<em>Và cứ như thế, mấy thế hệ liên tiếp đã phải ăn cháo
lú lịch sử, không biết gì về những trang sử kì vĩ và đầy
đau thương của dân tộc mình, những trang sử đã góp phần
thúc đẩy dòng chảy của lịch sử nhân loại thế kỉ XX </em>
<h2>Từ Hiệp định Paris đến "Bên Thắng Cuộc"</h2>
Hiệp định Paris "về kết thúc chiến tranh và lập lại hòa
bình tại Việt Nam" đã được kí kết ngày 27 tháng giêng năm
1973 tại đại sảnh đường Trung tâm Quốc tế Hội nghị ở
đại lộ Kléber. Cách Khải hoàn môn vài trăm mét, tòa nhà này
thường được người dân Paris gọi bằng cái tên lịch sử là
Hôtel Majestic. Trong Thế chiến lần thứ hai, nước Pháp bị
phát xít Đức chiếm đóng, Khách sạn Majestic trở thành trụ
sở của bộ tư lệnh quân đội Đức quốc xã. Sau ngày giải
phóng, Bộ ngoại giao Pháp sử dụng cơ ngơi này làm trung tâm
hội nghị quốc tế. Trong gần năm năm trời, từ ngày 13.5.1968
đến ngày 27.1.1973, hội trường là nơi diễn ra cuộc thương
lượng chính thức giữa Việt Nam và Mĩ. Hơn một tháng sau ngày
kí kết Hiệp định Paris, Khách sạn Majestic cũng là nơi họp
Hội nghị quốc tế về Việt Nam với sự tham gia của tổng
thư kí Liên Hợp Quốc Kurt Waldheim và phái đoàn đại diện
của 12 chính phủ (4 bên tham gia Hội nghị Paris: Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa, Hoa Kì, Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời CHMNVN,
Việt Nam Cộng Hòa; 4 đại cường thành viên thường trực Hội
đồng bảo an LHQ: Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc; 4 nước thành
viên Ủy ban giám sát quốc tế: Ba Lan, Canada, Hungary, Indonesia).
Gần 20 năm sau, đây cũng là nơi diễn ra Hội nghị quốc tế
về Campuchia (1991).
Ngày nay, Majestic lại trở thành khách sạn, một trong mấy
"palace siêu hạng" của Paris, nhưng đã đổi chủ. Cũng như
đội bóng đá PSG (đội này vừa sắm David Beckham), chủ nhân
là người vương quốc dầu hỏa Qatar. Bốn mươi năm đã trôi
qua, số người Việt Nam ra đời sau ngày 27.1.1973 dễ lên tới
hai phần ba dân số Việt Nam. Từ đó, bao nhiêu biến cố đã
dồn dập xảy ra: ngày giải phóng miền Nam (đối với cả
triệu người là ngày "mất nước", hay "quốc hận"), cải tạo
xã hội chủ nghĩa, trại "cải tạo", chiến tranh với Pol Pot,
chiến tranh với Trung Quốc, liên minh Washington - Bắc Kinh bao
vây, cấm vận, thuyền nhân, khủng hoảng, rồi đổi mới, mở
cửa, tự do hóa về kinh tế, thối nát tham nhũng tràn lan, đàn
áp chính trị, khối Liên Xô sụp đổ, khấu đầu với Trung
Quốc, khủng hoảng toàn diện về kinh tế, xã hội, chính
trị..., cái mốc Hiệp định Paris 1973 bị đẩy xa vào quá
vãng, hai trong bốn bên ký kết Hiệp định -- Chính phủ cách
mạng lâm thời CHMNVN và Chính phủ Việt Nam cộng hòa -- đã
biến mất trên bản đồ chính trị địa lý Việt Nam.
Điều đáng quan ngại, thậm chí bi thảm, là Việt Nam trở
thành một dân tộc không có ký ức lịch sử, ít nhất
về lịch sử một trăm năm gần đây. Thử hỏi chín mươi
triệu người Việt Nam, ai muốn tìm hiểu lịch sử thế kỉ XX
của nước mình, thì kiếm đâu ra sách? Tủ sách sử học Việt
Nam đã có những công trình giá trị về khảo cổ học, về
thời Lý, Trần, Lê. Nhưng từ thời Nguyễn trở lại đây,
tuyệt nhiên không. Cách đây hơn bốn năm, Hội sử học Việt
Nam đã tổ chức hội thảo về nhà Nguyễn tại Thanh Hóa. Cho
đến nay, báo chí "lề phải" vẫn không được nói tới cuộc
hội thảo khoa học này, chỉ vì những mặt tích cực của nhà
Nguyễn được nêu lên ở hội thảo không phù hợp với "đánh
giá của Đảng về nhà Nguyễn". Lịch sử Việt Nam thế kỉ XIX
và XX là vùng cấm đối với giới sử học người Việt, là
vùng "khai thác độc quyền" (nói cho chính xác: độc quyền
không cho khai thác) của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng. Hệ
quả của quy định này là: sách giáo khoa lịch sử chỉ sao
chép những câu kinh kệ của "sử đảng", nghĩa là một cách
viết sử bóp méo, đầy lỗ hổng (chỉ cần đọc những trang
"sử" ấy về ĐCS Đông Dương và Nquyễn Ái Quốc từ năm 1930
đến đầu năm 1941). Hệ quả của hệ quả : một học sinh có
suy nghĩ, một độc giả có chút ít tinh thần phê phán, chỉ có
thể rút ra một kết luận, là "không thể tin được" những
thứ sử sách chính thống ấy (mặc dù trong đó không thiếu
những khẳng định đúng đắn tuy sơ lược), và nguy hại hơn
nữa, chỉ cần nhẹ dạ một chút, là sẵn sàng tin những
khẳng định ngược lại. Và cứ như thế, mấy thế hệ liên
tiếp đã phải ăn cháo lú lịch sử, không biết gì về những
trang sử kì vĩ và đầy đau thương của dân tộc mình, những
trang sử đã góp phần thúc đẩy dòng chảy của lịch sử nhân
loại thế kỉ XX.
Giữa chốn mịt mù ấy, hai tập "Giải Phóng" và "Quyền Bính"
của Bên Thắng Cuộc (BTC) mà nhà báo Osin Huy Đức xuất bản
qua mạng đã nhanh chóng đi tới (nếu không tới mắt thì tới
tai) hàng trăm ngàn, có lẽ cả triệu, người Việt Nam, từ nam
chí bắc, từ Orange County đến Tokyo, Melbourne, qua Washington DC,
Paris, Berlin, Moskva... với tốc độ và khả năng quảng bá của
internet. Đây không phải là một công trình nghiên cứu sử học
(những ai phê phán nó vì nó không phải là tác phẩm sử học,
chẳng qua là cố ý đâm giáo vào cối xay gió), mà một pho sử
liệu, chứng từ trung thực, phong phú, đồ sộ, mà chưa bao
giờ một nhà sử học hay một nhà báo điều tra, đã thu thập,
phỏng vấn, ghi chép được, liên quan tới thời gian phần tư
cuối của thế kỉ XX. Đó là thời gian mà đất nước, xã
hội và mỗi con người Việt Nam (còn sống) đã trải qua những
đổi thay ghê gớm, sâu sắc, dư chấn của những cuộc "động
đất lịch sử" ấy bây giờ vẫn chưa dứt mà vẫn còn sẽ
tiếp tục. Cho nên, sự đánh giá BTC sẽ dao động giữa hai
thái cực : một mặt là "ngợp" trước những thông tin chưa
từng thấy hoặc rất ít người biết, mặt khác là "thất
vọng" hay "mong mỏi" những tác phẩm của tác giả hay của
người khác về những giai đoạn, những sự việc mà BTC chưa
đề cập. Đây là tôi chỉ nói tới nhận định của người
đọc muốn khách quan tiếp nhận công trình này. Còn phản ứng
của độc giả, phản ứng thiện cảm (với ít nhiều bảo lưu)
của tuyệt đại đa số, cũng như phản ứng Pavlov của các "dư
luận viên" mà nhà nước đang huy động để "đánh Huy Đức"
và của các chuyên gia "chống cộng tới chiều" đã tổ chức
biểu tình ở Khu Bolsa, lại là một chủ đề khác, đối
tượng của một điều tra xã hội học, mà nếu làm được,
sẽ giúp chúng ta hiểu thêm rất nhiều về não trạng Việt Nam
ngày nay. (xin xem bài của Hòa Vân : <a
href="http://www.diendan.org/viet-nam/ben-thang-cuoc-va-du-luan">Bên Thắng
Cuộc và dư luận</a>)
Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ không làm được
việc nào trong hai việc kể trên (nhận định về tác phẩm,
phân tích phản ứng công chúng). Chỉ xin đề cập tới một
vấn đề, liên quan tới Hiệp định Paris và cuốn sách BTC mà
kỉ niệm 40 năm và xuất bản lại trùng hợp trong thời gian.
Vấn đề ấy cũng là nền tảng cho phần lớn các cuộc tranh
luận và sự mâu thuẫn giữa các lập trường. Đó là : tính
chất cuộc chiến tranh Việt Nam (dù ta quy định thời gian là
1945-1975, hay 1955-1975, hay 1960-1975). Chiến tranh giải phóng, nghĩa
là chiến tranh giành độc lập, thống nhất ? Hay nội chiến
(Quốc Cộng) ? Hay chiến tranh ủy nhiệm (War by Proxy) nằm trong
bối cảnh thế giới Chiến tranh lạnh?
Thật ra, trong một cuộc đối thoại bình tĩnh hay khi ta bình
tâm tự vấn, chắc ít ai phủ nhận một trong ba yếu tố kể
trên (chiến tranh giải phóng, chiến tranh ủy nhiệm, nội
chiến), nhưng khi bàn tới bản chất của từng yếu tố, và
nhất là quan hệ tương tác của ba yếu tố ấy (cái nào là
chính, là quyết định...) thì chắc chắn là mỗi người một
ý (có khi ý kiến của một người cũng thay đổi theo thời
gian). Ngày nào chưa có một cuộc thảo luận thật sự, trong
tinh thần tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau đi tìm sự thật, thì
khó xác định và "khoanh" lại những khác biệt không thể hóa
giải. Và chỉ có ý muốn chung là xây dựng trong sự tôn trọng
khác biệt mới cho phép chúng ta vượt qua những khác biệt để
đi tới tương lai.
Trong tinh thần ấy, xin nêu lên một vài suy nghĩ và nhận
định, nhằm đóng góp vào cuộc thảo luận chung:
<h2> Chiến tranh giải phóng 1945-1975 ?</h2>
Giải phóng gắn liền với tự do, người chiến thắng năm 1975
lại là cộng sản, nên dễ hiểu là nhiều người dị ứng
với cụm từ "chiến tranh giải phóng" mà từ khước mọi cuộc
đối thoại. Chính xác phải nói "chiến tranh giải phóng dân
tộc", đối tượng của sự giải phóng là dân tộc, mục tiêu
của nó là chấm dứt sự thống trị của nước ngoài. Chiến
tranh giải phóng thắng lợi, dân tộc tự do, nhưng người dân
không nhất thiết được tự do : điều này đã từng thấy
trong nửa sau thế kỉ XX tại các nước thuộc địa, trong đó
có nước ta. Phân biệt tự do cho dân tộc và tự do cho công
dân, chúng ta mới bình tĩnh đọc câu nói ý nhị của Huy Đức
trong lời mào đầu tập 1: "Cuốn sách của tôi bắt đầu từ
ngày 30-4-1975 -- ngày nhiều người tin là Miền Bắc đã giải
phóng Miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba
mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa
ra lại là Miền Bắc". Tác giả chơi chữ, nhờ đó mà nhiều
người hả hê, không ít người bực bội, nhưng đằng sau sự
chơi chữ là một sự thật khó chối cãi (chỉ lấy một thí
dụ cụ thể : tự do báo chí ở Sài Gòn (mặc dầu chính quyền
Thiệu chuyên nghề "hốt cắt đục") đã biến mất sau ngày
30.4.75, về sau đã nhen nhúm một chút trên báo chí cả nước,
bắt đầu từ những tờ báo Thành phố như Tuổi Trẻ). Tất
nhiên, điều này không liên quan tới nền độc lập dân tộc
mà chúng ta cần trở lại để bàn về bản chất cuộc chiến
tranh.
Có người thừa nhận rằng cuộc kháng chiến chống Pháp
(1945-1954) là chiến tranh giải phóng dân tộc chống lại cuộc
tái chiếm có tính chất thực dân chủ nghĩa của quân đội
Pháp, nhưng cuộc chiến tranh sau 1955 là nội chiến Nam Bắc, dù
không phủ nhận vai trò và sức nặng của Hoa Kỳ trong cuộc
chiến này.
Cả hai vế đều có chỗ không ổn. Đúng là chiến tranh 45-54
là chiến tranh giải phóng, nhưng ta không nên quên rằng khi
Điện Biên Phủ được giải phóng, hai bên chiến tuyến phần
lớn là người Việt Nam: bên chiến thắng là Quân đội Nhân
dân Việt Nam (có cố vấn người Trung Quốc, nhưng họ chỉ là
cố vấn, và không có vai trò quyết định: ngày 25 tháng giêng
1954, khi Võ Nguyên Giáp quyết định "rút pháo ra", ông đã
cưỡng lại ý kiến của đoàn cố vấn Trung Quốc), bên thất
trận 2/3 là người Việt, 1/3 người Âu Phi. Vũ khí và trang bị
của bên thất trận là của Mĩ, vũ khí bên thắng trận là
của Liên Xô (qua Trung Quốc), Trung Quốc và... Mĩ (hơn một nửa
vũ khí thả dù sau ngày 13.3.54 rơi vào tay kháng chiến). Còn
cuộc chiến tranh thứ nhì, có yếu tố nội chiến (chúng tôi
sẽ phân tích ở một phần dưới), nhưng khách quan mà nói, vai
trò của Hoa Kì liên tục từ 1950 đến sáng ngày 30 tháng tư
1975 không thể chối cãi là vai trò của một siêu cường, muốn
quyết định số phận của Việt Nam, thông qua những chính
quyền mà họ đã tạo dựng và khi cần thiết thì trừ khử,
bãi bỏ hay bỏ rơi (mà Mĩ bỏ thì chỉ có rơi, không thể gì
khác).
Do đó, cuộc chiến tranh 1945-1975, dù có yếu tố chiến tranh
ủy quyền, chiến tranh ý thức hệ, và nội chiến, vẫn liên
tục từ đầu chí cuối, là một cuộc chiến tranh giải phóng
dân tộc, mà mục tiêu tối hậu là độc lập dân tộc, thống
nhất quốc gia. Thừa nhận điều đó không có gì sỉ nhục
đối với những người ở "bên thua cuộc" nếu lí do khiến cho
họ đứng bên này chiến tuyến, chống lại những người
chống lại ngoại bang, là lý tưởng tự do, dân chủ thực sự,
điều mà rõ ràng Đảng cộng sản Việt Nam, cho đến hôm nay,
chưa hề mang lại. Phủ nhận điều đó, sợ rằng bản thân
những người tuyên bố ra lời cũng không thuyết phục được
chính mình, mà mãi mãi hận thù "Việt cộng cướp nước", oán
hận "Mỹ bỏ rơi".
<h2> Nội chiến?</h2>
Đối với quan điểm tuyên truyền "chính thống" của Đảng
Cộng sản Việt Nam, "nội chiến" là một điều cấm kị. "Hai
mươi năm nội chiến từng ngày", câu hát của Trịnh Công Sơn
đã khiến cho tác giả nhiều phen điêu đứng sau 1975, cho đến
nay vẫn bị cấm. Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu
là tay sai của Pháp và Mỹ, họ được sử dụng để phục vụ
cho chính sách của Pháp, rồi của Mỹ, rồi khi nào họ không
phục vụ như ý nữa, thì bị loại bỏ không thương tiếc, dù
khi bị loại bỏ rồi, sẽ có những hậu quả tiêu cực ngoài
ý muốn (trường hợp Ngô Đình Diệm). Điều đó khó ai phủ
nhận, nhưng với bộ máy tuyên truyền, họ phải được mô tả
như những tay sai đơn thuần, những con rối không xương sống.
Lối tuyên truyền đơn sơ thô bạo đó sẽ phản tác dụng khi
nó gặp phải những thực tế mà nó không thể lí giải. Sự
kháng cự của Nguyễn Văn Thiệu trước ngày khai mạc Hội
nghị Paris (cuối năm 1968, đầu năm 1969), hay cuối năm 1972, khi
hai phái đoàn Lê Đức Thọ - Xuân Thủy và phái đoàn Kissinger
đã đi tới thỏa thuận về văn bản Hiệp định Paris, bỗng
nhiên được nhìn nhận như bằng chứng của sự "dũng cảm"
(chữ dùng của Huy Đức). Tất nhiên rồi, "dũng cảm" không
phải là thuộc tính độc quyền của "ông chủ" (khỏi cần kể
ra đây những thí dụ về những ông chủ thiếu dũng cảm): tay
sai có thể dũng cảm phi thường khi thấy ông chủ bỏ rơi.
Nói chuyện nghiêm chỉnh hơn: ý thức hệ quả nhiên đã chia
rẽ hàng ngũ những người Việt Nam mong muốn độc lập, trong
đó có ý thức hệ "quốc-cộng". Tôi để hai chữ "quốc-cộng"
trong ngoặc kép, vì hai lẽ: tuyệt đại đa số, nếu không nói
là tất cả, những người Việt Nam cộng sản là những người
quốc gia chủ nghĩa (nhiều khi quá khích), còn trong hàng ngũ
những người tự nhận hay được xếp là "quốc gia", những
người phản quốc hơi bị nhiều. Khó ngược dòng thời gian
để kết án ai là người bắt đầu chạy theo ý thức hệ, bỏ
quên quyền lợi quốc gia. Người chống cộng thường đổ
thừa cho "chủ nghĩa cộng sản ngoại lai", quên rằng nếu chủ
nghĩa cộng sản được du nhập vào Việt Nam sau năm 1920 (khi
Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp, tháng
12.1920), thì chủ nghĩa chống cộng đã được du nhập vào
nước ta vài năm trước đó (ai không tin, cứ tìm đọc tạp
chí Nam Phong từ năm 1917).
Xung đột ý thức hệ và nội chiến tồn tại khi ở hai bên
chiến tuyến có sự tham gia của những bộ phận quan trọng
của dân tộc hay giai cấp, đẳng cấp, với những chính kiến
đối chọi nhau. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ năm
1945 ở Nam Bộ và từ cuối năm 1946 trên toàn quốc, không hề
có yếu tố nội chiến (mặc dầu đã có những cuộc thanh
trừng, tàn sát lẫn nhau giữa các phe phái). "Nam Kỳ tự trị"
năm 1946, "Quốc gia Việt Nam" năm 1948 (với lá cờ vàng ba sọc
đỏ) không đại diện cho ai khác hơn là thế lực thực dân và
vài nhúm chính khách bị dư luận quốc dân khinh miệt. Vậy thì
nội chiến ở Việt Nam bắt đầu bao giờ và như thế nào? Sẽ
cần những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc để làm
sáng rõ vấn đề, nhưng ở đây và bây giờ, người viết bài
này muốn khẳng định, với tất cả tinh thần trách nhiệm:
từ chính sách mao-ít của Đảng cộng sản Việt Nam sau năm
1950.
Với chủ trương quy định thành phần giai cấp một cách thô
bạo (có thể nói: lưu manh, ít nhất trong cách thực hiện) trong
cuộc chỉnh huấn quân đội, chỉnh đảng, rồi cải cách
ruộng đất, ĐCSVN đã đi ngược lại chính sách đoàn kết dân
tộc chống thực dân đế quốc, xua đẩy sang hàng ngũ đối
phương các thành phần trung phú nông, tiểu tư sản, tư sản,
nhân sĩ, trí thức...
Chính đường lối "tả khuynh" theo kiểu Stalin và Mao thực
hiện từ năm 1951 này đã "bưng mâm bầy cỗ" cho Mĩ một cơ
sở xã hội rộng rãi mà họ chưa từng dám mơ ước: gia đình
một ông quan chỉ được tiếng "chống Pháp" vì Pháp đã không
chọn mà chọn người khác làm thượng thư bộ Lại, bỗng trở
thành nguyên thủ một "quốc gia" với đầy đủ những thành
phần xã hội thượng lưu và trung lưu mà phần lớn (nếu không
nói là đa số) đều ngả về "phe kháng chiến" nhưng lại bị
chính kháng chiến xua đẩy !
Trong những người, năm 1955-56 ở Sài Gòn, không thấy được
điều này, may thay, có ông Ngô Đình Diệm. Với tầm nhìn bảo
thủ của một ông quan xa lạ với thế kỉ XX (với cả xu
hướng đổi mới của Giáo hội Công giáo dẫn tới Công đồng
Vatican II), xa lạ với xã hội Việt Nam, ông tổng thống của
"đệ nhất cộng hòa" đã tự cưa chân ngai vàng của mình, đàn
áp những người kháng chiến, đàn áp cả những giáo hữu Nam
Bộ thuộc xu hướng tự do... Ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc
Giải phóng Miền Nam Việt Nam sở dĩ đã tập hợp được khá
rộng rãi các thành phần xã hội ở miền Nam, liên kết được
với phong trào Phật tử, khơi dậy được phong trào đô thị...
có thể nói chính là nhờ chính sách ngu muội của các chính
quyền Sài Gòn hơn là nhờ sự sáng suốt của Đảng cộng
sản.
Nói như vậy có cường điệu lắm không? Tôi chỉ xin nêu ra
hai thí dụ để bảo vệ cho luận điểm này: một điều may
thay không xảy ra, và một điều không may đã xảy ra. Điều
không xảy ra: đầu năm 1967, đại tướng Nguyễn Chí Thanh, bí
thư Trung ương cục Miền Nam, đã có chủ trương phát động
"cải cách ruộng đất toàn diện và triệt để" (với ý đồ
dễ đoán: phát huy sức mạnh của nông dân, chủ lực của cách
mạng, chuẩn bị tổng tấn công năm 1968). Những cán bộ Ban
nông thôn (xem hồi kí của ông Nguyễn Thành Thơ) và những
người như ông Trần Bạch Đằng kiên quyết phản đối, Cụ
Hồ gửi điện vào "can chú Thanh", cuối cùng tướng Thanh đã
từ bỏ ý nghĩ này. Một ý nghĩ rất "triệt để mao-ít". Các
nhà văn chính trị dự tưởng (politique fiction) có thể hình dung
ra tình hình Việt Nam sau cuộc "cải cách ruộng đất triệt
để và toàn diện" ở miền Nam năm 1967 với hơn nửa triệu
quân Mĩ, Úc, New Zealand. Còn điều đã xảy ra (khi đất nước
vắng bóng quân đội Mĩ): xin mời độc giả tìm đọc những
chương về "cải tạo công thương nghiệp" do ông Đỗ Mười
trực tiếp tiến hành với sự ủy nhiệm của tổng bí thư Lê
Duẩn, với những hệ quả như thế nào.
<h2>Chiến tranh ủy nhiệm, ý thức hệ?</h2>
Chiến tranh Việt Nam bị lồng vào cuộc chiến tranh lạnh,
đối đầu hai khối tư bản và cộng sản, diễn ra trên bình
diện thế giới từ năm 1947 trở đi, là điều hiển nhiên,
không cần bàn cãi. Việc tham chiến của Mĩ ở Việt Nam từ
năm 1950 đến năm 1975 không có mục đích thực dân, gắn liền
với sự khai thác tài nguyên của Việt Nam, điều đó cũng rõ
ràng không kém. Mỹ nhảy vào Việt Nam, kiên quyết biến miền
Nam thành "tiền đồn thế giới tự do" đứng trên quan điểm
đối đầu quốc tế, ngăn chặn sự bành trướng của cộng
sản Xô-Trung mà họ coi Hồ Chí Minh là "tay sai" ("agent" của
cộng sản quốc tế). Khi Robert McNamara phát hiện ra sai lầm
của mình thì Hoa Kì đã thất trận. Khi Kissinger (tháng 2 năm
1973) trông thấy bốn câu thơ "Nam quốc sơn hà..." của Lý
Thường Kiệt ở Viện bảo tàng lịch sử Hà Nội, thì mấy
tuần trước đó, ông ta đã phải ký tắt vào Hiệp định
Paris, thừa nhận "độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ của Việt Nam" (ông ta cũng đủ dí dỏm
để, đứng trước câu thơ Lý Thường Kiệt, thốt ra lời
bình : "Ô, đây là điều 1 Hiệp định Paris").
Vậy thì, về phía Mỹ, dùng Quốc gia Việt Nam, Việt Nam cộng
hòa, hay ồ ạt đưa đại quân sang Việt Nam (dù ông Diệm
cưỡng lại) là để đánh Liên Xô, đánh Trung Quốc. Trong ý
nghĩa này, chiến tranh Việt Nam là "chiến tranh ủy nhiệm",
"chiến tranh ý thức hệ".
Về phía đối phương, hiển nhiên, lực lượng chống Mĩ không
thể đánh Mĩ nếu không có sự viện trợ to lớn của Liên Xô
và Trung Quốc. Và khi Việt Nam thắng Mĩ, người hưởng lợi là
cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, nhất là Trung Quốc. Điều đó
cũng rõ ràng.
Sai lầm, nếu có, là nghĩ rằng chiến tranh Việt Nam do xung
đột quyền lợi giữa các cường quốc, người Việt Nam (cả
hai phe) là những con bài được "ủy nhiệm" để phục vụ cho
quyền lợi và chịu sự chỉ huy của nước ngoài.
Điều đó đúng cho một bên, thiết tưởng không cần phải
chứng minh. Nhưng lầm to, nếu nghĩ nó đúng cho cả bên kia. Các
công trình nghiên cứu (ít nhất của các tác giả quốc tế) cho
thấy : khi Đảng CSVN quyết định tiến hành chủ trương "bảo
vệ và xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước", phải trầy trật lắm, họ mới tranh thủ được
sự ủng hộ (hay đúng hơn, không phản đối) của Liên Xô, và
cũng phải khôn khéo ghê gớm, họ mới làm chủ được nhịp
độ, cường độ cuộc đấu tranh võ trang ở miền Nam (hơn
một lần, nó không "ăn giơ" với tính toán của Mao Trạch Đông
mà mục tiêu là hạ bệ Moskva và móc ngoặc với Mĩ). Ít
người biết hơn, là : sau Hiệp định Paris, toàn bộ vũ khí
sử dụng để đánh bại quân lực VNCH đều đã được tích
lũy từ trước, Liên Xô không hề giúp thêm vũ khí thiết bị
nào, còn tìm cách ngăn cản. Câu nói của Mao với Phạm Văn
Đồng năm 1974 "chổi ngắn không thể quét xa" không chỉ là
một lời nói suông).
<h2>Yếu tố quyết định</h2>
Giải phóng dân tộc, đương nhiên. Nội chiến, không thể
chối cãi. Chiến tranh ủy nhiệm, hiển nhiên. Nhưng ba yếu tố
ấy, cái nào là quyết định? Cuộc chiến tranh 1945-75, tính
chất cơ bản của nó là gì?
Thật ra, nếu đồng ý với nhau về cả ba yếu tố, với nội
dung của từng yếu tố như kể trên, thì cuộc tranh luận xem
yếu tố nào quyết định, mỗi yếu tố đã tác động lên hai
yếu tố kia như thế nào, cũng rất quan trọng, nhưng không ngăn
cản sự thông hiểu nhau (trong sự bất đồng).
Thành thực mà nói, người viết bài muốn đưa ra một tiêu
chí để xem xét sự tương tác giữa ba yếu tố. Đó là: nhìn
lại lịch sử cuộc chiến tranh, từ mùa thu 1945 đến mùa xuân
1975, đâu là nơi quyết định các lựa chọn chiến lược, các
biện pháp tác chiến, các cuộc tổng tiến công?
Xét từ góc độ ấy, cuộc chiến tranh đã mở đầu từ
những quyết định ở Paris và Hà Nội. Khi cuộc chiến tranh
lần thứ nhất kết thúc, quyết định đã được lấy từ
Moskva, Bắc Kinh, Việt Bắc một bên, và từ Washington DC, London,
Paris, thể hiện ở Genève ngày 21.7.1954. Còn toàn bộ cuộc
chiến tranh lần thứ nhì, từ năm 1955 đến đêm 29.4.1975, hai
trung tâm quyết định, và chỉ có hai trung tâm đó thôi, là Hà
Nội và Washington DC.
Hiệp định Paris được ký kết tại đại sảnh đường Khách
sạn Majestic sáng ngày 27 tháng giêng 1973 sau gần năm năm thương
lượng, chủ yếu là giữa phái đoàn VNDCCH và phái đoàn Hoa
Kỳ. Hơn một tháng sau, ngày 2 tháng 3, cũng tại phòng hội
nghị đó, diễn ra Hội nghị quốc tế về Việt Nam, với ông
Tổng thư ký LHQ Kurt Walheim, thêm bốn tứ cường (nghiã là
đầy đủ ngũ cường đã quyết định ở Geneve năm 1954) và
bốn nước thành viên của Ủy ban quốc tế giám sát. Hội
nghị long trọng chỉ họp một ngày là xong, mục đích duy nhất
là để tổng thư ký LHQ và 12 ngoại trưởng ký vào bản
"Định ước quốc tế", tức là đơn thuần "chứng giám" sự
thỏa thuận Viêt-Mĩ. Thời Geneve, cái "thế chiến quốc" ở
Genève năm 1954 đã qua rồi.
<h2> Từ Hiệp định Paris đến kết cuộc</h2>
Cần nói gì thêm sau ngày 27.1.1973? Trong khuôn khổ bài viết
này, có lẽ chỉ cần nêu hai điểm:
Hiệp định không thể có số phận nào khác hơn là số phận
hai năm sau của nó, nghĩa là mục tiêu của nó chỉ có thể
thực hiện thông qua một phương thức không do nó quy định.
Thật vậy, Mĩ kí kết Hiệp định chỉ cốt để có thể rút
hết quân và đón hết tù binh Mĩ một cách an toàn. Một giải
pháp chính trị (hai bên miền Nam thương lượng, thành lập
chính phủ ba thành phần) không thể đạt được khi mà đối
với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đó là bản án tử hình
chính trị. Không những thế, trong việc này, Mĩ và Thiệu
thống nhất quyền lợi với nhau : một chính phủ liên hiệp,
một cuộc bầu cử tự do, sự tham gia của cộng sản trong một
chính quyền dân cử là một điều tối kị, ô nhục hơn cả
một chiến thắng quân sự của cộng sản. Không đời nào
nước Mĩ của Nixon-Kissinger chấp nhận một chính quyền "cộng
sản" thành lập qua bầu cử. Không đời nào có thể để cho
một Salvador Allende xuất hiện ở Dinh Độc Lập. Không phải
ngẫu nhiên mà chưa đầy 8 tháng sau, Mỹ đã lật đổ tổng
thống Chile và đẩy đất nước này vào một thảm họa kéo
dài hơn hai thập niên. Cùng lắm, Mỹ có thể ngậm quả bồ
hòn là sự sụp đổ của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thông
qua thất bại quân sự, sau một "khoảng thời gian vừa phải" (a
decent interval). Hai năm, trong ngôn ngữ cynic của Kissinger, là
một thời gian "decent".
Người ta có thể phản biện: nếu chính quyền ông Thiệu
chịu thi hành Hiệp định chăng nữa, nếu một chính quyền ba
thành phần được thành lập đi nữa, thì chẳng chóng thì
chầy, cộng sản cũng làm một cú đảo chính như ở Tiệp
Khắc năm 1947 chứ sao ? Bằng chứng là, sau ngày 30.4, cứ xem
cộng sản đối xử ra sao với thành phần ba, cứ xem chính sách
"cải tạo" thế nào ! Lý luận này không phải không có cơ sở
(ông Đỗ Mười chắc không phản đối), nhưng hơi bị yếu, ở
một điểm : cái có thể sẽ xảy ra không bao giờ biện minh cho
một điều đã xảy ra. Vả lại, một quá trình diễn ra trong
hòa bình, trong tự do ngôn luận (tương đối) là một trường
học cho mọi lực lượng trong một xã hội chưa bao giờ có dân
chủ thực sự.
Vả lại, đây là một tranh cãi vô bổ. Có ích hơn, đối với
mọi người Việt Nam, bất cứ ở đâu, đang gần trời hay gần
đất, là : cùng nhau tìm hiểu sự thật lịch sử, nhận thức
những yếu tố khách quan đã chi phối lịch sử dân tộc, ghi
nhận khác biệt trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau, để tìm ra
mẫu số chung. Cho một nước Việt Nam độc lập, chủ quyền,
dân chủ và tự do.
Trong cuộc tìm hiểu ấy, Bên Thắng Cuộc là một đóng góp
quan trọng và dũng cảm của nhà báo Huy Đức.
Berlin, 8.2.2013
Nguyễn Ngọc Giao
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130212/nguyen-ngoc-giao-tu-hiep-dinh-paris-den-ben-thang-cuoc),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét