Nguyễn Tiến Dũng - Nhân quyền trong hiến pháp Việt Nam

Trong con mắt thế giới, Việt Nam cho đến nay được coi là
nước ít tôn trọng các nhân quyền cơ bản. Trong lịch sử
cận hiện đại, những việc như cấm không cho người Việt Nam
đi ra nước ngoài (dẫn đến giai đoạn "thuyền nhân"),
tịch thu tài sản của các chủ doanh nghiệp (đánh tư sản) là
những biểu hiện vi phạm thô bạo quyền con người.

Hiện tại, việc đi lại ra nước ngoài của người dân Việt
Nam đã được dễ dàng hơn trước, và các luật mới về kinh
tế đã thừa nhận sở hữu tư nhân, nhưng Việt Nam vẫn đang
tiếp tục vi phạm quyền con người trong các lĩnh vực khác,
đặc biệt là tự do báo chí và tư tưởng. Tổ chức báo chí
quốc tế "Reporters sans frontiers" xếp Việt Nam vào danh sách
một trong mười nước "kẻ thù của internet" (xem:
http://en.rsf.org/internet-enemie-vietnam,39763.html).

Những người trái chính kiến ở Việt Nam có thể bị qui vào
các tội "chống phá Đảng, nhà nước, chống phá CNXH" và
bị bắt bớ, tra hỏi, uy hiếp, tù đày nhiều năm, điển hình
là vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ.

Quyền tự do hội họp cũng không được tôn trọng ở Việt
Nam: các cuộc biêu tình đều bị cảnh sát dẹp, và cũng không
có một tổ chức nào được phép tồn tại hợp pháp ngoài ĐCS
và các tổ chức mà ĐCS lập ra, chân tay của Đảng. Ngay viện
nghiên cứu IDS của các trí thức cũng bị ép giải tán.

Tuy Việt Nam thiếu các tự do về ngôn luận và, đoàn thể, và
tụ họp, nhưng về mặt hình thức, các tự do đó vẫn có trong
hiến pháp. Cụ thể là, bản dự thảo hiến pháp 01/2013 có
điều khoản sau:

<em><strong>Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69):</strong> Công
dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông
tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp
luật.</em>

So sánh với các điều khoản về các tự do này hiến pháp của
Phần Lan:

<blockquote><strong>Section 12 – Freedom of expression and right of access
to information</strong>

Everyone has the freedom of expression. Freedom of expression entails the
right to express, disseminate and receive information, opinions and other
communications without prior prevention by anyone. More detailed provi-sions
on the exercise of the freedom of expression are laid down by an Act.
Provisions on restrictions relating to pictorial programmes that are
neces-sary for the protection of children may be laid down by an Act.
Documents and recordings in the possession of the authorities are public,
unless their publication has for compelling reasons been specifically
restricted by an Act. Everyone has the right of access to public documents
and recordings.

<strong>Section 13 – Freedom of assembly and freedom of
association</strong>

Everyone has the right to arrange meetings and demonstrations without a
permit, as well as the right to participate in them. Everyone has the freedom
of association. Freedom of association entails the right to form an
association without a permit, to be a member or not to be a member of an
association and to participate in the activities of an association. The
freedom to form trade unions and to organise in order to look after other
interests is like-wise guaranteed. More detailed provisions on the exercise
of the freedom of assembly and the freedom of association are laid down by an
Act.

<strong>Section 22 – Protection of basic rights and liberties</strong>

The public authorities shall guarantee the observance of basic rights and
liberties and human rights.</blockquote>

Sở dĩ tôi chọn Phần Lan, vì Phần Lan là nước thuộc hàng
tiến bộ nhất
thế giới mà không ai có thể phủ nhận. (Giáo dục của Phần
Lan đứng đầu thế giới, tham nhũng ở Phần Lan ít nhất thế
giới, v.v. theo các đánh giá quốc tế). So sánh hai hiến pháp,
ta thấy sự khác nhau rõ rệt về vấn đề này:

- Hiến pháp của Phần Lan dành 1 điều khoản để nói rõ về
tự do ngôn luận và quyền nhận thông tin (freedom of expression and
right of access to information), và một điều khỏa khác để nói
rõ về tự do đoàn thể và hội họp (freedom of assembly and
freedom of association), ngoài ra còn thêm một điều khoản nói về
việc nhà nước bảo vệ các quyền tự do cơ bản này. Trong khi
đó hiến pháp của Việt Nam chỉ có vẻn vẹn 1 câu vắn tắt
gộp chung các tự do đó lại với nhau. (Hai hiến pháp có tổng
số điều khoản gần bằng nhau: dự thảo của Việt Nam có 124
điều khoản, hiến pháp Phần Lan có 131 điều khoản).

