Chiến dịch Tây Nguyên được mở ra, quân đội Cộng Sản tấn
công Bình Long, bao vây An Lộc và cuối cùng vào ngày 7-1-1975,
chiếm được Phước Long, một tỉnh lỵ cách Saigon khoảng 60
cây số. Lần đầu tiên, Hà Nội có một thành phố ở miền
Nam để làm thủ đô cho Mặt Trận Giải Phóng.
Khi nghe tin Phước Long bị mất vào tay Cộng Sản, ở Saigon,
chẳng thấy ai lo lắng gì cả. Kinh nghiệm cuộc Tổng Công Kích
năm 68 và kinh nghiệm Mùa Hè Đỏ Lửa năm 72 cho thấy Cộng
Quân có chiếm được nơi nào thì cũng chỉ ít lâu sau là bị
đánh bật đi. Cho nên mọi người có vẻ rất bình tâm.
Cho tới khi Ban Mê Thuột bị chiếm vào ngày 12 tháng 3 năm 75
thì tất cả mới ngã ngửa người ra! Trong thời gian 55 ngày
trước khi Saigon thất thủ, những tin tức kinh hoàng như vụ
triệt thoái bi thảm của quân dân Cao Nguyên trên đường số 7
(mệnh danh là con đường máu và nước mắt)... vụ mất Quảng
Trị tiếp theo là vụ thị xã Huế bị bỏ ngỏ…vụ Đà
Nẵng, Chu Lai, Nha Trang, Đà Lạt đồng loạt rơi vào tay Cộng
Quân sau khi cũng lâm vào cảnh hỗn loạn như Huế, tất cả
những chuyện đó làm cho tinh thần dân chúng đã buông xuôi
rồi, nay lại bị nhận chìm xuống.
Hồi Ký này không dám quy định tội lỗi làm mất miền Nam cho
ai cả. Nó chỉ xin đưa ra một nhận định là trong suốt thời
Đệ Nhị Cộng Hoà, chưa bao giờ có sự gắn bó giữa chính
quyền và dân chúng. Chiến tranh 30 năm đã làm tê liệt phần
hồn phần xác của dân chúng rồi, người dân không được chia
sẻ quyền hành với chính phủ tối thiểu là được chia sẻ
sự hiểu biết về tình huống quốc gia. Không có một tổ
chức Thông Tin Dân Vận nào làm được công việc đả thông
(communication) giữa người dân và chính phủ. Về phần thông tin
ngoài chính quyền là báo chí, ngay tờ Chính Luận cũng chỉ
phổ biến trong những thành phố lớn và các tỉnh.
Không nắm rõ tình hình đất nước, không biết miền Nam đã
bị Mỹ bỏ rơi, dù bị Cộng Sản tấn công liên tiếp, người
dân vẫn không tin là mất miền Nam. Không tin luôn vào sự
truyền thông trên thế giới -- như Đài BBC chẳng hạn -- về
sự hấp hối của miền Nam. Dân chúng còn bị lừa gạt đến
độ cho rằng với tinh thần Thoả Hiệp Hoà Bình Paris, chính
phủ ba thành phần là giải pháp tối hậu. Mù quáng trước
tình hình chung, người dân không nhận ra định mệnh của đất
nước và của mình. Tới khi thấy nguy cơ miền Nam sắp bị
mất vào tay Cộng Sản thì không còn ai có khả năng để chống
chọi nữa!
Tôi cũng không sáng suốt hay tích cực gì hơn ai. Nhưng trực
giác giúp tôi thấy được nguy cơ của miền Nam ngay từ ngày
mất Bình Long. Sau đó, mất nốt Ban Mê Thuột là coi như miền
Nam bị tiếp thu đến nơi rồi. Và thấy ngay số phận sắp
tới của Saigon và của mình khi Bắc quân tiến vào.
Tôi chưa biết nhìn vào ai để giúp mình nhưng tôi biết tôi
phải đi khỏi nơi này. Trong khi tôi đang bối rối tìm lối
thoát ly, bạn bè xa gần gọi điện thoại hỏi han tin tức. Tôi
cũng bốc máy nói gọi vài người quen, hi vọng tìm ra lối đi,
cuối cùng được Hoàng Hải Thủy -- lúc đó đang làm việc
với phòng Thông Tin Mỹ USIS -- cho biết trong bảng danh sách
những người được Mỹ bốc đi, tên gia đình tôi đứng hàng
đầu. Đang sốt ruột ngồi đếm từng giờ từng phút, lại
chỉ thấy Giám Đốc USIS là Carter trấn an tinh thần dân chúng
trên màn ảnh truyền hình...
... Một hôm, Phạm Thiên Thư và Trần Dạ Từ băn khoăn tới
hỏi tôi về đường đi nước lùi. Tôi tâm sự với Phạm
Thiên Thư về ý định soạn một bài hát bỏ nước, lấy tên
Bầy Chim Bỏ Xứ. Tôi hình dung nước Việt Nam với một bầy
chim phải cất cánh bay đi vì ở quê hương sẽ không còn bầu
trời tự do cho chim bay bổng nữa. Phạm Thiên Thư cho tôi vài
lời thơ, rồi tôi quên cả lo lắng buồn phiền, nằm bò trên
nền đá hoa trong căn nhà vườn để soạn đoạn đầu của tổ
khúc này.
Thời gian không gian như bị lay động dữ dội. Thấy chung quanh
mình, một số bạn hữu đã được Mỹ đem đi hay đang chuẩn
bị ra đi, tôi sốt ruột quá! Trong một đêm vắng, người anh
vợ là Hoài Trung, nhân viên của Đài Tự Do-VOF (Voice Of Freedom)
đến chào từ giã vợ chồng tôi để ra đảo Phú Quốc chờ
tầu chở đi Mỹ.
Mừng cho Hoài Trung nhưng nhìn vào hoàn cảnh mình thì thất
vọng, vì từ lâu tôi không còn cộng tác với Phòng Thông Tin
USIS, không còn giao dịch với bất cứ một người Mỹ nào
nữa. Tôi cũng không phải là một công chức quốc gia để có
thể tới Toà Đại Sứ Mỹ xin cho đi tị nạn. Chạy đi kiếm
Hoàng Hải Thủy thì không thấy anh ta đâu. Ca sĩ Tâm Vấn, bạn
của vợ tôi, cho biết có lối ra đi trả tiền, nhưng gia đình
tôi gồm hai vợ chồng cộng với tám đứa con thì phải là
triệu phú, chúng tôi mới mua được đường đi. Dẫn con trai
Cường đi tìm đường cao chạy xa bay suốt mấy ngày trời mà
không có kết quả. Thất vọng trở về nằm dài trên chiếc
võng, vì nhà ở gần sân bay Tân Sơn Nhất, nhìn qua những cành
dừa cao lớn, tôi thấy phi cơ vận tải C130 chở người đi tị
nạn bay ngang từ sáng sớm tới chiều tối.
Sau những ngày lo âu rồi tuyệt vọng, tôi chuẩn bị nếu phải
ở lại Saigon thì không nên giữ những tài liệu có thể gây
tai hoạ cho mình. Lấy ở tủ sách ra một số ảnh, bản thảo
và ấn phẩm rồi đào một cái hố cạnh chuồng gà, nổi lửa
đốt. Trong đêm tối, đứng ngoài sân, lại ngẩng đầu nghe
tiếng phi cơ vận tải ầm ỳ trên không. Tôi sốt ruột vô
cùng, lòng như lửa đốt, có thể là lửa trên đống tài liệu
len vào chăng ? Đốt mớ tài liệu, khói cũng bốc lên như ngày
nào đốt lá trên sân cùng mấy em bé. Khói cũng làm cay mắt
nhưng tôi không cảm động như lúc nhìn khói để nhớ về
thời ấu thơ và trai trẻ. Bây giờ, tôi đang làm công việc
tự thiêu, nói cho rõ hơn, tôi đang đốt đi một quãng đời
của mình.
Đây không phải lần đầu tôi lâm vào cảnh tự xử hoặc
được người ta khuyên khai tử tác phẩm của mình. Khi còn ở
Việt Bắc, tôi được dỗ dành chôn sống những bài ca ủy mị
(!). Khi từ vùng kháng chiến về thành bố vợ cắt ảnh Nguyễn
Sơn ra khỏi tấm hình đám cưới do ông tướng này chủ hôn.
Suốt hai chục năm ở miền, tuy không tuyên bố khai tử nhưng
không bao giờ tôi dám in ra và hát lên những bài ca kháng
chiến. Bây giờ, vì không biết mình có ra khỏi được Việt
Nam hay không, tôi phải tự tay đốt những tấm ảnh chụp chung
với các nhân vật chính trị Hoa Kỳ hay Việt Nam. Kể cả bức
ảnh chụp chung với Bẩy Viễn và Nguyễn Đức Quỳnh khi cả
bọn kéo nhau đi coi vũ đoàn tại nhà hàng Moulin Rouge ở Paris
vào năm 54. Hoả táng luôn một mớ bản thảo, nhạc tập, thư
từ... Thành phố nhốn nháo như tổ ong vỡ. Ra đường, nhìn ai
cũng thấy vẻ lo lắng, hoảng hốt. Đây là lúc tôi không còn
một chút sáng suốt nào để hiểu nổi cái gì là cái gì nữa!
Chỉ nhớ câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc:
<em>Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm...</em>
Nhớ tới di ngôn của Nguyễn Đức Quỳnh: Làm người Việt Nam
khó quá! Làm nghệ sĩ còn khốn khó hơn! Nhìn lại dĩ vãng,
thấy trong suốt 500 năm, không một lúc nào ngưng loạn ly trên
đất nước. Sự thật không bao giờ ở lâu và ở một phía
nào nhất định. Khiến cho tiền bối Nguyễn Gia Thiều, một
người hiện sinh hơn Jean Paul Sartre, hiểu rằng định mạng
người Việt là phải sống theo cái búng quay sẵn trên trời.
Chao ôi, so với năm thế kỷ tao loạn làm đời người như
chiếc lá mỏng manh nổi trôi theo mệnh nước, thời gian 20 năm
vừa qua nào có nghĩa lý gì đâu? Mình là cái gì mà thoát khỏi
cái vòng quay đó được? Nhất là đã biết từ lâu những ai
đã búng con quay đó ở trên trời. Thời đại Nguyễn Gia Thiều
thiếu phương tiện truyền thông nên chỉ nhận chân ra sự mù
mờ. Còn mình biết rõ ràng số phận của người dân nhược
tiểu, nạn nhân của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai thế lực
quốc tế, vì thiếu người lãnh đạo tài ba, sáng suốt ở cả
hai miền nên toàn thể nhân dân phải sống như trong một khúc
dạ hành.
Đang trong cơn buồn tủi não nề, vào 11 giờ 30 đêm 27 tháng 4,
có cú điện thoại của một người bạn Mỹ giỏi tiếng
Việt, rất yêu nhạc và có vợ Huế, cho biết tôi có thể ra
khỏi Saigon nếu sáng mai tới địa diểm ở đường Kỳ Đồng
là nơi người Mỹ sẽ bốc người ra đi. Tới đó, người già
em nhỏ được đi ngay, nhưng mấy người con trai lớn đang là
quân nhân có thể bị Quân Cảnh giữ lại. Vừa mừng cho mình,
cho vợ và cho bốn con nhỏ, vừa lo lắng cho bốn con trai lớn
thì có thêm cú điện thoại của Nguyễn Ngọc Bích hỏi:
-- Đã có ai giúp anh chị và các cháu ra đi chưa?
-- Rồi, nhưng chỉ có một nửa gia đình...
Nguyễn Ngọc Bích cho chúng tôi tên và số điện thoại của
một người Mỹ tên là Ed Jones. Vào năm 1951, từ Khu IV vào
thành, đại gia đình họ Phạm phải chia ra ba nhóm để dinh tê,
bây giờ gia đình tôi cũng chia ra hai toán để xuất ngoại.
Sáng mai vợ chồng tôi và bốn con nhỏ sẽ tới điểm hẹn ở
đường Kỳ Đồng, còn bốn con trai sẽ đi theo đường dây
Nguyễn Ngọc Bích vừa mách cho. Muốn chắc ăn, tôi gọi điện
thoại hỏi Ed Jones thì anh ta cười hề hề: Ông yên chí, các
con ông sẽ sang Mỹ trước ông!
Chúng tôi thức suốt đêm để thu xếp hành lý. Khổ sở vô
cùng vì không biết cái gì đem đi, cái gì để lại? Ưu tiên
là những ảnh của tổ tiên và khoảng một chục cuộn phim âm
bản. Không ngờ vào lúc này, có dịp rửa ra hình để cho in
vào những cuốn Hồi Ký. Vớ thêm được vài cuốn băng nhạc.
Cũng không ngờ những băng này giúp tôi trở thành nhà phát
hành băng cassette trong những năm đầu ở Florida.
Sáng ngày 28, con trai Cường chở bố mẹ và bốn em ra khỏi căn
nhà vườn Phú Nhuận. Tôi không dám quay mặt nhìn lại cái tổ
ấm của mình. Xe chạy chầm chậm trong một Saigon xơ xác giống
như vào năm 45, khi bị lính Viễn Chinh Pháp tấn công tôi phải
trốn khỏi thành phố như thế này. Tôi ngao ngán vô cùng vì
chợt nhớ tới những cuộc bỏ chạy sau đó nữa... Nhớ lại
đêm đông 1946, phải rời xa mẹ, bỏ Hà Nội ra vùng quê, kháng
chiến... Nhớ lại ngày hè 1951, đôi vợ chồng và đứa con
đầu lòng lếch thếch bỏ Chợ Neo để vào thành tìm tự do...
Rồi lễ mễ giã từ miền Bắc vàoNam để sinh sống... Và bây
giờ là long đong vĩnh biệt Saigon với một nửa con cái.
Thì ra suốt đời, mình chỉ là người bị chơi trò ú tim đi
trốn. Mỗi lần mang theo một gánh nặng. Gánh nặng mỗi ngày
một nặng thêm. Đã mất đi bốn, năm lần tổ ấm và bây giờ
có thể mất luôn cả tổ quốc. Tới địa điểm ở đường
Kỳ Đồng, vì có sự giới thiệu của người bạn ân nhân
rồi nên gia đình tôi được chấp nhận cho đi. Tôi định cho
Cường đi theo nhưng không hiểu vì sao tôi bảo Cường về nhà
đi với các anh. Có lẽ tôi sợ trên đường vào sân bay,
Cường có thể bị Quân Cảnh chặn lại thì vừa hụt đi với
cha mẹ, vừa hụt đi với các anh chăng ? Về sau, khi các con tôi
kẹt lại, trong bốn năm trời dài đằng đẵng, tôi hối hận
và khổ sở vô cùng vì đã đuổi con về. Khi từ đường Kỳ
Đồng đi vào Tân Sơn Nhất, quả có bị lính chặn xe lại,
trong xe có một thanh niên vào tuổi quân dịch, nhưng khi bố mẹ
anh này tặng mấy người lính một số tiền thì họ cho xe đi
ngay.
Vào lúc này tôi hoảng hốt tới độ không nghĩ tới chuyện có
thể đút lót Quân Cảnh như gia đình rất thông minh của anh
thanh niên kia đã làm. Đã có sẵn tờ giấy 20 đôn ở trong túi
rồi mà ! Và cũng chỉ có số tiền nhỏ nhoi đó thôi, để làm
lại cuộc đời ở Mỹ. Vào tới Tân Sơn Nhất, gia đình tôi
ngồi bệt xuống sân cỏ trước cổng DAO, cơ quan viện trợ
quân sự của Mỹ, giữa một đám người khá đông, trong đó
tôi nhận ra gia đình Vũ Khắc Khoan và quá nhiều bạn quen.
Chúng tôi ngao ngán nhìn nhau, rồi tuần tự được gọi tên và
mời vào ngồi trên những hàng ghế dài ở ngoài sân và trong
phòng DAO. Trong một không khí tuy náo nức nhưng rất có trật
tự, sau già nửa ngày ngồi đợi, mỗi gia đình leo lên một phi
cơ vận tải C130 cùng với dăm ba chục gia đình khác.
Chuyến phi cơ chở chúng tôi cất cánh vào khoảng năm giờ
chiều ngày 28, lúc đó Bắc Quân đã pháo kích vào sân bay rồi.
Nếu tôi không nhầm thì gia đình tôi là những người chót
lọt được lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đẩy vào một trong
những chuyến phi cơ cuối cùng rời khỏi Tân Sơn Nhất. Chui
vào lòng tầu bay, mọi người phải co đùi, ép gối ngồi bệt
trên sàn tầu. — hai bên cửa phi cơ có hai người lính Mỹ
cầm sẵn súng phóng hoả châu, để phòng Việt Cộng bắn hoả
tiễn tầm nhiệt lên thì chỉ trúng trái sáng. Lên tới độ
cao, phi cơ nhào đi nhào lại để tránh đạn nếu bị bắn,
rồi bay vút ra phía biển. Tôi ngồi ôm mấy đứa con thơ, mắt
nhắm lại như không muốn nhìn thấy phong cảnh đất nước
nữa. Vả lại, muốn nhìn quê hương một lần chót cũng không
được, vì hai người lính Mỹ đã đóng chặt hai cánh cửa phi
cơ lại rồi.
Trong lòng tầu chật cứng người tị nạn, bay từ vùng trời
Saigon qua Căn Cứ Clark ở Phi Luật Tân, suốt trong không trình
dài năm tiếng đồng hồ, không ai nói với ai một câu nào cả!
Mọi người ngồi im lặng và buồn rầu như trong một đám
táng. Một đám ma không có ai khóc ai vì mỗi người tự đưa
đám ngay chính thân xác của mình. Sự câm nín này dường như
còn kéo dài cho tới bây giờ...
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130430/30-4-trich-hoi-ky-cua-cu-pham-duy-quyen-ba),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét