xử nặng hai sinh viên yêu nước chống Tàu ở phiên toà sơ
thẩm tại Long An ngày 16/5 vừa rồi. Cũng như việc trấn áp
mới đây đối với những người viết blog có xu hướng chống
Tàu. Nay lại thêm cái câu thòng "<em>phải xử lý làm sao để
giữ môi trường hòa bình…. Nếu không cẩn thận sẽ mắc
phải âm mưu kích động"</em>. Điều này chứng tỏ cái quyết
tâm "đồng sàng" với đồng chí 4 tốt, 16 chữ vàng "môi
hở răng lạnh" là không có gì lay chuyển được!(?).

Không biết bác Cả Trọng ám chỉ cái "âm mưu kích động"
là xuất phát từ tụi "Thế lực thù địch" nào, chứ dứt
khoát không phải Trung Quốc. Vì sự khẳng định trong chuyến
thăm Lào Cai của bác Cả cách đây chưa xa: <em>"Tiếp tục vun
đắp quan hệ láng giềng tốt, xây dựng hòa bình và hữu
nghị, chống âm mưu phá hoại từ bên ngoài, ổn định hợp
tác phát triển cùng nước bạn!".</em>

Bởi thế, dù tình hình Biển Đông đã (hay không) có gì mới
thì cái mục tiêu <strong><em>xây dựng hòa bình và hữu nghị,
chống âm mưu phá hoại từ bên ngoài</em></strong>, vẫn là
những ưu tiên hàng đầu trong chính sách cả đối nội và
đối của bác Cả Trọng cho tới hết nhiệm kỳ này.

Động thái này cho thấy <em><strong>giữ môi trường hòa
bình</strong></em> cho giới chức quyền trong đảng ổn định
ghế và tiếp tục làm giàu là ưu tiên hàng đầu. Chứ cái
tiêu chí "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bên gốc"
để giữ nước mà Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trước
khi khuất núi đã trăng trối lại là không còn lọt được lỗ
tai bác Cả nữa rồi.

Chính cái quyết tâm giữ bằng được điều 4 và không để cho
đa quyền sở hữu về đất đai được sớm đưa vào Bản dự
thảo Hiến pháp sửa đổi đã chứng minh hùng hồn điều đó.
Ai nghĩ khác "định hướng" này tức là suy thoái và sẽ bị
"xử lý" đấy!
<em>
"Thế lực thù địch làm giảm niềm tin của nhân dân vào
đảng, âm mưu "Làm xanh hóa cái đầu đỏ!"; "Bây giờ các
thế lực bên ngoài thấy chúng ta chăm chút công tác tư tưởng,
uốn nắn những tư tường lệch lạc, thì họ bảo là bất
đồng chính kiến chúng ta lại đi trừng trị, vi phạm quyền
con người!…".</em>

Hình như bác Cả Trọng đã nói như thế tại Hội nghị tổng
kết công tác tuyên giáo vào ngày 9/1/2013 ở Hà Nội thì phải?!

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130630/go-co-may-tinh-hinh-bien-dong-da-co-gi-moi-chua-thua-bac-ca-trong),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Chuyện bảo vệ nhân phẩm ở Đức

<strong>Từ những đau thương và những trải nghiệm từ lịch
sử, người Đức đã nhận thức được sâu sắc lý do vì sao
cần phải bảo vệ nhân phẩm.</strong>

<a
href="http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/128544/bat-ngo----du-khach-viet-mat-cap-o-duc.html">Bất
ngờ...du khách Việt mất cắp ở Đức</a>

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, xây dựng lại đất nước
từ trong hoang tàn, đổ nát, có lẽ nhân dân Đức là những
người thấu hiểu hơn ai hết sự bạo tàn của chiến tranh,
sự phi nhân tính của chủ nghĩa phát xít, cũng như hệ quả
đau thương mà nó gây ra. Họ cũng là những người thấu hiểu
việc bảo vệ phẩm giá của con người quan trọng và cần
thiết như thế nào.

Qui định đầu tiên, trang trọng nhất của Luật cơ bản (Hiến
pháp) của Đức là qui định về nhân phẩm: "Nhân phẩm là
bất khả xâm phạm" (Điều 1 Khoản 1).<sup>[1]</sup> Đặc biệt,
thông qua qui định của Điều 79 Khoản 3 Hiến pháp, vấn đề
nhân phẩm là bất khả xâm phạm tại Điều 1 Hiến pháp này
đã được vĩnh viễn hóa, trở thành một trong những giá trị
cao nhất của Hiến pháp Đức. Theo đó, trong mọi trường hợp,
qui định "nhân phẩm" tại Điều 1 là không thể sửa đổi.

Chỉ có một câu duy nhất: "Nhân phẩm là bất khả xâm phạm",
nhưng qui định này đã phản ánh đầy đủ tính nhân bản,
tính dân tộc và tính thời đại của Hiến pháp Đức. Cũng
chỉ bằng một câu duy nhất ấy, người ta có thể thấy
được người Đức trân trọng nhất điều gì, đồng thời
cũng cho thấy giá trị mà họ muốn hướng tới, muốn bảo vệ
là gì.

Theo Giáo sư Luật Hiến pháp Günter Dürig, nhân phẩm qui định
ở Điều 1 Khoản 1 Hiến pháp Đức không phải là một quyền
cơ bản đơn thuần, mà là giá trị khách quan, cao nhất của
Hiến pháp, là qui tắc ràng buộc toàn bộ mục đích, nhiệm
vụ và hành vi của công quyền. Nhân phẩm bị xâm phạm, khi cơ
quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền hành xử với con
người như một vật thể đơn thuần (bloßes Objekt).<sup>[2]</sup>
Những hành vi của công quyền như bắt người làm nô lệ, tra
tấn, phân biệt đối xử, làm nhục, từ chối cung cấp những
điều kiện sống tối thiểu của một con người...đều là
những hành vi xâm phạm nhân phẩm và vi hiến.

Ở Đức, không một lý do nào có thể biện minh cho việc chà
đạp lên phẩm giá của con người, ở bất kỳ hình thức
nào. Tất cả mọi người đều được bảo vệ nhân phẩm,
không phân biệt người đó là ai, trẻ em hay người trưởng
thành, người bị tâm thần hay tội phạm, thậm chí không phụ
thuộc vào việc chủ thể đó có nhận thức được về nhân
phẩm của mình và nhận thức chúng cần phải được bảo vệ
hay không.<sup>[3]</sup>

<center><img
src="http://imgs.vietnamnet.vn/Images/vnn/2013/06/27/09/20130627090338-frankfurt0-3.jpg"
/></center>

Không chỉ việc tử hình bị coi là vi phạm nhân phẩm con
người[4], mà ngay cả hình phạt tù chung thân (die lebenslange
Freiheitsstrafe) không chú ý đến khả năng hoàn lương của con
người cũng bị coi là vi phạm nhân phẩm ở Đức. Tòa án
hiến pháp liên bang Đức vào năm 1977 đã ra phán quyết rằng
áp dụng hình phạt tù chung thân mà không tạo khả năng giảm
án là vi hiến, vì xâm phạm nhân phẩm của con người. Ngày nay
ở Đức, một người tù thụ án tù chung thân có thể được
giảm án, nếu cải tạo tốt, nhưng sớm nhất là không dưới
15 năm tù giam.<sup>[5]</sup>

Một ví dụ khác: Xuất phát từ nhu cầu thực tế phòng chống
nạn khủng bố, đặc biệt là từ vụ việc ngày 11/9 ở Mỹ
năm 2001, vào năm 2005, Nghị viện liên bang Đức đã thông qua
Luật an toàn hàng không. Theo Điều 14 Khoản 3 của đạo luật
này, trong những trường hợp nghiêm trọng, khẩn cấp, cơ quan
an ninh quốc gia được phép bắn vào máy bay dân dụng mà kẻ
khủng bố sử dụng làm công cụ khủng bố. Tòa án hiến pháp
liên bang trong phán quyết ngày 15/2/2006 đã cho rằng: Qui định
này cho phép công quyền coi việc giết người vô tội là công
cụ để cứu người khác. Việc giết hại một số ít người
vô tội để cứu một số lượng người lớn hơn không thể
được hợp pháp hóa, đó chẳng khác gì việc coi con người là
một "vật thể đơn thuần". Qui định này là vi hiến, do xâm
phạm đến nhân phẩm và quyền được sống của con
người.<sup>[6]</sup>

Cũng liên quan đến vấn đề nhân phẩm của con người, vào
năm 1979, ở Đức có một vụ án như sau: Sau khi tiến hành
phẫu thuật chuyển giới, B đã đệ đơn đề nghị cơ quan hộ
tịch thành phố X tiến hành công nhận việc thay đổi giới
tính từ nam sang nữ cho mình, nhưng đã bị cơ quan này từ
chối yêu cầu của B. Thời điểm đó ở Đức cũng chưa có
Luật cho phép việc chuyển giới. Quan điểm của Tòa án tối
cao liên bang là vì chưa có luật nên việc cơ quan hộ tịch từ
chối là đúng, nhưng Tòa án Hiến pháp liên bang Đức lại
phản bác và kết luận cho rằng: Nhân phẩm con người là giá
trị cao nhất, mọi người đều được quyền yêu cầu công
nhận giới tính thật của mình, đó thuộc về nhân phẩm con
người. Việc cơ quan hộ tịch từ chối đơn đề nghị của B
là hành vi vi hiến.<sup>[7]</sup> Sau đó khoảng một năm, vào
ngày 10/9/1980, đạo luật về chuyển giới (Transsexuellengesetz)
đã được Nghị viện thông qua, chính thức hợp pháp hóa về
phương diện luật việc chuyển đổi giới tính.

Ngày nay, nhiều vấn đề xoay quanh nhân phẩm của con người
vẫn gây rất nhiều tranh cãi ở Đức. Chẳng hạn, vấn đề:
có nên cho phép việc nạo phá thai hay không. Đạo luật cho phép
nạo phá thai đầu tiên của Đức năm 1975 đã bị tuyên vi
hiến, do Tòa án tuyên bố rằng bào thai đã thành thai cũng
thuộc đối tượng bảo vệ của nhân phẩm. Theo Bộ luật hình
sự Đức hiện hành, việc nạo phá thai là bất hợp
pháp<sup>[8]</sup>, trừ khi có những bằng chứng cụ thể,
được qui định tại Điều 219 Khoản 1 Bộ luật này.

Vấn đề bác sĩ có nên công bố cho người mẹ mang thai về
những dị tật bẩm sinh của bào thai hay không cũng là vấn
đề có những quan điểm trái ngược nhau. Quan điểm đồng
tình thì cho rằng việc thông báo này liên quan trực tiếp đến
lợi ích của xã hội, của cha mẹ và của chính đứa trẻ. Cha
mẹ có quyền được biết về những dị tật của bào thai,
để sớm đưa ra quyết định. Những trẻ em dị tật ra đời
nhiều khi là khổ đau cho chính trẻ em và là gánh nặng cho xã
hội.<sup>[9]</sup>

Quan điểm phản đối cho rằng: Không có gì cao hơn nhân phẩm
của con người. Bào thai đã thành thai cũng là đối tượng
cần phải được bảo vệ về nhân phẩm. Quyền được sống
của một đứa trẻ bị dị tật cũng không kém giá trị hơn
quyền được sống của một đứa trẻ không bị dị tật.
Việc thông báo về dị tật của bào thai là vi phạm y đức và
sẽ có tác động xấu đối với xã hội, làm gia tăng tỉ lệ
nạo phá thai. Hay nói cách khác, không có bất kỳ ai có quyền
tước đi quyền được sống của một đứa trẻ, cho dù đứa
trẻ đó bị dị tật.<sup>[10]</sup>

Cũng liên quan đến vấn đề này, hiện nay việc có nên cho
phép nghiên cứu tế bào gốc (Stammzellenforschung) hay không ở
Đức cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Việc nghiên cứu tế bào
gốc, cấy ghép tế bào thai nhi vẫn bị cấm theo Điều 2,
Điều 8 Luật bảo vệ tế bào gốc (ESchG - Gesetz zum Schutz von
Embryonen). Từ góc độ luật hiến pháp, bào thai cũng là đối
tượng cần phải được bảo vệ về nhân phẩm theo Điều 1
Khoản 1 Hiến pháp.

Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phản đối qui định này. Theo
kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại: Tế bào thần
kinh là loại tế bào khi đã chết đi thì sẽ không có khả
năng phục hồi và tái sinh. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học khẳng
định rằng việc nghiên cứu, cấy ghép tế bào bào thai, tế
bào gốc và liệu pháp gen để thay thế các tế bào thần kinh
đã chết sẽ là một hướng đi nhiều hứa hẹn để giải
quyết vấn đề này. Việc ngăn cấm nghiên cứu tế bào gốc,
hay cấy ghép tế bào thai nhi là vi phạm quyền tự do trong
nghiên cứu khoa học.<sup>[11]</sup>

Vấn đề nhân phẩm ngày nay ở Đức không những được tranh
luận ở tất cả các góc độ từ triết học, sinh học, đạo
đức học, y học, luật học...mà còn được hiểu và hiện
thực hóa ở một phạm vi rất rộng. Theo phán quyết ngày
9/2/2010, Tòa án hiến pháp liên bang đã khẳng định rằng Luật
trợ cấp xã hội (Hartz IV Gesetz) ra đời là bắt nguồn từ
nguyên tắc bảo vệ nhân phẩm tại Điều 1 Khoản 1 Hiến pháp
và nguyên tắc nhà nước xã hội (Sozialstaatprinzip).[12] Đạo
luật này qui định rằng nhà nước có trách nhiệm đảm bảo
một mức sống tối thiểu đối với tất cả mọi người,
đồng thời qui định cụ thể những đối tượng nào, trường
hợp nào thì được hưởng trợ cấp xã hội.

Theo Tòa án hiến pháp liên bang, nhân phẩm sẽ không có giá
trị ràng buộc trách nhiệm của nhà nước, nếu như điều
kiện sống tối thiểu của một con người cụ thể không
được đảm bảo. Chế độ trợ cấp xã hội ở Đức hiện
nay được đánh giá là rất tiến bộ, chế độ này ra đời
xuất phát từ lý do căn bản là nhằm bảo vệ nhân phẩm con
người, tạo sự bình đẳng về cơ hội và điều kiện phát
triển tốt nhất cho con người.

Tóm lại, từ những đau thương và những trải nghiệm từ
lịch sử, người Đức đã nhận thức được sâu sắc lý do
vì sao cần phải bảo vệ nhân phẩm. Nhân phẩm vừa là điểm
khởi đầu, nhưng cũng vừa là mục đích cuối cùng của Hiến
pháp Đức. Tất cả các qui định khác trong Hiến pháp từ vấn
đề các quyền cơ bản cụ thể, đến cơ chế phân công quyền
lực, bảo vệ Hiến pháp...suy đến cùng cũng vì con người và
bảo vệ phẩm giá của con người. Câu chuyện nhân phẩm là
vấn đề cũ, nhưng vẫn sẽ luôn mới, vừa là câu chuyện của
hôm qua, nhưng cũng là câu chuyện của hôm nay và ngày mai, vừa
là vấn đề lịch sử, văn hóa, sinh học, nhưng cũng vừa là
vấn đề mang tính thời đại của Hiến pháp.

----------------------

Chú thích:

[1] Điều 1 Khoản 1 Câu 1 Hiến pháp Đức qui định: "Nhân phẩm
là bất khả xâm phạm". Tòa án Hiến pháp liên bang Đức coi
nhân phẩm là giá trị cao nhất của Hiến pháp Đức, không có
bất kỳ giá trị nào cao hơn nhân phẩm. Xem: BverfGE 32, 98 (108);
50, 166 (175); 54, 341 (357).

[2] Günter Dürig, in Theodor Maunz/Ders.: Grundgesetz, 1958, Art. 1 Abs. 1
Rn. 28, 34. Sau này định nghĩa về nhân phẩm của Dürig đã
được Tòa án hiến pháp liên bang Đức thừa nhận trở thành
định nghĩa có tính chuẩn mực ở Đức. Xem thêm: BVerfGE 27, 1
(6); 28, 386 (391); 45, 187 (228).

[3] BverfGE 39, 1 (41 f.).

[4] Theo Điều 102 Hiến pháp Đức, hình phạt tử hình đã bị
bãi bỏ.

[5] Xem Điều 57 a, Bộ luật Hình sự Đức.

[6] BverfGE 357, 05 (05 f.).

[7] BverfGE 49, 286, (301 f).

[8] Xem các Điều từ Điều 218 Bộ luật hình sự Đức.

[9] Xem thêm: Manssen, Staatsrecht II - Grundrechte, 9. Aufl., 2012, Rn.
220.

[10] Đây cũng là quan điểm chính thức của Tòa án hiến pháp
liên bang Đức. Xem: BVerfGE 88, 203 (296).

[11] Xem thêm: Manssen, Staatsrecht II - Grundrechte, 9. Aufl., 2012, Rn.
221 f.

[12] BverfGE 125, 175 ff.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130630/chuyen-bao-ve-nhan-pham-o-duc), một
số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc
giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận
có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng
dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Nguyễn Văn Huy - Một sự im lặng khó hiểu

<center><img
src="http://image2.tin247.com/pictures/2013/06/21/rmd1371814528.jpg"
/></center>
<center><em>Ông Tập Cận Bình và ông Trương Tấn Sang</em></center>

<strong>Dư luận Việt Nam đang đi bên lề thực tế</strong>

Một tuần sau Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc ngày 21/06/2013,
không thấy một bình luận nào được đưa ra để phân tích
nội dung của bản tuyên bố này.

Về phía chính quyền, chỉ vài người trong cuộc như ông
Trương Tấn Sang, chủ tịch nước, và ông Phạm Bình Minh, bộ
trưởng ngoại giao, đã phải nhờ báo chí nhà nước tổ chức
phỏng vấn để biện hộ những gì đã thỏa thuận và những
văn bản đã ký ; không một đại biểu quốc hội hay ủy viên
trung ương đảng nào thắc mắc hay yêu cầu giải thích. Về
phía đối lập, không một bình luận hay phân tích nào được
đưa về bản tuyên bố. Một sự im lặng khó hiểu !

Không lẽ người Việt Nam chỉ quan tâm đến những gì xảy ra
trong hiện tai và không cần biết những gì liên quan đến
tương lai đất nước ?

Nếu theo dõi kỹ những gì báo chí nhà nước đăng tải,
người ta chỉ thấy toàn những loại tin tức mang tính giới
thiệu những quan chức lớn trong guồng máy đảng và chính
quyền, hay những tin tức về kinh tế, tai nạn giao thông và
hình sự mang tính giật gân để câu đọc giả.

Phía đối lập lại càng bết bát hơn, ưu tư chính của những
người đấu tranh, những blogger và tổ chức đối lập là
biểu tình chống Trung Quốc và bênh vực những người bị bắt
và tố cáo chính quyền cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền,
khuynh hướng chung là muốn anh hùng hóa những người bị bắt
vì dám chống đối chế độ. Không một tổ chức nào, hay một
người nào có thể đưa ra một chương trình tranh đấu và xây
dựng đất nước mang tính thuyết phục. Chỉ riêng thái độ
anh hùng của Nguyễn Phương Uyên và Đinh Vũ Kha trước tòa án
cũng đã có hàng trăm bài ca ngợi. Cuộc tuyệt thực của ông
Cù Huy Hà Vũ trở thành đề tài chính của giới truyền thông
trong nhiều tuần.

Dư luận Việt Nam đang đi bên lề thực tế, và đây cũng chính
là mong muốn của chính quyền cộng sản Việt Nam để có thể
rộng đường tự tung tự tác. Tuyên bố chung Việt Nam-Trung
Quốc ngày 21/06 vừa qua là một bằng chứng. Không ai chú ý
tới một quyết định quan trọng có thể ảnh hưởng lâu dài
tới tương lai Việt Nam và cũng rất khó thay đổi.

Cách đây 55 năm, ngày 14/09/1958, ông Phạm Văn Đồng lúc đó là
thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ký một công
hàm "ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm
1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết
định về hải phận, của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ
thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn
trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ
với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể". Không ai
biết quyết định về hải phận của Trung Quốc gồm những
gì, nhưng chỉ vài dòng chữ thô thiển đó mà ngày nay chính
quyền cộng sản Việt Nam bị ngọng trong những đòi hỏi chủ
quyển trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó chỉ là
một công hàm đơn phương từ phía Việt Nam, do một cấp lãnh
đạo hành pháp ký, chứ chưa phải là một bản Tuyên bố chung
chính thức ký giữa hai cấp lãnh đạo tối cao của hai nước.
Lần này, những thỏa thuận quan trọng đã được công khai
viết lên giấy trắng mực đen, do đó khó có thể chối cãi
nếu có một bên thay đổi ý kiến. Hơn nữa, đây là một văn
kiện mang tầm vóc quốc gia nên hậu quả của nó ảnh hưởng
đến 90 triệu người Việt Nam.

Nếu chịu khó đọc kỹ nội dung bản Tuyên bố chung ngày 21/06
vừa qua, chắc chắn mọi người sẽ bàng hoàng trước những
ký kết liên quan đến tương lai của đất nước và để lại
những hậu quả lầu dài cho nhiều thế hệ mai sau.

Trong nội dung Tuyên bố chung gồm 8 điểm, hai bên đã nhắc đi
nhắc lại từ "nhất trí" gần 30 lần về nhiều vấn đề
nhằm làm sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện với
Trung Quốc. Trả lời phỏng vấn ngày 23/06, ông Phạm Bình Minh
nói rằng chuyến đi Trung Quốc của ông Trương Tấn Sang tái
khẳng định chính sách ngoại giao của Việt Nam độc lập, tự
chủ và hợp tác, nếu đọc kỹ nội dung bản Tuyên bố chung
này không ai tin Việt Nam có thể độc lập với Trung Quốc.
Phía Việt Nam đã hoàn toàn nhất trí với nội dung bản tuyên
bố do Bắc Kinh soạn, trong đó chỉ đề cập đến những vấn
đề mà Bắc Kinh muốn tuyên bố.

Cho dù ông Trương Tấn Sang và ông Phạm Bình Minh có biện hộ
là đã bảo vệ không nhân nhượng chủ quyền Việt Nam trên
Biển Đông, nhưng Tuyên bố chung không nhắc gì đến Hoàng Sa
và Trường Sa. Thêm vào đó, bản Tuyên bố chung chỉ đề cập
tới "Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông"
(DOC) mà Trung Quốc muốn duy trì và không nhắc nhở gìđến Bộ
Quy tắc ứng xử Biển Đông (COC) và tinh thần tôn trọng Công
ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 mà Việt Nam
vẫn thường nhắc tới trong các hội thảo quốc tế về tranh
chấp Biển Đông cũng như trong các lời tuyên bố của Bộ
Ngoại giao Việt Nam mỗi khi phản đối các hành động lấn
lướt của Bắc Kinh tại vùng biển giàu tài nguyên này. Điều
này cho thấy hai ông Trương Tấn Sang và Phạm Bình cố tình che
giấu một sự thật : đó là chính quyền cộng sản Việt Nam
đang chuyển giao dần quyền lãnh đạo đất nước cho phía Trung
Quốc trên mọi lãnh vực.

<strong>Nội dung Tuyên bố chung 21/06/2013</strong>

Trước khi đi sâu vào phần nhận xét, tưởng cũng nên biết qua
về nội dung 8 điểm của bản Tuyên bố chung. Sau đây là phần
tóm lược.

<span class="underlined-text">Điểm 1</span> nhắc lại bối cảnh
của chuyến viếng thăm, điểm 2 đi thẳng vào nội dung sự
hợp tác.

<span class="underlined-text">Điểm 2</span>, hai bên nhìn lại quá
trình phát triển quan hệ Việt-Trung và nhất trí duy trì tình
hữu nghị Việt-Trung theo đúng phương châm 16 chữ vàng và 4
tốt (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu
dài, hướng tới tương lai" và "láng giềng tốt, bạn bè tốt,
đồng chí tốt, đối tác tốt"), nghĩa là vẫn y như trước,
không có gì thay đổi cho dù phía Việt Nam có bị chèn ép trong
các thương lượng về biên giới và lãnh hải.

<span class="underlined-text">Điểm 3</span>, hai bên nhất trí làm
sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện trong 13 lãnh vực
trọng tâm sau đây. Các lãnh vực từ 1 đến 4 mang tính chính
trị và ngoại giao. Những lãnh vực sau đó liên quan đến toàn
bộ sinh hoạt bình thường của một quốc gia, trong đó phía
Trung Quốc được quyền tham gia trực tiếp, nghĩa là Việt Nam
không có gì bí mật với Trung Quốc.

<ol>
<li>Duy trì tiếp xúc cấp cao giữa hai nước bằng mọi hình
thức và phương tiện (thăm song phương, điện đàm, gặp gỡ
bên lề các diễn đàn đa phương...).</li>

<li>Hai bên nhất trí tiếp tục sử dụng tốt "Phiên họp lần
6 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc" và
thực hiện tốt "Chương trình hành động triển khai Quan hệ
đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc"
được ký kết trong chuyến thăm này.</li>

<li>Hai bên nhất trí làm sâu sắc thêm hợp tác giữa hai
Đảng, thúc đẩy cơ chế giao lưu hợp tác giữa hai Ban Đối
ngoại và Ban Tuyên giáo, Tuyên truyền của hai Đảng vận hành
thuận lợi, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán
bộ Đảng và Nhà nước. Hai bên nhất trí phối hợp chặt
chẽ, cùng nhau tổ chức tốt Hội thảo lý luận hai Đảng lần
thứ 9, tăng cường hơn nữa trao đổi kinh nghiệm về xây dựng
Đảng và quản lý đất nước, thúc đẩy xây dựng Đảng và
đất nước ở mỗi nước.</li>

<li>Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa Bộ Ngoại giao
hai nước, thực hiện tốt Nghị định thư hợp tác giữa hai
Bộ Ngoại giao, duy trì trao đổi thường xuyên giữa lãnh đạo
hai Bộ Ngoại giao, tổ chức tham vấn ngoại giao thường niên
và tăng cường giao lưu cấp Cục, Vụ giữa hai Bộ Ngoại
giao.</li>

<li>Hai bên nhất trí duy trì tiếp xúc cấp cao giữa quân đội
hai nước (Đối thoại chiến lược quốc phòng cấp thứ
trưởng Bộ Quốc phòng), trao đổi kinh nghiệm công tác Đảng
và chính trị trong quân đội, tăng cường đào tạo cán bộ và
giao lưu sĩ quan trẻ ; thực hiện tốt "Thỏa thuận hợp tác
biên phòng giữa Bộ Quốc phòng hai nước Việt Nam-Trung Quốc"
(sửa đổi) ký kết trong chuyến thăm này, tiếp tục triển khai
tuần tra chung biên giới trên đất liền ; làm sâu sắc thêm
hợp tác biên phòng trên đất liền và trên biển, trong năm nay
triển khai hai đợt tuần tra chung giữa hải quân hai nước trong
Vịnh Bắc Bộ ; tăng cường trao đổi và điều phối trong các
vấn đề an ninh đa phương khu vực ; trao đổi nghiên cứu hình
thức mới, nội dung mới trong triển khai hợp tác quốc phòng,
làm sâu sắc thêm hợp tác giữa quân đội hai nước.</li>

<li>Hai bên nhất trí làm sâu sắc thêm hợp tác trong lĩnh vực
thực thi pháp luật và an ninh, giữ gìn trật tự trị an xã
hội cũng như xây dựng năng lực thực thi pháp luật, sớm
triển khai các hoạt động thực thi pháp luật chung trên các
lĩnh vực, duy trì an ninh và ổn định khu vực biên giới hai
nước. Hai bên nhất trí thúc đẩy triển khai giao lưu hợp tác
giữa cơ quan cảnh sát biển hai nước.</li>

<li>Hai bên nhất trí tăng cường điều phối chiến lược về
phát triển kinh tế, thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong các lĩnh
vực như nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, năng
lượng, khoáng sản, công nghiệp chế tạo và phụ trợ, dịch
vụ cũng như hợp tác khu vực "Hai hành lang, một vành đai" ;
thúc đẩy xây dựng các dự án hợp tác kinh tế - thương mại
quan trọng trong các lĩnh vực năng lượng, khu công nghiệp, kết
nối giao thông trên bộ, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực
tài chính, khuyến khích doanh nghiệp nước mình sang nước kia
đầu tư, tạo điều kiện an toàn và thuận lợi cho các doanh
nghiệp đầu tư.</li>

<li>Hai bên nhất trí tiếp tục làm sâu sắc thêm hợp tác trong
các lĩnh vực nông nghiệp, tăng cường giao lưu khoa học kỹ
thuật nông nghiệp và nâng cao năng lực trong lĩnh vực nông
nghiệp.</li>

<li>Hai bên nhất trí tăng cường giao lưu và hợp tác trong lĩnh
vực văn hóa, tổ chức tốt các hoạt động gặp gỡ hữu
nghị thanh niên Việ -Trung, diễn đàn nhân dân Việt-Trung…,
tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị Việt-Trung để gia
tăng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.</li>

<li>Hai bên nhất trí làm sâu sắc thêm giao lưu hợp tác trong
lĩnh vực khoa học công nghệ, khuyến khích và ủng hộ giới
nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ hai nước triển
khai hợp tác với nhiều hình thức như cùng nghiên cứu và phát
triển, cùng xây dựng phòng thí nghiệm chung, chuyển giao công
nghệ… trong các lĩnh vực hai bên quan tâm như nông nghiệp,
công nghệ thông tin, năng lượng mới, bảo vệ môi trường,
quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước…</li>

<li>Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa hợp tác giữa các
tỉnh, khu tự trị biên giới hai nước, nhất là giữa 7 tỉnh
của Việt Nam gồm Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao
Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh với 4 tỉnh (khu tự trị) của Trung
Quốc gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam ; phát huy
vai trò của cơ chế hợp tác liên quan giữa địa phương hai
nước; tập trung thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực kinh
tế-thương mại, cơ sở hạ tầng giao thông, khoa học, giáo
dục, văn hóa, y tế…; thúc đẩy các tỉnh, khu tự trị biên
giới hai nước cùng phát triển.</li>

<li>Hai bên nhất trí thực hiện nghiêm túc Kế hoạch công tác
của Ủy ban Liên hợp biên giới trên đất liền hai nước ;
thành lập Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới ; thúc
đẩy việc mở và nâng cấp các cửa khẩu biên giới giữa hai
nước ; tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng
của các cửa khẩu biên giới, cải thiện điều kiện và nâng
cao hiệu quả thông hành cho người, hàng hóa, phương tiện qua
cửa khẩu nhằm phục vụ việc qua lại và phát triển kinh tế
- thương mại giữa hai nước. Hai bên nhất trí tổ chức vòng
đàm phán mới "Hiệp định về quy chế tàu thuyền đi lại tự
do tại khu vực cửa sông Bắc Luân" và "Hiệp định về hợp
tác và khai thác phát triển du lịch khu vực thác Bản Giốc".
Hai bên sẽ tăng cường trao đổi và hợp tác kỹ thuật trong
các lĩnh vực quản lý sông suối biên giới, phòng chống thiên
tai lũ lụt, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước trên sông
suối xuyên biên giới.</li>

<li>Hai bên tiếp tục thực hiện tốt "Hiệp định hợp tác
nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ" ; tích cực nghiên cứu phương
thức kiểm tra liên hợp mới tại khu vực đánh cá chung ở
Vịnh Bắc Bộ.</li>
</ol>

<span class="underlined-text">Điểm 4.</span> Hai bên trao đổi ý
kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhất
trí việc Lãnh đạo hai Đảng, hai nước duy trì trao đổi và
đối thoại thường xuyên về vấn đề trên biển Việt
Nam-Trung Quốc, chỉ đạo và thúc đẩy giải quyết ổn thỏa
vấn đề trên biển xuất phát từ tầm cao chiến lược và
đại cục quan hệ hai nước.

Hai bên nhất trí dựa trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần
tự tiệm tiến, gia tăng cường độ đàm phán của Nhóm công
tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Hai bên hoan nghênh
Thỏa thuận sửa đổi liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung
trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ. Hai bên
nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm
phức tạp, mở rộng tranh chấp, đồng thời sử dụng tốt
đường dây nóng quản lý. Hai bên nhất trí thực hiện toàn
diện, có hiệu quả "Tuyên bố về cách ứng xử của các bên
ở Biển Đông" (DOC), cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định
ở Biển Đông.

<span class="underlined-text">Điểm 5.</span> Phía Việt Nam khẳng
định kiên trì thực hiện chính sách một nước Trung Quốc,
kiên quyết phản đối hành động chia rẽ "Đài Loan độc lập"
dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất cứ quan
hệ chính thức nào với Đài Loan.

<span class="underlined-text">Điểm 6.</span> Hai bên nhất trí tăng
cường điều phối và phối hợp tại các diễn đàn đa phương
như Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Diễn
đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, Diễn đàn hợp
tác Á - Âu, Diễn đàn khu vực ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN và
Trung Quốc, Hội nghị cấp cao ASEAN và Trung - Nhật - Hàn, Hội
nghị cấp cao Đông Á..., cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định
và thịnh vượng của thế giới.

<span class="underlined-text">Điểm 7</span>. Trong thời gian chuyến
thăm, hai bên đã ký 10 văn kiện chiến lược hợp btác toàn
diện :

<ol>
<li>"Chương trình hành động giữa Chính phủ Việt Nam và Chính
phủ Trung Quốc về việc triển khai quan hệ Đối tác hợp tác
chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc",</li>
<li>"Thỏa thuận hợp tác biên phòng giữa Bộ Quốc phòng hai
nước Việt Nam - Trung Quốc" (sửa đổi),</li>
<li>"Thỏa thuận giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thông Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc về việc thiết
lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất
của hoạt động nghề cá trên biển",</li>
<li>"Thỏa thuận giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam và Tổng cục giám sát chất lượng, kiểm nghiệm,
kiểm dịch Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực kiểm nghiệm,
kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu",</li>
<li>"Điều lệ công tác của Ủy ban hợp tác quản lý cửa
khẩu biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc",</li>
<li>"Bản ghi nhớ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung
Quốc về việc thành lập Trung tâm văn hóa tại hai nước",</li>
<li>"Bản ghi nhớ về kế hoạch hợp tác giai đoạn 2013-2017
giữa Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội hữu
nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc",</li>
<li>"Thỏa thuận sửa đổi lần thứ 4 giữa Tập đoàn dầu
khí Việt Nam và Tổng công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung
Quốc liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung trong khu vực thỏa
thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ",</li>
</ol>

- và nhiều văn kiện hợp tác kinh tế khác (từ 8 đến 10).

<span class="underlined-text">Điểm 8</span>. Hai bên nhất trí cho
rằng chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy
quan hệ hai nước phát triển.

(Làm tại Bắc Kinh, ngày 21 tháng 6 năm 2013)

<strong>Thấy gì qua bản Tuyên bố chung ngày 21/06/2013 ?</strong>

Theo bản Tuyên bố chung, "các cuộc thảo luận đã diễn ra trong
không khí thẳng thắn, hữu nghị, lãnh đạo hai nước đã đi
sâu trao đổi ý kiến và đạt nhận thức chung rộng rãi về
việc, làm sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện
Việt-Trung trong tình hình mới, cũng như về các vấn đề quốc
tế và khu vực cùng quan tâm". Xác nhận này không thuyết phục
vì thời gian thảo luận những vấn đề hệ trọng liên quan
đến tương lai đất nước trong vài ngày chắc chắn là không
đủ. Chắc chắn nội dung của những thỏa thuận đã được
hai bên trao đổi và thảo luận từ lâu, chuyến viếng thăm này
chỉ là để ký kết những gì đã đồng ý từ trước.

Nhiều câu hỏi đặt ra là :

<ul>
<li>Ông Trương Tấn Sang được ai, hay định chế nào cho phép,
hay ủy quyền ký những văn bản hệ trông liên quan đến tương
lai Việt Nam ?</li>
<li> Bộ Chính trị (tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng), Quốc
hội (chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng) và Chính phủ (thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng) đã có những nhận xét nào về nội dung bản
Tuyên bố chung ?</li>
<li> Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp và
thảo luận về nội dung bản Tuyên bố chung này bao nhiêu lần ?
Nếu có, tại sao không công bố trước quốc dân ?</li>
<li> Tại sao không công bố nội dunh những văn kiện vừa ký
với Trung Quốc ?</li>
<li> Có bao nhiêu người trong đảng và chính quyền cộng
sản, đúng ra là có bao nhiêu trung ương ủy viên (175 chính
thức và 25 dự khuyết) được tham khảo nội dung những văn
kiện thỏa thuận vừa ký này ?</li>
<li> Về phía "đại diện dân", tức những đại biểu quốc
hội, có bao nhiêu người được hỏi ý kiến về những văn
kiện vửa được ký kết ?</li>
</ul>

<div class="boxright300"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Phía đối lập lại càng
bết bát hơn, ưu tư chính của những người đấu tranh, những
blogger và tổ chức đối lập là biểu tình chống Trung Quốc
và bênh vực những người bị bắt và tố cáo chính quyền
cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền, khuynh hướng chung là
muốn anh hùng hóa những người bị bắt vì dám chống đối
chế độ. Không một tổ chức nào, hay một người nào có thể
đưa ra một chương trình tranh đấu và xây dựng đất nước
mang tính thuyết phục. Chỉ riêng thái độ anh hùng của Nguyễn
Phương Uyên và Đinh Vũ Kha trước tòa án cũng đã có hàng trăm
bài ca ngợi. Cuộc tuyệt thực của ông Cù Huy Hà Vũ trở thành
đề tài chính của giới truyền thông trong nhiều tuần.<img
class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor">» Nguyễn Văn Huy</div></div>

Trong 8 điểm của bản Tuyên bố chung, trừ điểm 1, nội dung 7
điểm còn lại đề cập đến sự hợp tác trong mọi lãnh vực
từ sự hợp tác giữa hai Đảng, giữa Bộ Ngoại giao hai
nước, giữa quân đội hai nước đến chiến lược hợp tác
trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, văn hóa, khoa học công
nghệ.

Riêng trong điểm 3, nội dung hai lãnh vực 5, 6 và 7, và từ 11
đến 13 rất đáng lo ngại.

<ul>
<li>Trong lãnh vực 5 : "Hai bên nhất trí duy trì tiếp xúc cấp
cao giữa quân đội hai nước (Đối thoại chiến lược quốc
phòng cấp thứ trưởng Bộ Quốc phòng), trao đổi kinh nghiệm
công tác Đảng và chính trị trong quân đội, tăng cường đào
tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ ; thực hiện tốt "Thỏa
thuận hợp tác biên phòng giữa Bộ Quốc phòng hai nước Việt
Nam-Trung Quốc" (sửa đổi) ký kết trong chuyến thăm này, tiếp
tục triển khai tuần tra chung biên giới trên đất liền ; làm
sâu sắc thêm hợp tác biên phòng trên đất liền và trên
biển, trong năm nay triển khai hai đợt tuần tra chung giữa hải
quân hai nước trong Vịnh Bắc Bộ ; tăng cường trao đổi và
điều phối trong các vấn đề an ninh đa phương khu vực ; trao
đổi nghiên cứu hình thức mới, nội dung mới trong triển khai
hợp tác quốc phòng, làm sâu sắc thêm hợp tác giữa quân
đội hai nước". Làm sao bảo vệ bí mật và khả năng chiến
đấu khi quân nhân Trung Quốc biết rõ và nắm vững cách đối
phó của quân đội Việt Nam khi hữu sự ? Đó là chưa kể khả
năng Trung Quốc uỷ thác Việt Nam mua những loại vũ khí hiện
đại của các quốc gia phương Tây, vì Trung Quốc vẫn còn bị
cấm vận, để sau đó chuyển giao lại cho Trung Quốc.</li>
<li> Trong lãnh vực 6 : "Hai bên nhất trí làm sâu sắc thêm
hợp tác trong lĩnh vực thực thi pháp luật và an ninh, giữ gìn
trật tự trị an xã hội cũng như xây dựng năng lực thực thi
pháp luật, sớm triển khai các hoạt động thực thi pháp luật
chung trên các lĩnh vực, duy trì an ninh và ổn định khu vực
biên giới hai nước. Hai bên nhất trí thúc đẩy triển khai giao
lưu hợp tác giữa cơ quan cảnh sát biển hai nước". Trên
nguyên tắc, quyền tự quyết của một quốc gia thể hiện qua
hệ thống pháp luật và pháp lý riêng, không thể có hợp tác
để thực thi pháp luật và an ninh chung của quốc gia này trên
quốc gia kia. Rõ ràng đây là một can thiệp trắng trợn vào
nội tình của quốc gia khác, hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam.
Điều này thể hiện qua những vụ bắt bớ và truy tố những
người xuống đường biểu tình chống Trung Quốc với những
bản án năng nề về tội danh "chống nhà nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam". Tại Việt Nam hiện nay, chống Trung
Quốc là chống nhà nước Việt Nam.</li>
<li> Trong lãnh vực 7 : "Hai bên thúc đẩy thúc đẩy xây
dựng các dự án hợp tác kinh tế - thương mại quan trọng trong
các lĩnh vực năng lượng, khu công nghiệp, kết nối giao thông
trên bộ, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính, khuyến
khích doanh nghiệp nước mình sang nước kia đầu tư, tạo
điều kiện an toàn và thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu
tư". Những thỏa thuận này chỉ có lợi cho Trung Quốc chứ
không mang lại lợi ích nào cho kinh tế Việt Nam, vì doanh nhân
Việt Nam không có vốn đểsang Trung Quốc đầu tư. Hơn nữa
trong lãnh vực này, Trung Quốc có quyền đến khai thác năng
lượng ngoài khơi Việt Nam vì đó là hợp tác năng lượng, và
khi đã vào rồi thì sẽ không chịu ra và còn cố ý ở lại
để chiếm giữ luôn, như họ đã làm trên đất liền tại
những nơi đã được cấp nhượng khai thác, như trồng cây ở
những vùng đầu nguồn Việt Bắc và bauxite Tây Nguyên.</li>
<li> Trong lãnh vực 11 : "Hai bên nhất trí tăng cường hơn
nữa hợp tác giữa các tỉnh, khu tự trị biên giới hai nước,
nhất là giữa 7 tỉnh của Việt Nam (Điện Biên, Lai Châu, Lào
Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) với 4 tỉnh (khu
tự trị) của Trung Quốc gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam,
Vân Nam ; phát huy vai trò của cơ chế hợp tác liên quan giữa
địa phương hai nước ; tập trung thúc đẩy hợp tác trong các
lĩnh vực kinh tế-thương mại, cơ sở hạ tầng giao thông, khoa
học, giáo dục, văn hóa, y tế…; thúc đẩy các tỉnh, khu tự
trị biên giới hai nước cùng phát triển". Ai hay cơ chế nào
trong chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay đã thảo luận
về sự thành lập khu biên giới tự trị này ? Hậu ý lâu dài
của sự hình thành khu vực này có nhằm khuyến khích 7 tỉnh
biên giới của Việt Nam thành một khu tự trị thoát khỏi sự
chỉ đạo của Hà Nội ? Kinh nghiệm đau thương của những khu
tự trị Thái Mèo (1956-1959), Việt Bắc (1956-1959) hay Cao Bắc
Lạng cũ và Lào Hạ Yên (1957-1959) vẫn còn đó, ngay sau khi
được hưởng qui chế tự trị những cấp lãnh đạo địa
phương đã mang toàn bộ lãnh thổ dưới quyền cai trị của
mình xin gia nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Nếu lãnh đạo 7
tỉnh biên giới Việt Nam xin hội nhập vào lãnh thổ Trung
Quốc, Hà Nội dám đưa quân lên chiếm lại hay không ?</li>
</ul>
Trong những lãnh vực 12 và 13, gồm các mục hợp tác dọc
vùng biên giới đất liền, hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc
Bộ. Rõ ràng đây là cuộc xâm lược không gây ra chiến tranh.
Trong hai lãnh vực này, phía Việt Nam vừa thiếu vốn vừa
thiếu phưong tiện thì làm sao có thể cạnh tranh với những
công ty, xí nghiệp Trung Quốc dọc vùng biên giới và khai thác
nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ ?

Riêng Điểm 5 thì khó có thể khẳng định chính sách ngoại
giao độc lập của Việt Nam như ông Phạm Bình Minh xác nhận.
Nếu là một nền ngoại giao đỗc lập thì không thể có những
khẳng định chắc nịch về một chính sách nội bộ của Trung
Quốc, như "khẳng định kiên trì thực hiện chính sách một
nước Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan
phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung
Quốc", và cũng không thể "kiên quyết phản đối hành động
chia rẽ "Đài Loan độc lập" dưới mọi hình thức". Nếu
là một quốc gia độc lập, chính quyền Việt Nam không thể
tuyên bố "không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào
với Đài Loan", vì không đúng với sự thực : hiện nay doanh
nhân Đài Loan tự do đến Việt Nam đầu tư, cô dâu Việt Nam
được tự do lấy chống Đài Loan và hiện nay có hàng trăm
ngàn người Việt Nam được đưa sang Đài Loan lao động. Honn
nữa nếu là một quốc gia độc lập, bản Tuyên chung chung
không thể có câu "Phía Trung Quốc hoan nghênh lập trường trên
của Việt Nam", vì đây rõ ràng là lời khen của một kẻ cả.

Nói tóm lại, qua Tuyên bố chung này, khó có thể biện bạch
Việt Nam là một quốc gia độc lập với Trung Quốc, nếu không
muốn nói chính quyền cộng sản Việt Nam đang chuyển giao
quyền lãnh đạo đất nước sang tay người Trung Quốc. Theo
nội dung của bản Truyên bố chung, Trung Quốc có quyền tham gia
vào tất cả mọi lãnh vực sinh hoạt chính trị và kinh tế
của Việt Nam, trong khi đó phía Việt Nam không thể và cũng
không đủ điều kiện để tham gia ngược lại.

Những người tranh đấu vì tự do và dân chủ cho Việt Nam, hãy
vượt lên trên những ưu tư hạn hẹp về nhân thân của mình
để lên tiếng tố cáo ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam
đang chuyển giao chủ quyền đất nước cho ngoại bang. Phải
lên tiếng và mạnh dạn lên tiếng

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130630/nguyen-van-huy-mot-su-im-lang-kho-hieu),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Bạo loạn xảy ra tại trại giam Xuân Lộc, nơi giam giữ tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức

Theo nguồn tin Dân Luận vừa nhận được, lúc 7h sáng ngày
30/6/2013 đã xảy ra bạo loạn toàn phân trại tại Phân trại 1,
trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai.

Nguyên nhân vụ bạo loạn là vì những tù nhân ở đây thường
xuyên bị đánh đập, chế độ ăn uống bị cắt xén, v.v...

Hiện tại các tù nhân đang giữ làm con tin là ông Hồ Phi
Thắng, giám thị trại Xuân Lộc phía bên trong.

Đây cũng là nơi giam giữ nhiều tù nhân lương tâm, bao gồm
Trần Huỳnh Duy Thức, Việt Khang, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Phan
Ngọc Tuấn, Nguyễn Ngọc Cường...

Những người tù vừa dùng số điện thoại: 0962467908 (của tù
nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Cường) để liên lạc ra ngoài.

Hiện các tù nhân đang làm chủ tình hình bên trong, công an
không xâm nhập vào được. Các blogger bên ngoài đang thúc giục
truyền thông lên tiếng sớm về vụ việc để hỗ trợ và
tránh cho các tù nhân bị đàn áp.

Dân Luận sẽ tiếp tục theo dõi và đưa tin về vụ việc này.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/node/20832), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Ngô Nhân Dụng - Người Việt ở Mỹ nghèo hơn và học thấp hơn

Chắc nhiều người Việt ngạc nhiên khi nghe một cuộc nghiên
cứu tìm trong các số thống kê thấy rằng người Mỹ gốc
Việt thua kém các sắc dân gốc Châu Á khác, về hai mặt, lợi
tức và trình độ học vấn. Dù ngạc nhiên hay không, chúng ta
cũng nên chú ý đến kết luận này, và thử tìm hiểu nguyên
do. Nhất là khi, mới đầu tuần này, chúng ta đặt cho nhau câu
hỏi: Có hãnh diện làm người Việt Nam hay không?

<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEifZbScPTtorke4uC4SMAy0bs2dJHFhFY0cDJ7ImbPsZjUB8p2uYM-Euia4Xco_I1tTW8XF15ZLU6vn6YHC3npcXh0DsARoP3yDpPyoIkBRBmUYAV8-dvLdeQ-8U14NUOIex9c7OYqpAQ/s263/images.jpg"
/></center>

Ðã nhiều người nghiên cứu về di dân Châu Á ở nước Mỹ.
Mới nhất, là hai giáo sư phân khoa Xã hội học thuộc Ðại
Học Brown (Brown University). John R. Logan và Weiwei Zhang đã đặt
tựa cho công trình khảo cứu của họ là "Tách biệt nhưng
Bình đẳng" (Separate but Equal). Hai tác giả được lợi hơn
những nhà nghiên cứu đi trước; vì họ có thể sử dụng và
so sánh các dữ liệu mới, thu thập được sau ba cuộc kiểm kê
dân số ở Mỹ, 1990, 2000 và 2010.

Trong các tài liệu mới, người ta không gom tất cả các di dân
từ Châu Á vào một nhóm, mà phân tách ra các nguồn gốc quốc
gia khác nhau. Nhờ thế, người nghiên cứu không những có thể
phân biệt và so sánh người di dân gốc Á với các thành phần
khác trong xã hội Mỹ mà còn phân biệt kỹ hơn, thí dụ sẽ
thấy người Việt Nam khác với người Trung Hoa hoặc Hàn Quốc.

Chính vì vậy, đọc trong bài khảo cứu của Logan và Zhang,
chúng ta sẽ biết nhiều điểm riêng biệt trong lối sống
người Việt ở Mỹ, mà khi nhà quan sát coi tất cả các di dân
từ Châu Á giống nhau thì không thấy được. Khi biết người
Việt có những điểm tương đồng hoặc khác biệt với các di
dân Châu Á khác, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về cộng đồng
người Việt ở nước Mỹ. Nhân đó, chúng ta sẽ tìm hiểu xem
nguyên do nào đã gây ra những khác biệt giữa người Việt và
các cộng đồng di dân Châu Á khác.

Hai tác giả chọn sáu sắc dân Châu Á đông nhất ở Mỹ, là
Trung Hoa, Ấn Ðộ, Phi Luật Tân, Hàn Quốc, Việt Nam, và Nhật
Bản. Di dân Châu Á tại Mỹ là nhóm "thiểu số" gia tăng
nhanh nhất ở Mỹ, tăng 250% giữa hai cuộc kiểm tra 1990 và 2010;
tổng cộng hiện nay lên tới 18 triệu người; vào năm 1990 số
người nói tiếng Tây Ban Nha (Hispanics) cũng chỉ chừng đó.
Trong số người gốc Á Châu, tăng nhanh nhất là người Ấn
Ðộ, lên gấp bốn lần trong 20 năm đó. Nhưng tổng số người
Ấn Ðộ hiện chỉ có 3.2 triệu người, còn thua người gốc
Trung Hoa (4 triệu) và Phi Luật Tân (3.4 triệu).

Có nhiều điểm tương đồng giữa người gốc Việt và các
sắc dân Châu Á khác. Di dân Á Châu tương đối khá giả hơn
các dân Mỹ khác không da trắng; thí dụ chỉ có 6% sống dưới
"mức nghèo khó" trong khi tỷ lệ lên tới 15% khi tính chung
tất cả những người gốc di dân. Người Á Châu nói chung
tương đối có lợi tức ngang bằng hoặc cao hơn người Mỹ da
trắng. Nhưng dù là người Việt hay người Trung Hoa, họ cũng
giống người Mỹ gốc Phi Châu hoặc gốc nói tiếng Tây Ban Nha,
là thường sống gom lại gần nhau hơn là hòa nhập vào xã hội
người Mỹ da trắng. Các khu Little Sài Gòn cũng như các phố
Tàu, là trung tâm thu hút những người cùng tổ tiên. Khi nói
đến tình trạng quy tụ, tập trung sống với nhau, của người
Mỹ da đen (gốc Phi Châu) hoặc nói tiếng Tây Ban Nha, thì lý do
chính thường vì họ đều sống trong những khu nghèo. Nhưng
người gốc Châu Á quy tụ lại không phải vì lợi tức thấp,
mà vì lý do văn hóa.

Phần lớn họ sinh ra ở quê cũ, nên vẫn giữ các phong tục
cũ. Chỉ trong đám người gốc Nhật là số người sinh ra tại
Nhật Bản có tỷ lệ thấp nhất, chỉ chiếm khoảng 35% vào
năm 1990 và tăng lên thành 40% vào năm 2010. Tỷ số thấp của
người gốc Nhật trong hiện tượng này có lý do dễ hiểu. Họ
là lớp di dân Á Châu đến nước Mỹ sớm nhất, đặc biệt
đến nước Mỹ làm công nhân từ thế kỷ 19. Ngoài ra, có một
thời gian chính phủ Mỹ kỳ thị, không chấp nhận di dân gốc
Nhật. Còn người gốc Việt và gốc Hàn Quốc thì có tới 80%
sinh ở chính quán; chỉ có 20% sinh ra ở Mỹ.

Nếp sống của họ khác người Mỹ cho nên tự nhiên họ cũng
muốn sống gần gũi hơn với những người cùng chia sẻ các
tập quán, thức ăn, và nhất là tiếng nói. Nhiều người không
sinh ở Mỹ gặp khó khăn suốt đời khi muốn nói đúng tiếng
Anh. Dù sao, yếu tố chính thu hút người di dân gốc Á quy tụ
lại chính là văn hóa chứ không phải kinh tế. Các cuộc nghiên
cứu trước đây tại New York và Los Angeles đã thấy những di
dân khá giả gốc Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Ðộ, và Phi Luật
Tân đều thích sống trong các khu đông người cùng gốc.

Người Mỹ gốc di dân Ấn Ðộ có trình độ học vấn cao
nhất, trong bình có 15.5 năm học, tức là tốt nghiệp đại
học.

Vì thế, lợi tức những người này cũng cao hơn người Mỹ
trắng trung bình, chừng 35,000 đô la một năm. Ðứng hàng thứ
nhì là người Phi Luật Tân.

Tất cả các di dân gốc Á Châu có số năm học chính thức
trung bình cao hơn người Mỹ gốc da trắng, trừ người gốc
Việt. Người gốc Việt Nam có lợi tức thấp hơn cả và số
năm học chính thức ngắn hơn so với các sắc dân Châu Á khác,
cũng như người gốc Hàn Quốc. Lợi tức bình quân những di
dân Nhật Bản và Trung Hoa nằm vào khoảng giữa hai nhóm trên.

Nhiều chỉ số xã hội kinh tế khác cho thấy người Việt Nam
lép vế. Ðó là sắc dân có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn cả,
tỷ lệ số người sống dưới mức nghèo cao hơn, và tỷ số
người nhận trợ cấp xã hội cũng cao hơn các sắc dân Châu Á
khác. Tuy lợi tức thấp nhất trong nhóm này nhưng người Việt
trung bình cũng xấp xỉ bằng người Mỹ gốc da trắng mà không
gốc nói tiếng Tây Ban Nha. Hai tác giả bài nghiên cứu giải
thích tình trạng kinh tế xã hội thấp của người Việt Nam là
vì đại đa số họ là những người tị nạn chính trị chứ
không phải di dân bình thường.

Người Việt Nam có lẽ hiểu rõ tình trạng này hơn. Hàng
triệu người Việt sang nước Mỹ và các nước Tây phương
với hai bàn tay trắng. Không riêng gì những thuyền nhân chạy
trốn cộng sản từ 1975 cho đến 1990, ngay cả các người sang
Mỹ đoàn tụ hoặc định cư với lý do nhân đạo (HO) cũng
tới Mỹ để bắt đầu cuộc đời mới. Những di dân tị nạn
này tới nước Mỹ khi đã lớn tuổi, từ 50 tuổi trở lên, và
nhiều người không nói một tiếng Anh; nếu may mắn lắm thì
họ cũng chỉ kiếm được những việc làm lương thấp.

Ðiều khiến nhiều người Việt kinh ngạc là tại sao số năm
học của di dân gốc Việt lại thấp hơn các sắc dân Châu Á
khác? Bởi vì muốn so sánh trình độ học vấn cho đúng nhất
thì phải so sánh giữa các người gốc Châu Á thuộc thế hệ
thứ hai trở đi. Số người Việt và người Hàn Quốc sinh ở
nước tổ cao hơn cho thấy đa số là các di dân đời thứ
nhất.

Nói chung, người gốc Châu Á có lợi tức và số năm học cao
hơn người Mỹ da trắng trung bình. Hai sắc dân có trình độ
học vấn cao nhất là Ấn Ðộ và Phi Luật Tân. Chúng ta biết
rằng đại đa số người gốc Ấn Ðộ sang Mỹ sau khi đã tốt
nghiệp đại học bên xứ họ, vì nước Ấn Ðộ sản xuất
nhiều kỹ sư hơn khả năng tiếp nhận của công nghiệp nước
họ; những người Ấn Ðộ học thấp hơn bậc đại học có
thể là vợ con, cha mẹ của các di dân này. Ða số người Phi
Luật Tân được di cư sang Mỹ vì họ làm những nghề mà dân
Mỹ đang thiếu. Họ là các y tá, chuyên môn săn sóc người già
và người bệnh. Những nghề đó đều đòi hỏi bằng cấp
bậc đại học. Vì số người đó chiếm đa số cho nên họ
cũng nâng số lợi tức trung bình của tất cả các di dân gốc
Phi Luật Tân. Mặt khác, số người gốc Phi Luật Tân ở Mỹ
tụ tập ở quần đảo Hawaii rất đông; và họ đã tới nơi
này từ nhiều đời. Do đó, nếu tài sản và lợi tức bình
quân của họ cao hơn các sắc dân khác cũng dễ hiểu. Các sắc
dân như Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản thì đa số cũng đến
vùng đất mới này sớm hơn cộng đồng người gốc Việt và
họ ra đi với họ được chuẩn bị về cả nghề nghiệp và
vốn liếng trước khi ra đi; khác với những người liều chết
ra biển đi tìm tự do.

Cuối cùng, bài nghiên cứu của John R. Logan và Weiwei Zhang kết
luận rằng người di dân gốc Châu Á ở Mỹ có thể coi là
ngang hàng, hoặc có trình độ cao những người Mỹ tới khai
phá đất này sớm nhất, là những người gốc da trắng.
Người gốc Việt Nam có thể coi là ngang hàng, vì lợi tức
bình quân chỉ kém người Mỹ da trắng khoảng 300 đô la một
năm, và số người tốt nghiệp đại học cũng chỉ thấp hơn
2% mà thôi. Với tất cả những thiệt thòi của những người
chạy khỏi quê hương đi tị nạn, tình trạng đó cũng đáng
coi là một điều đáng hãnh diện.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130630/ngo-nhan-dung-nguoi-viet-o-my-ngheo-hon-va-hoc-thap-hon),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Đinh Thế Hưng - Hiến pháp Việt Nam và quyền bình đẳng trước pháp luật

Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người.
Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp
luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền
<strong>có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp
luật bảo vệ như nhau.</strong> Nó được xem xét ở các cấp
độ khác nhau. Trước hết, quyền bình đẳng trước pháp luật
được thể hiện là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với
tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có.
Thứ hai, quyền bình đẳng trước pháp luật là một giá trị
của xã hội loài người. Thứ ba, người ta thực hiện quyền
bình đẳng đó bằng công cụ pháp luật thông qua việc thể
chế hóa và tạo ra cơ chế bảo vệ khi nó bị xâm phạm. Nói
cách khác, quyền bình đẳng trước pháp luật là sự bao quát
gần như toàn bộ các quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực
như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dưới vùng "phủ
sóng" của pháp luật. Điều này được quyết định bởi
thuộc tính, vai trò của pháp luật trong xã hội với tư cách
là các quy phạm do nhà nước ban hành, thừa nhận và đảm bảo
thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Một trong
những nguyên tắc quan trọng trong điều chỉnh pháp luật là
bình đẳng. Cách tiếp cận này phù hợp với các Điều 6, 7
Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR) quy định về quyền
bình đẳng và quyền bình đẳng trước pháp luật<em> mà Công
ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 đã cụ thể
hóa.</em>

<strong>1. Khái niệm quyền bình đẳng trước pháp luật</strong>

<strong><em>a. Mối quan hệ giữa tự do, bình đẳng và pháp
luật</em></strong>

Tự do, bình đẳng, pháp luật là những khái niệm có quan hệ
với nhau. Trong đó, bình đẳng là cội nguồn của tự do còn
pháp luật là sự giới hạn cần thiết cho cả tự do và bình
đẳng. Nói cách khác, để đánh giá ở đâu đó có tự do và
bình đẳng hay không hãy nhìn vào pháp luật. J.J. Rouseau viết
tác phẩm kinh điển "Khế ước xã hội" bắt nguồn từ
nỗi trăn trở: "Con người sinh ra đã tự do nhưng ở đâu nó
cũng bị xiềng xích". Cái xiềng xích mà Rouseau muốn nhắc
đến đó chính là quyền lực nhà nước thông qua pháp luật
đã tước bỏ, hạn chế các quyền con người trong đó có
quyền bình đẳng. Trong xã hội có nhà nước với tư cách là
sản phẩm của sự tự do khế ước thì không thể có tự do
nếu không có sự bình đẳng thật sự giữa các thành viên
trong xã hội với nhau. Bản chất của sự bình đẳng là công
nhận các giá trị như nhau của các thành viên xã hội trong
tất cả các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, xã hội và pháp
luật. Bình đẳng được xét dưới hai góc độ là bình đẳng
thực tế và bình đẳng pháp lý. Bình đẳng thực tế là sự
bình đẳng về xã hội. Đó là sự bằng nhau về các cơ hội
hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm
hoặc nhiều nhóm trong xã hội. Nói cách khác, bình đẳng
trước pháp luật là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp
lý. Về mối quan hệ giữa bình đẳng và pháp luật, Mác đã
nói: "Về bản chất, pháp luật chỉ có thể là sự vận
dụng một đại lượng ngang bằng với những người khác
nhau". Đại lượng ngang bằng ở đây là pháp luật. Bởi lẽ,
các giá trị về bình đẳng trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống được xã hội thông qua nhà nước và thể chế hóa thành
pháp luật. Pháp luật trở thành thước đo mang tính chuẩn mực
cho sự bình đẳng bởi đỉnh cao nhất của các hệ thống lập
pháp quy gọn vào hai mục tiêu: <em>Tự do và bình đẳng</em>.

Dưới góc độ pháp lý, quyền con người trong đó có quyền
bình đẳng trước pháp luật là một quan hệ pháp luật mà
mỗi bên tham gia quan hệ đó đều có quyền và nghĩa vụ pháp
lý. Quan hệ về bình đẳng chỉ được xác lập trên cơ sở
của tự do và tự nguyện.

Khi giải thích về quyền bình đẳng trước pháp luật, Lê-nin
cho rằng: "Khi những người theo chủ nghĩa xã hội nói về
bình đẳng thì có nghĩa là sự bình đẳng mang tính xã hội,
bình đẳng về địa vị xã hội chứ không phải sự bình
đẳng về khả năng thể chất hoặc tinh thần"<a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat/#ref1">[1]</a>.
Từ đó có thể thấy, quyền bình đẳng trước pháp luật là
quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội và nó phải được ghi nhận và bảo vệ bằng
pháp luật. Chính pháp luật cũng giới hạn sự bình đẳng với
sự bình quân chủ nghĩa và không thể có bình đẳng nếu có
người đứng cao hơn pháp luật. Quan niệm như vậy sẽ hóa
giải được mâu thuẫn giữa hai lý thuyết về nguồn gốc
quyền con người và phù hợp với đặc tính của quyền con
người là: tính hiện thực và tính được thể chế hóa thành
luật.

Từ logic này có thể khẳng định, quyền con người là cái có
trước và nhà nước với công cụ là pháp luật chỉ làm
nhiệm vụ ghi nhận và bảo vệ. Quyền bình đẳng tuyệt đối
không phải là sự ban phát hay có thể xin – cho từ phía nhà
nước mà nhà nước chỉ ghi nhận, đảm bảo thực hiện và
bảo vệ khi nó bị xâm phạm.

Việc đánh giá có bình đẳng hay không bình đẳng trước pháp
luật nhiều khi còn ở chỗ quan niệm thế nào là bình đẳng
trước pháp luật và pháp luật ở đây là thứ pháp luật như
thế nào? Bình đẳng là sự đối xử như nhau nhưng có lẽ
không chỉ dừng ở đó. Bình đẳng được hiểu theo chiều
dọc và chiều ngang. Đó là sự đối xử như nhau đối với
những người có hoàn cảnh như nhau và đối xử khác nhau với
những người có hoàn cảnh khác nhau. Cùng một chủ thể kinh
doanh được điều chỉnh bằng pháp luật như nhau. Cùng là con
người nhưng nam giới có tuổi nghỉ hưu muộn hơn nữ giới.
Cùng một hành vi phạm tội như nhau nhưng những người chưa
thành niên không phải chịu mức án tử hình… Đó là những
biểu hiện của bình đẳng theo chiều dọc mà mới nhìn tưởng
như là sự bất bình đẳng.

<strong><em>b. Quyền được pháp luật xác nhận tư cách con
người</em></strong>

Trong tác phẩm <em>Bàn về bất bình đẳng</em>, J.J. Rouseau
viết:"Những kẻ quyền thế luôn tìm mọi cách để bênh vực
cho sự bất bình đẳng. Họ giải thích rằng, bất bình đẳng
là một quy luật tự nhiên, cũng như bàn tay có ngón ngắn, ngón
dài. Nhân dân rên rỉ dưới sự áp bức của họ thì họ lại
dẫn Kinh thánh ra để bịt miệng thiên hạ"<a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat/#ref2">[2]</a>.
Dưới góc độ tự nhiên – sinh học, con người sinh ra đúng
là bất bình đẳng. Nhưng con người không chỉ tồn tại với
một mặt tự nhiên. Bản chất của con người là sinh vật xã
hội tức là luôn phải tồn tại trong mối quan hệ với nhau.
"Đời sống con người, nếu không hợp thành xã hội sẽ là
đời sống gian nan, cô đơn, tàn nhẫn và ngắn ngủi". Nói
cách khác, hợp thành xã hội cũng là bản chất tự nhiên của
con người để phân biệt với các sinh vật không phải là con
người. Tính xã hội của con người làm phát sinh nhu cầu về
bình đẳng. Bởi lẽ, xã hội loài người chỉ có thể tồn
tại một cách trật tự khi có điều kiện: mọi cá nhân trong
xã hội đều được những thành viên khác thừa nhận với tư
cách là con người trong mọi mối quan hệ xã hội. Chính vì
vậy, bình đẳng ở đây không phải là sự bình đẳng về
những thuộc tính sinh học – tự nhiên mà là sự bình đẳng
về tư cách con người trong xã hội. Đó là được thành viên
khác, xã hội và nhà nước đối xử như là một thành viên
trong xã hội có đầy đủ các phẩm chất, các quyền của một
con người: quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh
phúc… Quyền bình đẳng là một quyền tự nhiên của con
người. Muốn có quyền bình đẳng trước pháp luật thì một
người phải được pháp luật thừa nhận tư cách con người.

Sự bình đẳng hay bất bình đẳng trước pháp luật ở các
giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội loài người, xét cho
cùng chính là nằm ở việc nhà nước và pháp luật xác định
tư cách con người trong xã hội đó. Sở dĩ người ta đánh giá
xã hội chiếm hữu nô lệ là một xã hội điển hình cho một
xã hội bất bình đẳng là bởi người nô lệ không được coi
là một con người mà chỉ là công cụ biết nói thuộc sở
hữu của chủ nô. Nói cách khác, xã hội chiếm hữu nô lệ,
sự bình đẳng (nếu có) chỉ là sự bình đẳng của các cá
nhân chủ nô với nhau. Chính vì vậy "người thời cổ sẽ coi
là điên rồ cái ý kiến cho rằng người Hy-lạp và người dã
man, người tự do và nô lệ, công dân và dân bị bảo hộ,
công dân Rô-ma và thần dân Rô-ma (hiểu theo nghĩa rộng) đều
có thể đòi hỏi một giá trị chính trị ngang nhau"<a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat/#ref3">[3]</a>.

<strong><em>c. Quyền không bị pháp luật phân biệt đối
xử</em></strong>

Quyền bình đẳng trước pháp luật có nội dung thứ hai đó là
quyền không bị pháp luật phân biệt đối xử trong việc
hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ. Như trên đã
nói, con người sinh ra có thể khác nhau về chủng tộc, giới
tính, tín ngưỡng, tôn giáo và địa vị xã hội; tuy nhiên, đó
không phải là căn cứ để pháp luật phân biệt trong việc
hưởng các quyền và chịu trách nhiệm pháp lý. Ngược lại,
pháp luật luôn đặt giá trị bình đẳng làm thước đo, tiêu
chuẩn để lấp đầy khoảng cách không bình đẳng đó bằng
việc quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Quyền
bình đẳng trước pháp luật, không bị pháp luật phân biệt,
đối xử còn có khía cạnh khác, đó là quyền được hưởng
tất cả các quyền con người như nhau ở mọi nơi, mọi lúc và
mọi hoàn cảnh.

Trong xã hội phong kiến, ở mức độ nào đó đã có sự bình
đẳng hơn về tư cách con người giữa giai cấp phong kiến và
người nông dân. Tuy nhiên, ở đây vẫn tồn tại sự phân
biệt đối xử trong đó có sự phân biệt đối xử trước
pháp luật ở những người có đẳng cấp xã hội khác nhau.
Căn nguyên là ở chỗ, trong xã hội phong kiến, nhà nước và
pháp luật chia con người thành những đẳng cấp khác nhau. Nói
cách khác, có sự bình đẳng về tư cách con người nhưng
<em>có sự phân biệt về việc hưởng thụ c</em>ác quyền và
nghĩa vụ con người. Kiểu như <em>lễ nghĩa không tới thứ
dân, hình phạt không đến trượng phu</em>. Chính sự bất bình
đẳng trong xã hội phong kiến là nguyên nhân của cách mạng tư
sản mà ngọn cờ của nó là tự do, bình đẳng. Sẽ không bao
giờ có quyền bình đẳng – trong đó có bình đẳng trước
pháp luật – nếu trong xã hội còn tồn tại một nhóm người
tự cho mình những đặc quyền, đặc lợi, tự cho mình ở vị
trí cao hơn so với những thành viên khác trong xã hội.

<strong><em>d. Quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình
đẳng</em></strong>

Quyền con người luôn đứng trước nguy cơ bị xâm hại từ
nhiều phía. Đó có thể là các cá nhân khác trong xã hội, cũng
có thể từ phía công quyền. Khi những quyền đó bị xâm hại
dưới góc độ bình đẳng trước pháp luật, con người đều
có quyền được pháp luật bảo vệ như nhau với các quyền
pháp lý nhất định. Bảo vệ quyền bình đẳng này cũng là cơ
sở để bảo vệ các quyền khác của con người.

Quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng là nhu
cầu đòi hỏi cần có phương tiện, công cụ pháp lý từ phía
nhà nước; được thể hiện ở hai khía cạnh: được bảo vệ
quyền một cách bình đẳng và quyền được bảo vệ quyền
bình đẳng. Bảo vệ quyền, xét ở cả hai khía cạnh này đều
là việc trong pháp luật ghi nhận các quyền bình đẳng và tạo
ra cơ chế bảo vệ quyền đó khi nó bị xâm phạm. Nội dung
của quyền bình đẳng trong bảo vệ quyền đòi hỏi mọi hành
vi vi phạm đều phải bị xử lý như nhau trước pháp luật.
Tòa án đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ quyền con
người và quyền bình đẳng trước pháp luật. Một tòa án
công bằng phải là hiện thân của công lý, là nơi phẩm giá
con người đứng trước tòa được thừa nhận như nhau và
được bảo vệ như nhau. Tòa án án không phải là công cụ
chuyên chính, không phải nơi để chà đạp, xúc phạm, hạ
nhục nhân phẩm con người. Không phải ngẫu nhiên mà Công
ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 nhấn mạnh đến
quyền được xét xử một cách bình đẳng, công bằng trước
tòa án. Không thể có tình trạng khi vi phạm pháp luật thì
người này bị xử lý kỷ luật nội bộ, người khác bị tòa
án xét xử; càng không thể để tình trạng một người nào
đó bị cho là phạm tội nhưng lại không được xét xử
trước tòa. Đều <em>bị </em>xét xử trước tòa và đều
<em>được</em> xét xử trước tòa đó là hai mặt của bình
đẳng trước pháp luật xét dưới góc độ cơ chế bảo vệ.

Như vậy, từ chỗ trong xã hội có những người không được
thừa nhận là con người, giữa con người với nhau còn sự
phân biệt đối xử đến việc công nhận: <em>mọi người
đều được ghi nhận tư cách con người trước pháp luật</em>
cho thấy quyền bình đẳng là một trong những giá trị vĩ
đại của văn minh nhân loại. Nó là kết quả của cuộc đấu
tranh lâu dài và gian khổ của loài người. Nó không là một
giá trị nhất thành bất biến mà có quá trình phát sinh, phát
triển theo hướng luôn được làm mới và bổ sung cùng với
sự phát triển của xã hội loài người. Các giá trị đó
được thể hiện ở nhiều lĩnh vực, trong đó tập trung nhất
là các văn kiện quốc tế về quyền con người xuất hiện từ
thời cách mạng tư sản đến nay.

<strong>2. Sự tương thích giữa pháp luật quốc tế và Việt Nam
trong việc thể chế hóa quyền bình đẳng trước pháp
luật</strong>

Quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng trước pháp
luật có đặc tính thể chế hóa thành pháp luật (các quyền
và nghĩa vụ, cơ chế bảo đảm và bảo vệ nó…). Sự thể
chế hóa này nhằm đảm bảo tính hiện thực của quyền con
người và được thể hiện dưới cấp độ quốc tế và quốc
gia.

<strong><em>Ở cấp độ quốc tế:</em> </strong>Quyền bình đẳng
trước pháp luật được ghi trong Tuyên ngôn nhân quyền 1948. Tuy
nhiên, đây mới chỉ là tuyên bố mà các nhà nước có thể
tiếp thu chứ không mang giá trị ràng buộc. Điều 6 Tuyên ngôn
nhân quyền 1948 tuyên bố: <em>Mọi người đều có quyền
được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở
mọi nơi</em>. Điều 7, Tuyên ngôn khẳng định: <em>Mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo
vệ một cách bình đẳng mà không có bất cứ sự phân biệt
nào.</em>

Quyền bình đẳng trước pháp luật đã phát triển thêm một
bước khi nó được đưa vào Công ước về quyền dân sự,
chính trị 1966 với tư cách là một văn bản quy phạm pháp
luật quốc tế có giá trị ràng buộc pháp lý với các quốc
gia tham gia và được cụ thể hóa hơn so với Tuyên ngôn nhân
quyền 1948. Không những vậy, nó còn là nguyên tắc của luật
nhân quyền quốc tế được thể hiện ở nhiều công ước
quốc tế khác nhau về các quyền con người. Không chỉ khẳng
định, chi tiết hóa, Công ước quyền con người 1966 còn tạo
ra cơ chế để bảo vệ quyền con người. Điều 26, 27 Công
ước này quy định: <em>Mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật, và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ
thị. Trên phương diện này, luật pháp cấm mọi kỳ thị và
bảo đảm cho tất cả mọi người quyền được bảo vệ một
cách bình đẳng và hữu hiệu chống mọi kỳ thị về chủng
tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan
niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay
bất cứ thân trạng nào.</em>

<strong><em>Ở cấp độ quốc gia</em></strong>: Quyền bình đẳng
trước pháp luật ở Việt Nam đã được thể hiện ngay từ
Hiến pháp 1946 – một bản Hiến pháp được ca ngợi ở nhiều
phương diện trong đó có phương diện bảo vệ quyền con
người và quyền bình đẳng trước pháp luật. Chẳng hạn
Điều 6, 7 Hiến pháp 1946 quy định: "Tất cả công dân Việt
Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế,
văn hoá"; "Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng
trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền<em> </em>và
công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của
mình".

Kế thừa tư tưởng lập hiến tiến bộ trong đó có những tư
tưởng văn minh tiến bộ về quyền con người có từ những
năm đầu thế kỷ và đặc biệt là Hiến pháp 1946, Hiến pháp
1992 tái khẳng định quyền bình đẳng trước pháp luật tại
Điều 51 bằng việc khẳng định: Công dân có quyền bình
đẳng trước pháp luật.

Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền Hiến định và
bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc Hiến định. Chính
vì vậy, nó không chỉ được thể hiện và cụ thể hóa trong
Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong tất cả các lĩnh
vực cụ thể của quan hệ pháp luật như: Điều 5, Điều 14 -16
và Điều 17 – 23 Bộ luật Dân sự (2005); Điều 5 Bộ luật
Tố tụng Hình sự (2004); Điều 1 Luật Quốc tịch (1998); Điều
1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (1997); Điều 1 Luật Bầu
cử đại biểu HĐND (2003); Chương III, V Luật Hôn nhân và gia
đình (2000); Điều 4 Luật Doanh nghiệp (2005).

Trên bình diện thể chế hóa quyền bình đẳng trước pháp
luật ở Việt Nam có thể đưa ra nhận xét sau đây:

<em>Thứ nhất,</em> bình đẳng trước pháp luật là một nội
dung xuyên suốt tư tưởng lập hiến Việt Nam. Nó được khẳng
định và thể hiện một cách nhất quán trong 4 bản Hiến pháp
Việt Nam. Xu hướng chung là quyền bình đẳng trước pháp luật
ngày càng được bổ sung trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, quyền
bình đẳng trước pháp luật từ trước đến nay mới chỉ
được thừa nhận là quyền công dân chứ không phải là quyền
con người. Đây là sự hạn chế bởi quyền con người có khái
niệm rộng hơn quyền công dân và một vấn đề đặt ra là
nếu người nào đó bị tước, bị hạn chế quyền công dân
thì quyền con người – trong đó có quyền bình đẳng trước
pháp luật – có được thừa nhận và bảo vệ không? Trong khi
đó, pháp luật vẫn còn tùy tiện trong việc áp dụng trách
nhiệm pháp lý về tước quyền công dân. Pháp lệnh trừng trị
tội phản cách mạng năm 1967 quy định hình phạt tước một
loạt quyền công dân của các phần tử phản cách mạng như là
một hình phạt chính<a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat/#ref4">[4]</a>.

<em>Thứ hai</em>, quyền bình đẳng trước pháp luật xuất hiện
với tư cách là một quyền trong tất cả các bản Hiến pháp
nhưng mức độ thể hiện của nó trong các bản Hiến pháp và
các lĩnh vực quan hệ pháp luật khác là không giống nhau, lúc
thăng lúc trầm. Có khi nó được thể hiện giản dị, mạch
lạc và tương đối đầy đủ trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp
1992 nhưng cũng có thời điểm, quyền này bị cắt xén, hạn
chế, thậm chí phủ nhận trong Hiến pháp 1959 và 1980. Ví dụ
quyền tự ứng cử chỉ xuất hiện trong Hiến pháp 1946 và
Hiến pháp 1959; quyền bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành
phần kinh tế có lúc bị triệt tiêu; quyền tự do xuất bản
quy định trong Hiến pháp 1946 không thấy xuất hiện trở lại
trong các bản Hiến pháp sau này.

<em>Thứ ba</em>, quyền bình đẳng trước pháp luật của con
người trong mối quan hệ với Nhà nước chưa thiết lập
được thế quân bình. Nói cách khác, bình đẳng trước pháp
luật chỉ được đặt trong mối quan hệ giữa công dân với
nhau. Sự bình đẳng trước pháp luật của công dân với Nhà
nước còn mờ nhạt; thể hiện ở số quyền xét dưới khía
cạnh bình đẳng trước pháp luật vẫn ít hơn số nghĩa vụ.
Mặt khác, trong khi thiết kế quy định của Hiến pháp và pháp
luật về quyền bình đẳng thì tư duy ban – phát, xin – cho
phụ thuộc vào Nhà nước vẫn chiếm ưu thế. Ví dụ, cùng bị
xâm hại các quyền bởi cơ quan hành chính nhưng công dân chỉ
được khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính ra
tòa án, còn bị xâm phạm bởi văn bản quy phạm pháp luật thì
hiện nay chưa có cơ chế.

<em>Thứ tư, </em>quyền bình đẳng trước pháp luật chỉ nằm
trên giấy, có ý nghĩa "tô điểm" cho Hiến pháp và pháp
luật nếu pháp luật không tạo ra được cơ chế để thực
hiện và bảo vệ nó. Dưới góc độ lập hiến và lập pháp,
chúng ta có thể tự hào về số lượng các quyền, mức độ,
phạm vi bao phủ các quyền thể hiện tính chất bình đẳng
trước pháp luật của chúng ta không hề thua kém bất cứ
nước nào. Tuy nhiên, hạn chế cố hữu nhất vẫn nằm ở cơ
chế thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng trước pháp
luật khi nó bị xâm phạm từ mọi phía. Trách nhiệm tạo ra cơ
chế này trước hết thuộc về Hiến pháp.

<strong>3. Các biện pháp thúc đẩy quyền bình đẳng trước
pháp luật ở Việt Nam</strong>

Để đề ra giải pháp thúc đẩy quyền bình đẳng trước pháp
luật ở Việt Nam, cách tốt nhất là đi tìm và giải quyết
tận gốc nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội trong mọi
lĩnh vực đang tồn tại trong xã hội. Bởi lẽ, pháp luật với
tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nên nó
luôn phản ánh các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hóa, giáo dục. Không thể có sự bình đẳng trước pháp
luật nếu vẫn còn sự bất bình đẳng trong các lĩnh vực nói
trên.

<strong><em>a. Bình đẳng về kinh tế sẽ có bình đẳng trước
pháp luật</em></strong>

Trong mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật thì kinh tế đóng
vai trò quyết định: "chẳng qua, chế độ pháp luật về
chính trị và dân sự chỉ là cái việc nói lên, ghi chép lại
quyền lực của các quan hệ kinh tế"<a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat/#ref5">[5]</a>.
Nguyên nhân của bất bình đẳng được J.J. Rouseau chỉ ra
rằng: chế độ tư hữu là nguyên nhân gây nên bất bình đẳng
xã hội, trong đó có bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên,
cần đặt <em>tư hữu</em> vào bối cảnh mà J.J. Rouseau sống và
trước đó. Tư hữu thời J.J. Rouseau là thứ tư hữu thuộc về
nhóm người thiểu số trong xã hội. Những nhóm người này sở
hữu phần lớn của cải, nguồn lực trong xã hội. Pháp luật
chỉ là sự ghi nhận và bảo vệ lợi ích của nhóm người
này. Chính vì vậy, tư hữu mới là nguyên nhân gây nên sự
bất bình đẳng pháp luật. Hay nói cách khác, bất bình đẳng
trong tư hữu mới chính là nguyên nhân của bất bình đẳng
chứ không phải bản thân nó.

Trong thời đại hiện nay, không ai phủ nhận vai trò của tư
hữu đối với sự phát triển của xã hội. Nói cách khác,
quốc gia nào bảo vệ sở hữu tư nhân, tạo điều kiện cho nó
phát triển tốt nhất, quốc gia đó sẽ giàu mạnh nhất. Nhưng
vấn đề cần hiểu khác đi về tư hữu. Tư hữu là sự thừa
nhận quyền bình đẳng trong việc sở hữu tài sản và các
nguồn lực quốc gia cho tất cả mọi người xét cả về
phương diện kinh tế và cơ hội tiếp cận và sở hữu.

Ở Việt Nam hiện nay, tư hữu đã được thừa nhận bên cạnh
sự chiếm ưu thế hơn của công hữu. Điều này thể hiện qua
việc sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước vẫn được Hiến
pháp khẳng định là nền tảng và chủ đạo. Ở đây, có
điều chưa được làm sáng tỏ cả trên phương diện chính
trị và khoa học<a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat/#ref6">[6]</a>.
Đó là bên cạnh việc khẳng định sự bình đẳng của các
thành phần kinh tế nhưng thực tế, các doanh nghiệp nhà nước
lại đóng vai trò chủ đạo. Và chủ đạo lại không được
hiểu như là công cụ để điều hành kinh tế, lấp những
khoảng trống tiêu cực mà tư nhân và thị trường bỏ ngỏ,
mà lại là sự ưu ái trên mọi phương diện: nguồn lực, chính
sách, pháp luật, các lợi thế cạnh tranh khác. Những ưu ái
đối với doanh nghiệp nhà nước cũng tước đi cơ hội của
khối doanh nghiệp dân doanh và như vậy, sự bình đẳng trước
pháp luật trong lĩnh vực kinh tế không thể nói là đã được
đảm bảo tốt nhất.

Tái cơ cấu nền kinh tế, phân bổ lại nguồn lực quốc gia
đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, trả
doanh nghiệp nhà nước về đúng với vai trò của nó như nó
vốn có, đó chính là tiền đề để đảm bảo bình đẳng
trước pháp luật.

<strong><em>b.</em> <em>Đảm bảo sự bình đẳng trong chính
trị</em></strong>

Sự bình đẳng về chính trị là những cơ hội ngang nhau trong
việc tham gia vào sinh hoạt chính trị của quốc gia, trong đó
có sự tham gia vào thực hiện quyền lực nhà nước. Đây đang
là vấn đề đặt ra ngay cả với các quốc gia văn minh. Ở
Đức, sau hơn 20 năm thống nhất, ngoài Thủ tướng A. Mikel, còn
lại, người phía Đông vẫn còn bị hạn chế trong việc tham
gia vào các hoạt động chính trị ở cấp liên bang<a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat/#ref7">[7]</a>.
Ở Việt Nam, Hiến pháp tuyên bố quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân. Cụ thể hơn, Hiến pháp phân chia nhân dân thành
các thành phần khác nhau, trong đó nền tảng là giai cấp công
nhân, nông dân và trí thức (Điều 2 Hiến pháp 1992). Với việc
tuyên bố chủ quyền thuộc về nhân dân, cho thấy, quyền bình
đẳng trong chính trị được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên,
thực tế sự tham gia một cách bình đẳng của nhân dân trong
chính trị vẫn chưa được như mong muốn xét dưới các tiêu
chí dân tộc, giới tính, địa vị xã hội.

Pháp luật phải đảm bảo cho người dân thực hiện quyền
bình đẳng trong chính trị bằng việc cải cách chế độ bầu
cử, thực hiện quyền khiếu nại tố cáo, quyền tiếp cận
thông tin… Một mặt thúc đẩy quyền bình đẳng về chính
trị, một mặt thể hiện quyền bình đẳng trước pháp luật
của người dân.

<strong><em> c. Pháp luật phải chứa đựng các giá trị tự
do, bình đẳng</em></strong>

Các quyền con người muốn trở thành hiện thực phải được
thể chế hóa. Tuy nhiên, quyền bình đẳng trước pháp luật có
được thực hiện trên thực tế hay không phải xét dưới hai
khía cạnh: pháp luật có thừa nhận sự tự do bình đẳng hay
không, đồng thời pháp luật phải chứa đựng trong nó các giá
trị nhân loại về tự do, bình đẳng. Ở Việt Nam, xét trên
cấp độ Hiến pháp, khía cạnh thứ nhất không có gì phải
bàn nhiều. Nhưng ở cấp độ thấp hơn, nhất là các văn bản
dưới luật, thì việc ghi nhận bảo vệ sự bình đẳng vẫn
còn mờ nhạt, thậm chí là có cả vi phạm. Nguyên nhân dẫn
đến tình trạng này có nhiều. Có thể là sự tham gia của
người dân trong việc hoạch định chính sách không được quan
tâm, thiếu vắng cơ chế giám sát trong thực thi pháp luật…
Người ta đang đồn đoán một hiện tượng không bình thường
là sự chi phối của các nhóm lợi ích có ưu thế trong xã hội
đến việc hoạch định chính sách và ban hành pháp luật, nhất
là trong lĩnh vực kinh tế – không phải theo hướng tích cực
mà là tạo sự ra bất bình đẳng. Điều này không phải hoàn
toàn vô căn cứ nếu nghiên cứu nội dung và thực tế áp dụng
một số loại văn bản pháp luật này. Ví dụ như, cùng thực
hiện hoạt động kinh doanh trên thương trường nhưng có doanh
nghiệp thua lỗ thì được Nhà nước ra tay cứu bằng nhiều
cách hoặc là tái cơ cấu (chứ không cho phá sản), miễn thuế,
khoanh nợ thậm chí trả nợ thay…

Đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật là việc giải
quyết vấn đề người làm luật đó đứng ở đâu xét trên
phương diện lợi ích./.

_____________________

[1] V.I Lê- nin Toàn tập, tập 24, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1994, tr. 362.

[2] Phùng Văn Tửu, Giăng Giắc Rútxô. Nxb Văn học, Hà Nội,
1978, tr. 155.

[3] F. Enghel, Đạo đức, pháp quyền và bình đẳng, Chống
Duy-ring,<a
href="http://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1870s/chongduhring/phan_11.htm"
target="_blank">http://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1870s/chongduhring/phan_11.htm</a>

[4] Đào Trí Úc, Luật Hình sự Việt Nam, những vấn đề chung,
NXB Khoa học xã hội, H., 2000, tr 252.

[5] K. Mác, Sự khốn cùng của triết học, NXB Sự thật, Hà
Nội, 1971, tr. 93.

[6] Theo TS Lê Đăng Doanh, không nước nào trên thế giới khẳng
định kinh tế nhà nước là chủ đạo kể cả Trung quốc, Báo
Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 31/10/2010.

[7] Đức sau 20 năm thống nhất: Còn đó bất bình đẳng chính
trị, Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 10/10/2010.

Nguồn: <a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat">Tạp
chí lập pháp online</a>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130629/dinh-the-hung-hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-dang-truoc-phap-luat),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!