- Các tự do trên, hiểu theo hiến pháp của Phần Lan, là tự do
vô điều kiện cơ bản của con người, và do đó không ai ngăn
cản được nó. Ví dụ, hiến pháp Phần Lan có gi rõ thêm về
quyền biểu tình không cần xin phép: Everyone has the right to
arrange meetings and demonstrations without a permit, as well as the right to
participate in them. Còn trong hiến pháp của Việt Nam các tự do
đó là tự do có điều kiện "theo quy định của pháp
luật", nhưng trong
hiến pháp không hề nói đến việc pháp luật phải qui định
thế nào. Trên thực tế, kiểm duyệt ở Việt Nam hiện tại
còn khắt khe hơn nhiều so với thời Pháp thuộc, và biểu tình
cũng bị dẹp thẳng cánh hơn là thời Pháp thuộc. Bởi vậy,
cái quyền "tự do" được ghi trong hiến pháp đó biến thành
quyền kiểu: "anh được quyền làm cái đó khi nào tôi cho
phép anh". Một cái quyền như vậy không còn là tự do.

So với hiến pháp Việt Nam 1946, thì hiến pháp năm 1946 tôn
trọng các quyền cơ bản hơn là hiến pháp 1992 hay dự thảo
01/2013. Điều 10 của hiến Pháp 1946 như sau:

<em><strong>Điều thứ 10.</strong> Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do ngôn luận
- Tự do xuất bản
- Tự do tổ chức và hội họp
- Tự do tín ngưỡng
- Tự do cứ trú, đi lại trong nước, và ra nước ngoài</em>

Các điều khoản khác về các quyền và các tự do cơ bản của
con người trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946 cũng rất gần với
các hiến pháp hiện tại của các nước tiến bộ trên thế
giới. Tuy nhiên, từ đó đến nay, hiến pháp đã bị thụt lùi
đi về mặt này. GS Hoàng Xuân Phú đã có một bài phân tích
về sự thụt lùi quyền con người trong hiến pháp nhan đề: Teo
dần quyền con người trong Hiến pháp. Trong bài phân tích đó,
GS Phú chỉ ra rằng Điều 21 (quyền sống) của dự thảo hiến
pháp 01/2013 là một thứ "quyền hư quyền ảo", còn Điều 26
là một thứ "quyền treo trên lửa, quyền nằm dưới ao"
(nói theo lời của GS. Phú, có nghĩa là một quyền bị nhấn
chìm hoặc gắn với lửa cho những ai dám liều mình sử dụng).

Về quyền cơ bản đầu tiên của con người, là quyền sống
(nằm trong quyền làm chủ bản thân): nước nào càng tiến bộ
thì càng coi cuộc sống của con người là thiêng liêng, là
đáng quí, càng tôn trọng quyền sống. Bởi vậy những nước
hòa bình và tiến bộ nhất đã bỏ án tử hình, và bỏ việc
đi lính bắt buộc (vì đi lính tức là chấp nhận nhiều khả
năng bị người khác giết chết). Những nước bạo lực hơn,
như là Mỹ, vẫn còn có nơi có án tử hình. Về vấn đề này,
dự thảo 10/2013 đã có một điều khoản mới so với hiến
pháp 1992, đó là:

<em><strong>Điều 21 (mới):</strong> Mọi người có quyền
sống.</em>

Việc đưa quyền sống vào hiến pháp là điều đáng hoan
nghênh. Tu nhiên, câu trên quá vắn tắt, và do đó không rõ ràng
về nghĩa. Cần cụ thể hơn thì mới có giá trị thực sự về
pháp lý, còn nếu không thì từ trước đến nay người ta vẫn
sống, có đâu cần hiến pháp cho quyền đó. Nếu hiểu quyền
sống theo nghĩa không ai bị ép phải chết hoặc bị ép đẩy
đến chỗ chết, thì đây là quyền kéo theo hệ quả rất quan
trọng (không có tử hình, không có đi lính bắt buộc). Nhưng
nếu hiểu là "anh được sống khi nhà nước chưa bắt anh
chết" thì nó không còn ý nghĩa gì mấy. Tất nhiên, điều
tối thiểu khi nói về quyền sống, là luật không ai được
phép xâm phạm vào tính mạng của người khác. Để cho Điều
21 trở nên rõ ràng hơn, cần bổ sung những câu tương tự như
trong Điều 22, là một điều khoản hợp lý về quyền làm chủ
cơ thể, vào điều 21.

<strong><em>Điều 22 (sửa đổi, bổ sung Điều 71)</em></strong>

<em>1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự
và nhân phẩm.</em>

<em>2. Nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức,
nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân
thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người.</em>

<em>3. Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người
và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học,
dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm khác
trên cơ thể người phải được người đó đồng ý.</em>

So với hiến pháp 1992, hiến pháp 2013 đã đưa các điều
khoản về quyền và nghĩa vụ của nhân dân lên thành Chương
II, như vậy về mặt hình thức (và chỉ là về mặt hình
thức) có tỏ ra chú trọng hơn đến quyền con người so với
hiến pháp 1992. (Trong hiến pháp 1946, quyền và nghĩa vụ của
con người cũng nằm ngay ở Chương II, đến hiến pháp 1992 thì
nó tụt xuống Chương V). Tuy nhiên, về mặt bố cục và nội
dung, Chương II khá lủng củng. Phân tích thêm một số điều
khoản Chương II: Điều 15 (điều khoản đầu tiên của Chương
II) nói về việc nhà nước đảm bảo các quyền cho dân,
trước khi nói đến bất cứ quyền nào. Đáng nhẽ điều
khoản về đảm bảo này phải đặt sau các điều khoản về
các quyền thì hợp lý hơn về cấu trúc.

<strong><em>Điều 16 (mới):</em></strong>

<em>1. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người
khác.</em>

<em>2. Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân
để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền,
lợi ích hợp pháp của người khác.</em>

Điều 16.2 là một điều khó hiểu và nguy hiểm. Thế nào là
"lợi dụng"? Tất nhiên, việc "xâm phạm lợi ích quốc
gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người
khác" là một hành động có thể qui là phạm pháp, nhưng
hạnh động phạm pháp đó, và việc sử dụng quyền và tự do
cơ bản, là hai việc hoàn toàn khác nhau, tại sao lại gắn vào
nhau?! Về bản chất, có thể hiểu rằng, Điều 16.2 này được
đặt ra là để hạn chế quyền và tự do cơ bản của con
người, vì khi chính quyền không thích cho ai được sử dụng
các quyền và tự do cơ bản đó, chỉ việc qui kết họ là
đang "lợi dụng". Đặc biệt là khi các luật về thế nào
là "xâm phạm lợi ích quốc gia …" không rõ ràng, thì càng
dễ qui
kết tội "lợi dụng" này để tước các quyền tự do của
dân.

<em><strong>Điều 17 (sửa đổi, bổ sung Điều 52)</strong></em>

<em>1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.</em>

<em>2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.</em>

Để cho điều 17.1 trở nên rõ ràng hơn, cần thêm đoạn như:
không phân biệt giới tính, chủng tộc, độ tuổi, thành phần
xã hội, tôn giáo, quan điểm, sức khỏe, v.v.

Về mặt logic, có những điều trong hiến pháp mâu thuẫn với
điều 17, khi nhấn mạnh vai trò của "giai cấp công nhân".
Nếu như "công nhân" được coi là quan trọng hơn "tiểu
thương" (hay bất cứ thành phần xã hội nào khác) trong hiến
pháp, thì tức là có sự phân biệt đối xử, không còn bình
đẳng trước pháp luật. Trên thực tế, trong các nền kinh tế
hiện đại, thì tỷ lệ những người làm "công nhân" càng
ngày càng giảm đi, thay vào đó là các công việc khác, như các
việc dịch vụ, nghiên cứu, điều khiển, quản lý, v.v. ngày
càng tăng lên, và bản thân khái niệm thế nào là "lao
động" cũng thay đổi nhiều. Việc nhấn mạnh riêng "công
nhân" trong một bản hiến pháp của thế kỷ 21 làm cho bản
hiến pháp đó trở nên lạc hậu.

<strong><em>Điều 19 (sửa đổi, bổ sung Điều 75)</em></strong>

<em>1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận
không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.</em>

<em>2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người
Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia
đình, quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất
nước.</em>

Điều 19.1 có tính chất "khẩu hiệu" hơn là luật, vì không
hề có định nghĩa thế nào là "bộ phận không thể tách
rời" ở đây, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. Để có thể
gọi là luật, cần có điều khoản qui định về quyền và
nghĩa vụ của người (gốc) Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ
như quyền giữ quốc tịch, quyền bầu cử ứng cử, v.v. (Trên
thực tế, chưa thấy người có quốc tịch Việt Nam sống ở
nước ngoài được tham gia bầu cử chính quyền, chưa nói đến
ứng cử?!)

<em><strong>Điều 20 (sửa đổi, bổ sung Điều 51)</strong></em>

<em>1. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.</em>

<em>2. Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật
quy định.</em>

<em>3. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với
Nhà nước và xã hội.</em>

Tương tự như Điều 15, đầu tiên phải có các điều về các
quyền và các nghĩa vụ, rồi mới đến Điều này, thì mới là
hợp lý. Bản thân tôi không biết phải hiểu Điều 20 này thế
nào, vì nó không chứa luật gì cụ thể, mà chỉ gồm những
câu chung chung hiển nhiên.

Điều 24 (giữ nguyên Điều 68) Công dân có quyền tự do đi
lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ
nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

Những cụm từ "theo quy định của pháp luật" trong Điều 24
và những điều khác làm cho hiến pháp trở nên khó hiểu, và
các quyền tự do cơ bản dễ dàng bị hạn chế trên thực tế.
Thay vì nói "theo quy định của pháp luật", cần nói cụ
thể hơn là trong những tình huống như thế nào thì có pháp
luật qui định hạn chế quyền tự do đi lại.

Để so sánh, điều khoản về tự do đi lại trong hiến pháp
của Phần Lan cụ thể hơn như sau:

<blockquote><strong><em>Section 9 – Freedom of movement</em></strong>

Finnish citizens and foreigners legally resident in Finland have the right to
freely move within the country and to choose their place of residence.
Everyone has the right to leave the country. Limitations on this right may be
provided by an Act, if they are necessary for the purpose of safeguarding
legal proceedings or for the enforcement of penalties or for the fulfilment
of the duty of national defence.

Finnish citizens shall not be prevented from entering Finland or deported or
extradited or transferred from Finland to another country against their will.
However, it may be laid down by an Act that due to a criminal act, for the
purpose of legal proceedings, or in order to enforce a decision concerning
the custody or care of a child, a Finnish citizen can be extradited or
trans-ferred to a country in which his or her human rights and legal
protection are
guaranteed. (802/2007, entry into force 1.10.2007)

The right of foreigners to enter Finland and to remain in the country is
regulated by an Act. A foreigner shall not be deported, extradited or
returned to another country, if in consequence he or she is in danger of a
death sentence, torture or other treatment violating human
dignity.</blockquote>

Theo câu đầu tiên của Section 9 của hiến pháp Phần Lan, thì
tự do đi lại và chọn chỗ cư trú là một tự do cơ bản vô
điều kiện (tức là chính quyền không được phép hạn chế
tự do đi lại của dân, trừ những hạn chế hiển nhiên như
không được đi vào nhà người khác khi chưa có phép của chủ
nhà), còn trong hiến pháp của Việt Nam, việc gắn cụm từ
"theo quy định của pháp luật" đã cho phép chính quyền hạn
chế tự do này tùy ý của chính quyền.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130204/nguyen-tien-dung-nhan-quyen-trong-hien-phap-viet-nam),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét