Lý Ba - Chủ nghĩa hợp hiến là gì?

Trong bài luận trước, tôi đã bàn về ý nghĩa của pháp trị.
Bắt đầu từ bài này, tôi sẽ phác họa những định chế
khiến cho pháp trị khả thi. Đặc biệt, trong tiểu luận này,
tôi sẽ thảo luận về khái niệm quan trọng trong việc nghiên
cứu pháp trị, đó là chủ nghĩa hợp hiến[1] tự do.

Chủ nghĩa hợp hiến tự do là gì? Để trả lời câu hỏi này,
trước hết chúng ta phải trả lời một câu hỏi cơ bản:
Hiến pháp là gì? Hiến pháp là "một hợp đồng giữa chính
quyền và người dân theo đó quyền cai trị của chính quyền do
người dân trao cho" (theo Tự điển luật pháp Black). Hiến
pháp đề ra hình thể của chính quyền. Nó chỉ định mục
đích của chính quyền, quyền hạn của mỗi nha, bộ trong chính
quyền, quan hệ chính quyền và xã hội, quan hệ giữa các cơ
quan trong chính quyền và những giới hạn của chính quyền. Lý
thuyết tự do cổ điển cho rằng quan hệ giữa chính quyền là
khế ước xã hội to lớn. Theo lý thuyết này thì trong một
đất nước dân chủ tự do, hiến pháp là bộ phận chủ yếu
của khế ước xã hội này. Nó chính là khế ước cơ bản
giữa chính quyền và xã hội dân sự.

Chúng ta còn có thể xem hiến pháp như bảng liệt kê công tác.
Trong một quốc gia dân chủ tự do, toàn thể nhân dân thuê một
số viên chức để điều hành chính quyền, lo cho các lợi ích
công cộng và hiến pháp chính là hợp đồng công việc và
bảng liệt kê công tác. Dĩ nhiên, các luật lệ khác cũng là
bảng liệt kê công tác cho chính quyền, nhưng hiến pháp là
tối cao. Hiến pháp chính là bản hướng dẫn cho việc lập
pháp và diễn giải pháp luật.

Trong cơ chế chủ nghĩa hợp hiến tự do còn một điểm khác
biệt quan trọng giữa hiến pháp và các luật thông thường.
Các luật thông thường có thể được cơ quan lập pháp quốc
gia sửa đổi hoặc hủy bỏ, hay bị cơ quan tư pháp tuyên bố
là bất hợp pháp hoặc bất hợp hiến, nhưng cơ quan lập pháp
quốc gia không có quyền đơn phương sửa đổi hoặc hủy bỏ
hiến pháp và cơ quan tư pháp không có quyền để tuyên bố
hiến pháp là bất hợp pháp. Thí dụ như tại Hoa Kỳ, bản
hiến pháp chỉ có thể được sửa đổi sau khi ba phần tư cơ
quan lập pháp của các tiểu bang chấp thuận, hoặc sau khi các
hội nghị hiến định tại ba phần tư các tiểu bang chấp
thuận. Cơ quan lập pháp liên bang không thể đơn độc thay
đổi Hiến pháp Hoa Kỳ. Trong những hệ thống hiến pháp khác,
đôi khi cần phải có các cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc
để sửa đổi hiến pháp.

Một cách khác để nhìn bản hiến pháp là xem nó như công cụ
cam kết. Ở một quốc gia dân chủ tự do, bản hiến pháp không
chỉ ràng buộc chính quyền mà còn ràng buộc nhân dân nữa.
Thông qua hiến pháp, tập thể dân chúng cam kết tuân theo một
thủ tục tổ chức nhất định về cách thức quản trị công
việc chung và giải quyết xung đột xã hội. Bản hiến pháp
không chỉ hạn chế sự chuyên quyền của chính quyền mà còn
ngăn ngừa việc quản trị chính quyền bị đầu độc bởi
tính khí và cảm xúc ngắn hạn của dân chúng. Qua bản hiến
pháp, toàn thể nhân dân cam kết tuân theo những sự kiểm soát
đã được quy định hầu có thể ngăn ngừa những cảm xúc
thất thường của công chúng.

Trong quá trình thiết lập hiến pháp theo thể thức dân chủ có
một điều đặc biệt. Trong quá trình này, thật khó phân biệt
đâu là đa số và đâu là thiểu số vì người dân bị "bức
màn vô minh" che mắt (cho dù không hoàn toàn như thế) khi họ
hoạch định hiến pháp. Nghĩa là tại thời điểm thiết lập
hiến pháp, không ai có thể tiên đoán được vào lúc nào và
bằng cách nào một người sẽ thuộc về phe thiểu số hay đa
số đối với những vấn đề của tương lai. Do đó, mức nguy
hiểm của "đa số chuyên chế" được giảm thiểu một cách
đáng kể trong quá trình thiết lập hiến pháp. Đây là lý do
khiến quá trình thiết lập hiến pháp dân chủ đưa tới hình
thức dân chủ đặc biệt và cao cấp hơn (xin tham khảo lý
thuyết về "lập pháp cao đẳng" của Bruce Ackerman).

Bây giờ chúng ta có thể trở lại với công việc định nghĩa
thuyết chủ nghĩa hợp hiến. Tương tự như tự do hay dân chủ,
" chủ nghĩa hợp hiến" cũng là một từ ngữ lờ mờ, và
mỗi người khác nhau lại có ý niệm khác nhau về ý nghĩa của
thuật ngữ này. Giovanni Sartori định nghĩa chủ nghĩa hợp hiến
tự do phải được cấu tạo bởi những yếu tố sau đây: (1)
Có một đạo luật tối cao, thành văn hoặc không thành văn,
gọi là hiến pháp; (2) Có sự giám sát pháp lý; (3) Có cơ quan
tư pháp độc lập gồm các thẩm phán độc lập chuyên về lý
luận luật pháp; (4) Nếu có thể, có thủ tục tố tụng nhất
định; và căn bản nhất, (5) Có thủ tục liên kết để thiết
lập phương pháp tạo luật và nó được xem như cái hãm phanh
hiệu quả trong việc hình thành luật pháp chỉ bằng lý trí
(Sartori, 1987, trang 309). Định nghĩa của Sartori nhấn mạnh mặt
pháp trị của chủ nghĩa hợp hiến tự do.

Trong phạm vi bài này, chủ nghĩa hợp hiến (được hiểu theo
khái niệm miêu tả) là hệ thống có những định chế chính
trị với một đạo luật tối cao (thường được gọi là
"hiến pháp"), trong đó tất cả (đặc biệt là toàn bộ hệ
thống chính quyền) được cai quản bởi đạo luật tối cao
này, mà chỉ có dân ý (được định nghĩa qua thủ tục định
chế đã được ấn định trước, thường là qua cơ cấu bầu
cử tuyệt đại đa số) mới có thể thay thế và sửa đổi nó
; đạo luật tối cao này cũng khó thay đổi vì không dễ gì thu
thập đủ sự ủng hộ đa số cần thiết. Thêm vào đó, có
sự phân chia, kiểm soát và cân bằng quyền lực và cơ quan tư
pháp độc lập chuyên về lý luận luật pháp bảo tồn sự
tối cao của hiến pháp. Một số tác giả, vì nghĩ rằng có
nhiều lý thuyết về hiến pháp và định nghĩa chủ nghĩa hợp
hiến một cách lỏng lẻo là bất cứ hệ thống chính trị nào
có hiến pháp (đủ loại), sẽ gọi định nghĩa về chủ nghĩa
hợp hiến của chúng ta là "chủ nghĩa hợp hiến tự do".
Trong tiểu luận này, tôi sẽ dùng các thuật ngữ " chủ nghĩa
hợp hiến" và " chủ nghĩa hợp hiến tự do" có cùng nghĩa
như nhau, bởi vì "các hệ thống hợp hiến, cả trong quá khứ
lẫn hiện tại, đều… chính là các chế độ tự do"
(Sartori, 1987, trang 309).

Chúng ta có thể rút ra nhiều hàm ý từ định nghĩa trên của
chủ nghĩa hợp hiến. Thứ nhất, chủ nghĩa hợp hiến là chủ
nghĩa tự do được thể hiện thành định chế. Qua việc chế
ngự và kiểm soát quyền lực của chính quyền bằng hiến pháp
tối cao và qua việc bảo tồn quyền tối thượng của nhân
dân, chủ nghĩa hợp hiến bảo đảm rằng quyền lực của
chính quyền bị hạn chế. Thứ hai, chủ nghĩa hợp hiến không
thừa nhận quyền tối thượng của cơ quan lập pháp. Thay vào
đó, nó chỉ thừa nhận quyền tối thượng của nhân dân.
Dưới chủ nghĩa hợp hiến tự do, không cơ quan lập pháp nào
cao cấp hơn bản hiến pháp. Cơ quan lập pháp do hiến pháp tạo
ra và được cai quản bởi bản hiến pháp. Thứ ba, chủ nghĩa
hợp hiến tự do dựa vào quan điểm đặc thù của chủ nghĩa
tự do về bản chất con người, đó là khuynh hướng lo tư lợi
của tất cả mọi người. Tiền đề căn bản của chủ nghĩa
hợp hiến tự do, như Stephen Holmes viết, là sự thật sau đây:
"Là người bình thường, kẻ cầm quyền cũng cần phải
được cai trị" (Holmes, 1995, trang 5). Có nghĩa là, vì quyền
lợi cá nhân là điều phổ thông cho nên người cầm quyền
cũng không là ngoại lệ. Bởi vì người cầm quyền cũng như
mọi người thường luôn có quyền lợi cá nhân nên người
cầm quyền cũng cần phải được khép vào khuôn khổ của pháp
trị.

Ngoài ra, đoạn văn sau đây, trích dẫn từ quyển sách độc
đáo về chủ nghĩa tự do của Holmes, giúp cho chúng ta hiểu
thêm về khái niệm chủ nghĩa hợp hiến tự do:

"Bất cứ cơ quan nào sử dụng đủ quyền lực để bảo vệ
tôi khỏi bị hàng xóm cướp bóc, tất có thể sử dụng đủ
quyền lực để phá hủy hoặc nô lệ hóa tôi. Nghịch lý này
nằm trong gốc rễ của lý thuyết hiện đại về tình trạng
tự nhiên: Làm sao chúng ta thoát khỏi tình trạng vô chính phủ
mà không sa vào chính thể chuyên chế? Làm cách nào chúng ta ấn
định đủ quyền lực cho người cầm quyền để điều khiển
người bị trị mà vẫn có thể ngăn ngừa quyền hành tích lũy
này không bị lạm dụng?… Giải pháp dân chủ tự do cho vấn
nạn này là chủ nghĩa hợp hiến. Ngày nay, vẫn còn một số
chính thể dân chủ tự do (chẳng hạn Anh quốc) hoạt động
với bộ luật cơ bản bất thành văn và hợp pháp. Tuy nhiên,
họ vẫn tổ chức chính quyền theo cách hợp hiến rộng rãi,
đặt dân chúng dưới chức trách của chính quyền và cùng một
lúc đặt chính quyền dưới chức trách của nhân dân. Lý do
này khiến chính quyền tự do là sáng kiến xuất sắc, bởi vì
mục đích của nó là giải quyết vấn đề vô chính phủ và
vấn đề chuyên chế trong một hệ thống luật pháp duy nhất
và chặt chẽ" (Holmes, 1995, trang 270 – 271).

Cần có hai điều lưu ý ở đây. Thứ nhất, một quốc gia với
bản hiến pháp thành văn không hẳn sẽ thực thi chủ nghĩa
hợp hiến. Chính quyền hợp hiến là chính quyền bị hạn
chế, trong khi đa số các hiến pháp xã hội, mặc dù thành văn,
lại không đặt giới hạn cho những gì chính quyền có thể
làm. Thứ hai, một quốc gia với hiến pháp bất thành văn, mặt
khác, có thể thực sự hoạt động dưới chủ nghĩa hợp
hiến. Vương quốc Anh không có văn kiện mang tên "Bản Hiến
pháp Hoàng gia" nhưng chẳng ai nghi ngờ rằng chính quyền Anh
không phải là chính quyền theo chủ nghĩa hợp hiến. Tuy Anh
quốc không có bản hiến pháp thành văn nào nhưng họ lại có
một số văn kiện với sức mạnh của hiến pháp. Những văn
kiện này gồm có Đại Hiến chương (1215), Đạo luật về
quyền (1689), Đạo luật Định cư (1701) và một số các đạo
luật đặc biệt của Quốc hội Anh. Các văn kiện này, cùng
với truyền thống chính trị và pháp lý của Anh quốc, tạo
thành nền móng cho chính quyền hợp hiến. Trái lại, Hoa Kỳ có
văn kiện độc nhất gọi là Hiến pháp. Bản Hiến pháp thành
văn của nước Mỹ, cùng với diễn giải và khai triển tiếp
theo của cơ quan tư pháp, tạo thành nền móng cho chính quyền
hợp hiến. Câu trích dẫn sau đây từ cuốn "Chính trị Đối
chiếu" của Gregory Mahler làm sáng tỏ hơn vấn đề trên:

"Khi thảo luận về chính quyền hợp hiến, kỳ thực chúng ta
không nói tới có văn kiện độc nhất và cụ thể hay không,
mà chúng ta chú ý đến một loại thái độ chính trị, văn hóa
chính trị, truyền thống chính trị, hoặc lịch sử chính trị
… Hình thức có thể biến đổi nhưng kết quả về cung cách
luôn giống nhau: chính quyền chỉ có thể làm những gì trong
giới hạn được cho phép." (Mahler, 2000, trang 28).

Chủ nghĩa hợp hiến nói về mức độ tối cao của bản hiến
pháp. Làm cách nào để bảo đảm quyền tối thượng của
hiến pháp? Chúng ta đã thấy quyền tối thượng của Hiến
pháp Hoa Kỳ một phần được duy trì nhờ một nguyên tắc ấn
định rằng cơ quan lập pháp liên bang (hay bất cứ cơ quan nào
thuộc về chính quyền liên bang) là sản phẩm của Hiến pháp
liên bang và không có quyền đơn phương sửa đổi Hiến pháp
(mặc dù chính quyền liên bang có thể đề nghị các điều
khoản sửa đổi). Nói cách khác, các cơ quan chính quyền không
được đơn phương thay đổi các giới hạn quyền lực do hiến
pháp đặt ra. Nếu không, hiến pháp không còn gì là thượng
tôn nữa.

Tuy vậy, giới hạn thành văn của hiến pháp không tự trói
buộc chính nó. Bạo chúa sẽ không trở thành người cầm
quyền rộng lượng chỉ vì hiến pháp bảo họ phải làm như
vậy. Để đề phòng những vi phạm về ngôn từ lẫn tinh thần
của hiến pháp cần phải có một số định chế. Louis Henkin
định nghĩa thuyết chủ nghĩa hợp hiến gồm có những yếu
tố sau đây: (1) Chính quyền phù hợp với hiến pháp; (2) Phân
chia quyền lực; (3) Chủ quyền của nhân dân và chính quyền
dân chủ; (4) Giám sát pháp lý; (5) Cơ quan tư pháp độc lập;
(6) Chính quyền bị hạn chế bởi Đạo luật về quyền; (7)
Kiểm soát cảnh sát; (8) Quân đội nằm dưới sự điều khiển
của dân sự; và (9) Không quyền lực nào của nhà nước, hoặc
quyền lực nào của nhà nước dù rất hạn chế, có thể đình
chỉ hoạt động của một phần hoặc toàn thể hiến pháp (xem
Henkin, 2000).

Nói một cách tổng quát, chín yếu tố trong chủ nghĩa hợp
hiến của Henkin có thể chia thành hai nhóm, tương ứng với hai
chức năng cơ bản của hiến pháp tự do: một chức năng liên
quan tới xây dựng quyền lực và cung cấp quyền lực; còn
chức năng kia liên hệ đến bảo vệ dân quyền. Hai nhóm trong
định chế này hỗ tương để bảo đảm mức tối cao của
hiến pháp, sự hiện hữu của một chính quyền có giới hạn
nhưng vững mạnh và sự bảo vệ quyền tự do căn bản.

Chức năng thứ nhất củachủ nghĩa hợp hiến tự do là xây
dựng quyền lực và cung cấp quyền lực. Dưới chủ nghĩa hợp
hiến tự do, toàn bộ hệ thống chính quyền được tạo dựng
bởi hiến pháp. Bản hiến pháp định nghĩa, phân phối và
chỉnh đốn quyền hạn chính quyền. Trong hệ thống hợp hiến,
thường có các cuộc bầu cử định kỳ để duy trì chủ
quyền của quần chúng. Đồng thời cũng hiện hữu nguyên tắc
phân chia cùng kiểm soát và cân bằng quyền lực. Chủ nghĩa
hợp hiến tự do cũng xác định pháp trị là quy tắc tiêu
chuẩn trong việc thực thi quyền lực của chính quyền. Cuối
cùng,chủ nghĩa hợp hiến tự do đặt giới hạn lên quyền tùy
nghi và khẩn cấp của nhà nước.

Yếu tố thứ hai của chủ nghĩa hợp hiến tự do là bảo vệ
(dân) quyền. Dưới chủ nghĩa hợp hiến tự do, phải có quyền
tự do hiến định về ngôn luận, nhân thân và tài sản. Thêm
vào đó còn có cơ quan tư pháp độc lập hoặc các cơ quan
độc lập có thẩm quyền tư pháp làm nhiệm vụ giám sát pháp
lý nhằm xem xét tính hợp hiến của các đạo luật của nhánh
lập pháp và nghị định của nhánh hành pháp. Việc tái xét
tính hợp hiến của các cơ quan độc lập, thường ở dưới
dạng giám sát pháp lý, thật cần thiết cho việc bảo vệ
quyền của cá nhân và nó cũng là yếu tố quan trọng cho việc
duy trì nguyên tắc phân chia quyền lực cùng kiểm soát và cân
bằng quyền lực đã được hiến pháp ủy thác.

Chúng ta có thể dùng bản Hiến pháp Hoa Kỳ để minh họa hai
thành tố của chủ nghĩa hợp hiến. Bản Hiến pháp đầu tiên
năm 1787 đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng quyền lực và
cung cấp quyền lực. Quyền lực của chính quyền Mỹ đã
được phân chia theo hai chiều: chiều ngang và chiều dọc. Đi
theo chiều ngang, quyền lực chính quyền được phân chia giữa
ba nhánh của chính quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đi
theo chiều dọc, quyền lực của chính quyền được phân chia
giữa chính quyền liên bang và tiểu bang.

Hiến pháp Hoa Kỳ đã được bổ sung vào năm 1791 với Đạo
luật về quyền, nhờ đó tăng cường cho Hiến pháp chức năng
bảo vệ dân quyền. Đạo luật về quyền đầu tiên bao gồm 10
Tu chính án. Trong vòng hai trăm năm qua đã có các Tu chính án
khác được bổ sung để cung cấp thêm việc bảo vệ dân
quyền và cải thiện cơ cấu quyền lực của chính quyền.

Dùng Hiến pháp Hoa Kỳ làm thí dụ, ta hãy phân tích mỗi thành
phần của chủ nghĩa hiến pháp tự do kỹ lưỡng hơn. Căn cứ
trên nguyên tắc xây dựng và cung cấp quyền lực, ta có hai
khái niệm chính yếu là "phân chia quyền lực" và "kiểm
soát và cân bằng quyền lực". Một số tác giả Trung Quốc
đã hiểu lầm và tin rằng phân chia quyền lực nghĩa là hoàn
toàn tách riêng quyền hạn lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Một học giả Trung Quốc đã từng hỏi tôi tại sao Tổng
thống Hoa Kỳ lại có quyền hạn phủ quyết các đạo luật
của cơ quan lập pháp? Không phải quyền phủ quyết của bên
hành pháp đã vi phạm chân lý căn bản của nguyên tắc phân
chia quyền lực hay sao? Một học giả khác hỏi tại sao Thượng
viện Mỹ lại điều khiển phiên tòa xét xử tổng thống Hoa
Kỳ? Không phải việc này đã xâm phạm vào quyền tư pháp của
Tòa án hay sao? Những câu hỏi này đã được đưa ra chỉ vì
sự hiểu lầm về nguyên tắc phân chia quyền lực nói trên.
Thật ra, sự hiểu lầm này là nền móng cho một phản đối
trọng đại đối với Bản Hiến pháp Hoa Kỳ 1787. "Trong cơ
cấu tổ chức của chính quyền liên bang, [nhóm phản đối chủ
trương Liên bang đã nói)1 hình như không hề có quan tâm nào
đến sự đề phòng cần thiết để bảo vệ tự do, (nghĩa là
cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cần phải được cách
ly và khác biệt). (Nhóm này lập luận rằng] một số cơ quan
quyền lực được phân chia và hòa nhập khiến cho cùng một
lúc chúng phá hủy tất cả tính chất đối xứng và đẹp đẽ
về hình thức, đồng thời tạo nguy cơ có một số phần tử
quan trọng của cấu trúc (chính trị) bị đè bẹp bởi sức
nặng không cân bằng của các phần tử khác" (Luận cương
Liên bang số 47). Những nhà phê bình bản Hiến pháp 1787 hình
như đã hiểu lầm Montesquieu khi cho rằng phân chia quyền lực
có ngụ ý là cách ly hoàn toàn các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp.

Tuy nhiên, các thành viên Nhóm Liên bang, đặc biệt là James
Madison, đã có hiểu biết khác về việc phân chia quyền lực.
Theo Madison, nhóm phản đối Hiến pháp 1787 đã diễn giải sai
lý thuyết về phân chia quyền lực của Montesquieu. Ý nghĩa
thật sự của lý thuyết Montesquieu là: "Khi quyền lực toàn
bộ của một cơ quan được thi hành bởi cùng bàn tay đang nắm
giữ quyền lực toàn bộ của một cơ quan khác, nguyên tắc cơ
bản của hiến pháp tự do đã bị lật đổ … Nếu chúng ta
nhìn vào hiến pháp của nhiều quốc gia, chúng ta sẽ thấy
rằng … không có tình huống nào mà quyền lực của nhiều cơ
quan lại được giữ cho cách biệt và khác biệt một cách
tuyệt đối" (Luận cương Liên bang số 47).

Theo các thành viên của Nhóm Liên bang, khái niệm phân chia
quyền lực không thể hiểu riêng biệt với khái niệm kiểm
soát và cân bằng quyền lực. Phân chia quyền lực không có
nghĩa là cách ly toàn bộ và phân chia giới tuyến tuyệt đối
giữa các nhánh của chính quyền. Cách ly toàn bộ sẽ khiến cho
chính quyền hỗn loạn, không hoạt động và có thể trở thành
nguy hiểm. Đây là lý do khiến phân chia quyền lực phải
được kết hợp với kiểm soát và cân bằng quyền lực. Qua
việc giao phó cho mỗi nhánh của chính quyền một số quyền
hạn trên những nhánh khác, hay theo Madison nói, "một phần
chức năng" của các nhánh khác, hệ thống hợp hiến về
kiểm soát và cân bằng quyền lực được tạo nên để đề
phòng một nhánh của chính quyền trở thành quá hùng mạnh và
vì thế trở nên nguy hiểm. Tức là, nguyên tắc kiểm soát và
cân bằng quyền lực làm việc để phòng ngừa sự tập trung
quyền lực chuyên chế. Chẳng hạn như, Nhóm Liên bang lập
luận rằng, nếu không có quyền phủ quyết của bên hành pháp
thì bên lập pháp sẽ dần dần chiếm hết quyền hành của
chính quyền. Theo Madison, "chỉ phân chia giới tuyến trên giấy
về giới hạn hợp hiến của các cơ quan không đủ để đề
phòng những xâm phạm dẫn đến sự tập trung chuyên chế toàn
bộ quyền lực chính quyền vào cùng một bàn tay". Đối với
Madison, "trừ khi các cơ quan này có sự liên hệ và hòa nhập
đến độ mỗi bên đều có quyền kiểm soát hợp hiến đối
với bên kia, thì mức độ cách ly, mà nguyên tắc (phân chia
quyền lực) đòi hỏi, và cũng là điều cần thiết cho một
chính quyền tự do, sẽ không thể giữ vững được trong lúc
thi hành" (Luận cương Liên bang số 48).

Ngoài việc đề phòng chuyên chế, nguyên tắc kiểm soát và cân
bằng quyền lực giữa các nhánh, chẳng hạn như quyền phủ
quyết của bên hành pháp, quyền phủ quyết của bên lập pháp
đối với một số bổ nhiệm của Tổng thống và quyền luận
tội các thẩm phán của bên lập pháp, cũng được thiết lập
để cho chính quyền như một cơ cấu toàn bộ được khôn ngoan
hơn và phải chịu trách nhiệm cho quyền lợi lâu dài của
quần chúng. Thí dụ, quyền phủ quyết của bên hành pháp
khiến cho các đạo luật của bên lập pháp phải chịu giám
sát của cả bên lập pháp lẫn Tổng thống trước khi chúng
trở thành luật thực thụ, như vậy xác suất của một đạo
luật xấu được ban hành sẽ giảm thiểu. Việc áp đặt
quyền phủ quyết hành pháp không dựa trên giả thuyết vu vơ
rằng Tổng thống thông minh hơn cơ quan lập pháp; thay vì vậy,
nó dựa trên điểm cơ quan lập pháp có thể sai lầm.

Nói tóm lại, "ý nghĩa thật sự của nguyên tắc (phân chia
quyền lực) … hoàn toàn thích hợp với một "hỗn hợp cục
bộ" (tức là một hỗn hợp bao gồm một phần chức năng
của những cơ quan khác nhau) được tạo thành cho những mục
đích đặc biệt và bảo toàn cho chúng, một cách tổng quát,
vẫn được riêng rẽ và khác biệt. Trong vài trường hợp,
hỗn hợp này không những thích đáng mà còn cần thiết cho
việc phòng thủ lẫn nhau của các thành viên trong chính
quyền" (Luận cương Liên bang số 66).

Có lẽ nhiều người nhận thấy phiên tòa luận tội cựu Tổng
thống Bill Clinton đã được điều khiển bởi Thượng viện Hoa
Kỳ chứ không phải Toà án Tối cao.2 Sao lại như thế? Tại sao
cơ quan lập pháp lại có quyền tư pháp? Có phải sự sắp xếp
này đã vi phạm nguyên tắc cách ly quyền lực? Đối với câu
hỏi cuối, câu trả lời do thành viên Nhóm Liên bang đưa ra là
không. Các thành viên Nhóm Liên bang đưa ra nhiều lý do tại sao
Thượng viện, thay vì Toà án Tối cao lại hợp lệ khi tố
tụng tổng thống. Thứ nhất, việc luận tội và cách chức
một vị Tổng thống về bản chất là một vấn đề chính
trị. Vấn đề chính trị cần phải được giải quyết bằng
quá trình chính trị trong chiều hướng có trách nhiệm một
cách dân chủ. Luận tội (một viên chức dân cử) bằng thẩm
phán, vốn không được dân bầu lên, không phải là một giải
pháp dân chủ. Thứ hai, Tổng thống do dân bầu lên nhưng quan
tòa lại không phải vậy. Đối diện với vấn đề cực kỳ
khác thường này là có nên cách chức một tổng thống được
bầu cử dân chủ, các quan tòa không được dân bầu sẽ thiếu
hẳn sự vững mạnh, uy tín và có phong thái quyền lực để ra
quyết nghị. Thứ ba, với vấn đề có tầm quan trọng như
thế, có được sự ủng hộ của quần chúng rất quan trọng.
Để thu thập sự ủng hộ của quần chúng, cần phải ảnh
hưởng được dư luận quần chúng. Tòa án, gồm các thẩm phán
không do dân bầu ra, không được trang bị để gây ảnh hưởng
tới quần chúng. Thật ra, thẩm phán trên nguyên tắc phải cách
ly khỏi các xúc cảm của quần chúng. Trái lại, các Thượng
nghị sĩ, vốn là đại biểu cho nhân dân tại các tiểu bang,
rất thích hợp để gây ảnh hưởng tới ý kiến quần chúng.
Thứ tư, cần phải vô cùng thận trọng khi quyết định xem có
nên cách chức Tổng thống hay không. Đối với vấn đề lớn
như thế và với quá nhiều thận trọng, tốt nhất là nên làm
cho quá trình ra quyết định càng an toàn càng tốt. Càng có
nhiều người tham gia vào quá trình ra quyết định càng an toàn.
Toà án Tối cao, theo Hamilton, có quá ít thành viên để đảm
bảo điều đó (tổng cộng chỉ có chín vị thẩm phán) . Thứ
năm, phiên tòa tố tụng điều khiển bởi Thượng viện sẽ
ngăn ngừa tình trạng bất khả trùng tố.3 Nói cách khác, Tổng
thống sẽ không bị xét xử hai lần bởi Tòa án. Nếu Tổng
thống bị cách chức, ông ta vẫn "có khả năng bị khởi tố
và trừng phạt theo tiến trình luật pháp thông thường". Nếu
Tòa án được phép xử cả tội danh phản bội lẫn tội danh
pháp lý thông thường, theo Hamilton, thì "thành kiến mạnh mẽ
của một quyết định sẽ có khuynh hướng bác bỏ ảnh hưởng
của bất kỳ ánh sáng mới nào" có thể lộ ra sau phiên tòa
tội phản bội nhưng trước khi các tội danh thông thường
được xét xử (Luận cương Liên bang số 65 và 66).

Có ít nhất hai bài học mà chúng ta có thể rút ra từ phương
thức luận tội tổng thống tại nước Mỹ. Thứ nhất, nguyên
tắc phân chia quyền lực không bao hàm phân chia toàn bộ và
tuyệt đối của các chức năng trong chính quyền. "Hỗn hợp
cục bộ" trong quyền lực đôi khi được mong ước và thậm
chí cần thiết để phục vụ cho một số mục đích đặc
biệt. Thứ hai, có một số suy xét xác đáng cho hình thức hợp
hiến của chính quyền và bản hiến pháp cũng phục vụ một
số mục đích khác nhau. Quá trình tạo dựng hiến pháp thực
sự chính là sự cân bằng giữa những yêu cầu đối kháng
trong một chính quyền có trách nhiệm và hữu hiệu.

Bức tường quan trọng bảo vệ cơ cấu hợp hiến tự do chính
là ở cơ chế độc lập có thẩm quyền duyệt xét tính hợp
hiến của một đạo luật hợp hiến và thường ở dưới
dạng giám sát pháp lý độc lập. Giám sát pháp lý là gì? Giám
sát pháp lý là "quyền hạn của tòa án để duyệt xét lại
quyết nghị của cơ quan khác hoặc các cấp chính quyền khác
[xem có hợp hiến hay không]" (theo Từ điển pháp luật Black).
Một cách cụ thể, giám sát pháp lý là quyền hạn của tòa án
để xem lại đạo luật cơ quan lập pháp và nghị định (quy
định chung hoặc các đạo luật đặc trưng) của bên hành
pháp. Trong hệ thống liên bang như tại Hoa Kỳ, giám sát pháp
lý còn bao gồm quyền hạn của tòa án liên bang trong việc
duyệt xét các đạo luật của chính quyền tiểu bang (kể cả
lập pháp lẫn hành pháp) xem có khả năng vi phạm Hiến pháp
của liên bang và các đạo luật khác của liên bang không. Tất
nhiên, muốn có giám sát pháp lý, trước hết một cá nhân hay
thực thể phải tiến hành việc tố tụng ra tòa vì không thừa
nhận một đạo luật của lập pháp hay một quyết định hành
chính nào đó.

Ở Hoa Kỳ, một trong những thẩm quyền chính và thẩm quyền
tối thượng mà tòa án dựa vào để điều khiển việc giám
sát pháp lý chính là Hiến pháp nước này. Tòa án Hoa Kỳ có
quyền vô hiệu hóa các đạo luật lập pháp hay hành chính của
các cơ quan khác nếu nó vi phạm hiến pháp. Tòa án Hoa Kỳ cũng
được hưởng độc quyền diễn giải hiến pháp. Nói chung,
đây là sự thật ở cả hai cấp liên bang và tiểu bang. Tức
là, tương tự như tòa án liên bang, tòa án tiểu bang có quyền
diễn giải hiến pháp tiểu bang và tái xét các đạo luật của
cơ quan lập pháp tiểu bang và những nhánh khác trong chính
quyền tiểu bang. Nhờ vào quyền giám sát pháp lý độc lập,
tòa án Hoa Kỳ, gồm những thẩm phán độc lập chuyên vào
việc suy luận luật pháp, trở thành bức tường che chắn cho
những xâm phạm lập pháp hoặc hành chính trên ngôn từ và tinh
thần của bản Hiến pháp Hoa Kỳ. Do đó, mức tối thượng
của hiến pháp được bảo vệ.

Tất nhiên có câu hỏi nổi lên tại đây. Làm thế nào để
kiềm chế các quan tòa? Làm cách nào ngăn ngừa các xâm phạm
tư pháp lên ngôn từ và tinh thần của hiến pháp? Trong Hiến
pháp Hoa Kỳ, có rất nhiều điều hạn chế thẩm quyền của
các quan tòa. Thứ nhất, thẩm phán liên bang có thể bị Quốc
hội luận tội và bị Thượng viện cách chức bởi vì lạm
quyền. Thứ hai, sự tự chế tư pháp và tuân theo các tiền lệ
là nền văn hóa luật pháp của Mỹ và cũng chính là tiêu
chuẩn hành xử tư pháp trong hệ thống thông luật của Hoa Kỳ.
Thứ ba, các điều lệ về diễn giải luật pháp áp đặt một
hạn chế tư pháp khác lên quyền hạn của quan tòa (chứ không
phải quan tòa muốn diễn giải thế nào cũng được). Thứ tư,
sự phê bình sắc bén và đúng lúc của các học giả và các
luật gia với các quyết định và lý luận của các thẩm phán,
cộng với sự theo dõi rộng rãi của giới truyền thông, cũng
khiến cho việc kỷ luật quan tòa được hữu hiệu. Cuối cùng,
các tổ chức chuyên môn của các thẩm phán và luật sư cũng
thường có các biện pháp chế tài nghề nghiệp đối với các
hội viên phạm kỷ luật.

Có lẽ so sánh hệ thống hiến pháp Trung Quốc với hệ thống
hiến pháp Hoa Kỳ sẽ làm vấn đề sáng tỏ hơn. Ở Trung
Quốc, cơ quan lập pháp quốc gia (Đại hội đại biểu nhân
dân toàn quốc) có quyền viết, sửa đổi và bổ sung hiến
pháp. Nói cách khác, Hiến pháp Trung Quốc là sản phẩm của
Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, trong khi lẽ ra phải
ngược lại mới đúng. Đại hội đại biểu nhân dân toàn
quốc cũng có độc quyền giải thích hiến pháp. Đại hội
đại biểu nhân dân toàn quốc, bộ phận tối cao của quốc
gia, nằm trên cơ quan hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án
Nhân dân). Không có nguyên tắc phân chia quyền lực hay kiểm
soát và cân bằng quyền lực bởi vì Đại hội đại biểu
nhân dân toàn quốc nằm trên tất cả và trên lý thuyết là
tuyệt đối. Cơ quan tư pháp không đứng độc lập ngoài ý
muốn của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và hầu
như không hề có giám sát pháp lý (ngoại trừ đạo luật tố
tụng hành chính chỉ cho phép tòa án duyệt xét lại một số
luật hành chính cụ thể của các cơ quan hành pháp trong chính
quyền). Cuối cùng, cơ quan giám sát pháp lý hiện hành, (hoạt
động) trong phạm vi rất giới hạn, lại không được dùng
hiến pháp để phán xét các điều tranh tụng có hợp hiến hay
không. Nói cách khác, Trung Quốc không có nền luật học về
hiến pháp.

Chúng ta hãy quay sang thành tố thứ hai của chủ nghĩa hợp
hiến tự do, đó là bảo vệ dân quyền. Bản Hiến pháp Hoa Kỳ
năm 1787 không có Đạo luật về quyền. Thật ra, sự vắng mặt
của Đạo luật về quyền chính là điều mà những nhà đối
lập với Hiến pháp 1787 phản đối. Nhóm Liên bang, khi bảo vệ
cho Hiến pháp 1787, đã lập luận rằng vào năm 1787 không cần
có Đạo luật về quyền trong Hiến pháp. Một trong những lý do
Nhóm Liên bang nêu ra là một đạo luật liệt kê dân quyền
thật ra có thể bị một chính quyền chuyên chế lợi dụng
để làm lý do bào chữa cho sự xâm phạm những quyền không
nằm trong bảng liệt kê các quyền được bảo vệ. Nhóm Liên
bang thắng thế năm 1787, nhưng đến năm 1791, quan điểm này
không còn được chấp nhận nữa và Hiến pháp Hoa Kỳ được
sửa đổi để thêm vào Đạo luật về quyền, với mười tu
chính án đầu tiên.

Nhân tố chính yếu trong hệ thống hợp hiến về quyền dân
sự và quyền chính trị là các quan tòa. Độc lập tư pháp và
giám sát pháp lý không những quan trọng cho việc bảo tồn mức
tối thượng của Hiến pháp và hệ thống kiểm soát và cân
bằng quyền lực hợp hiến, mà còn quan trọng trong việc bảo
vệ các quyền cá nhân. Thẩm phán Hoa Kỳ không nằm dưới sự
kiểm soát của bất kỳ cơ quan chính quyền nào và họ cũng
không bị hạn chế bởi ý muốn tạm thời của quần chúng vì
họ không phải là viên chức được bầu cử và họ có nhiệm
kỳ suốt đời. Họ có thể bảo vệ quyền lợi dân chúng và
duy trì công lý, đôi khi có thể đi ngược lại ý muốn của
quần chúng, chính vì họ không phải lo âu đến chuyện tái
bầu cử hay cắt giảm lương bổng – lương bổng của thẩm
phán chỉ gia tăng trong suốt nhiệm kỳ của họ – và họ
không bị tùy nghi quản chế bởi các cơ quan khác trong chính
quyền. Độc lập tư pháp và giám sát pháp lý là phần tử
chính yếu trong hệ thống bảo vệ dân quyền tại Hoa Kỳ.

Làm thế nào để toà án bảo vệ các quyền hiến định? Một
thí dụ có thể giúp chúng ta hiểu được điều này. Tu chính
án thứ Năm trong bản Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rằng:
"Không cá nhân nào bị… tước đoạt mạng sống, tự do, hay
tài sản mà không theo đúng thủ tục tố tụng". Tu chính án
thứ Mười Bốn nêu rõ: "Không chính quyền nào được…
tước đoạt mạng sống, tự do, tài sản của bất cứ ai mà
không theo đúng thủ tục tố tụng". Vậy thủ tục tố tụng
là gì? Nói tóm tắt, thủ tục tố tụng nghĩa là các quyền
(của người dân) được ghi trong một thủ tục nhất định,
như quyền được thông báo, quyền được hầu tòa, quyền
được trao đổi với luật sư, quyền được có quan tòa chính
trực vô tư, v.v…, mà mỗi công dân đều có khi mạng sống,
tự do hay tài sản của người đó phải trực diện với việc
bị tước đoạt bởi chính quyền theo các điều luật nào đó
(Còn một khái niệm gọi là "thủ tục tố tụng bản thể"
trong luật học hiến pháp ở Mỹ, nhưng học thuyết này phần
lớn đã mai một). Thủ tục tố tụng còn có những bảo vệ
bằng thủ tục khác nhau trong phạm vi khác nhau, nhưng ý nghĩa
cốt lõi của nó vẫn tương tự. Khái niệm căn bản là mỗi
cá nhân thừa hưởng sự bảo vệ theo một thủ tục nhất
định khi người đó phải đối diện với quyền lực cưỡng
chế của chính quyền. Trên cơ bản, khái niệm này rất phóng
khoáng. Thẩm phán Hoa Kỳ, độc lập với các nhánh khác trong
chính quyền cũng như không bị ý kiến quần chúng ảnh hưởng,
có toàn quyền để bảo đảm cho mỗi cá nhân đều được
hưởng những bảo vệ theo thủ tục trước khi mạng sống, tự
do hay tài sản của họ bị chính quyền tước đoạt.

Thủ tục tố tụng là một khái niệm nằm dưới một điều
khoản lớn hơn, đó là công lý theo thủ tục. Như chúng ta đã
bàn thảo trong tiểu luận trước, có hai loại công lý. Một là
công lý theo thủ tục, và một là công lý theo bản thể. Công
lý theo thủ tục nghĩa là chỉ có thủ tục và tiến trình,
công lý theo bản thể nghĩa là chỉ có kết quả và đáp số.
Thí dụ, nếu quả thật đã có kẻ sát hại người khác, công
lý theo bản thể đòi hỏi kẻ sát nhân phải bị trừng phạt
bởi luật pháp. Tuy nhiên, nếu kẻ sát nhân bị cảnh sát tra
tấn bất hợp pháp khiến hắn thú tội và nhờ vào lời tự
thú này, cảnh sát tìm ra chứng cớ thuyết phục (chẳng hạn
như công cụ gây án, xác chết nạn nhân, v.v…) khiến tòa án
buộc tội kẻ sát nhân (kết quả là có công lý theo bản
thể), nhưng không có công lý theo thủ tục vì quá trình tìm ra
tội trạng đã vi phạm quyền căn bản của kẻ sát nhân, một
công dân, trước khi bị kết án, vẫn thừa hưởng trọn vẹn
sự bảo vệ của Đạo luật về quyền.

Như thế, một kết quả có thể xảy ra trong thí dụ kể trên
là bồi thẩm đoàn sẽ không có đủ chứng cớ để buộc tội
kẻ sát nhân. Theo bộ luật hoàn chỉnh về tiến trình hình
luật tại Hoa Kỳ, lời tự thú của kẻ sát nhân cũng như các
chứng vật tìm được nhờ vào lời tự thú đó sẽ không
được chấp nhận là bằng chứng tại tòa vì chúng đều là
hậu quả trực tiếp của vi phạm to lớn vào các quyền cá
nhân cơ bản. Nói cách khác, quan tòa sẽ "loại trừ" lời
tự thú cũng như các tang vật ra khỏi chứng cứ để, thứ
nhất, bảo đảm quá trình luận tội công bằng và đúng đắn;
thứ hai, bảo vệ quyền lợi cá nhân hợp hiến. Điều luật
cho phép quan tòa loại bỏ các chứng cứ thu thập không đúng
luật chính là sự bảo vệ mạnh mẽ cho dân quyền tại Hoa
Kỳ.

Xin có lời bình luận tại đây. Muốn cho việc bảo vệ nhân
quyền hợp hiến được thực thi và hữu hiệu, cần phải có
một số định chế căn bản. Thí dụ, điều khoản hiến pháp
đòi hỏi thực thi lập pháp và diễn giải tư pháp. Luật pháp,
hoặc được tạo ra bởi cơ quan lập pháp hay tìm được bởi
quan tòa, bắt buộc phải nêu rõ trách nhiệm luật pháp khi vi
phạm quyền lợi cũng như việc bồi thường và thủ tục cho
nạn nhân. Tại Trung Quốc, có hai vấn đề khó khăn liên quan
đến việc bảo vệ quyền cá nhân và thành quả công lý trong
phạm vi điều tra hình sự, khởi tố và tuyên án. Thứ nhất,
tuy là có tuyên bố chung về quyền cá nhân trong Hiến pháp Trung
Quốc nhưng trong luật thành văn có rất ít quy định đề cập
đến hậu quả luật pháp của việc vi phạm dân quyền (thí
dụ như sự lạm quyền của cảnh sát trong điều tra hình sự).
Vì thế, nạn lạm quyền trong điều tra hình sự và khởi tố
lan tràn, thủ tục và luật lệ đã thiết lập thường bị
vặn vẹo và vi phạm, dân quyền không được bảo vệ hữu
hiệu và kết quả thường là sự bất công. Thứ hai, vì không
có điều khoản rõ rệt nào về uy tín của chứng cớ tìm
được bất hợp pháp (chẳng hạn như tra khảo) trong việc
khởi tố hình sự, các quan tòa hưởng quyền tùy nghi một cách
rộng rãi. Quyền tùy nghi không giới hạn của quan tòa Trung
Quốc đã góp phần vào những quyết định mâu thuẫn và độc
đoán cùng sự hư hoại của tư pháp.

Trong bài này tôi đã giải thích ý nghĩa của chủ nghĩa hợp
hiến tự do. Trong bài (phát hành vào tháng 8), tôi sẽ thảo
luận tới liên hệ giữa chủ nghĩa hợp hiến và pháp trị.
Luận đề của tôi sẽ về, thứ nhất, chủ nghĩa hợp hiến
là nền móng cần thiết cho pháp trị; thứ nhì, chủ nghĩa hợp
hiến tự do bảo đảm công lý trên cả nội dung lẫn hình
thức của luật pháp; thứ ba, chủ nghĩa hợp hiến tự do tạo
ra cân bằng thích đáng giữa pháp trị và nhân trị; và cuối
cùng, chủ nghĩa hợp hiến được bảo vệ bởi pháp trị.

<h2>Tài liệu tham khảo</h2>

Hamilton, Alexander, James Madison and John Jay. The Federalist Papers.
London: Everyman, 1996.

Henkin, Louis. "Elements of Constitutionalism." Unpublished Manuscript,
2000.

Holmes, Stephen. Passions and Constraint: On the Theory of Liberal Democracy.
Chicago: University of Chicago Press, 1995.

Mahler, Gregory. Comparative Politics: An Institutional and Cross-National
Approach. Upper Saddle River, New Jersey: Prentice Hall, 2000.

Sartori, Giovanni. The Theory of Democracy Revisited. Chatham, New Jersey:
Chatham House, 1987.

<h2>Ghi chú</h2>

[1] Khi hiến pháp của Mỹ được soạn thảo năm 1787, chính
giới Hoa Kỳ chia làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm những
người chủ trương thành lập một chính quyền liên bang mạnh
gồm rất nhiều quyền lực. Đại biểu cho nhóm này, còn gọi
là nhóm Federalists, gồm James Madison, Alexander Hamilton và John Jay.
Nhóm thứ hai gồm những người chủ trương bảo vệ quyền
của tiểu bang, bỗng trở thành những người chống chủ
trương thành lập chính quyền liên bang, dù cũng nhận thức
được nhu cầu phải thành lập một chính quyền liên bang
mạnh. Đại biểu cho nhóm này, còn gọi là nhóm anti-Federalists,
là Patrick Henry và George Mason. Khi bản hiến pháp được trình
cho các tiểu bang phê chuẩn, phe anti-Fedralists cho in trên báo chí
các luận cương chống lại chủ trương liên bang, các tác giả
đồng ký một tên chung là Brutus. Phe ủng hộ liên bang bèn cho
ấn hành các luận cương trên báo chí để phản bác lập luận
của phe anti-Federalist, và cùng ký một tên là Publius. Tất cả
các tiểu luận của cả hai phe đều được ấn hành thành sách
sau này. Luận cương về Chính quyền Liên bang (the Federalist
Papers) được xem là một lý thuyết chính trị về Chủ nghĩa
hợp hiến (Chú thích của người dịch).

[2] Theo hiến pháp Mỹ, các viên chức chính quyền tiểu bang
cũng như liên bang đều có thể bị đưa ra luận tội
(impeachment), tức là trả lời cáo buộc về phản quốc hay có
hành vi hạnh kiểm xấu. Hạ viện là cơ quan do Hiến pháp chỉ
định làm nhiệm vụ này. Sau khi Hạ viện luận tội và kết
luận là có tội, Thượng viện sẽ xử vụ án này. Các
trường hợp phạm pháp khác (hình sự và dân sự) đều do tòa
án thường thụ lý.

[3] Bất khả trùng tố (double jeopardy) là quy định một người
không bị xử hai lần về cùng một tội.

_____________________

[*] Nguyên bản tiếng Anh "constitutionalism". Thuật ngữ
"constitutionalism" trong bản dịch gốc được dịch là "lý
thuyết hợp hiến" và "hiến pháp trị". Tuy nhiên, ở đây
chúng tôi thay bằng từ "chủ nghĩa hợp hiến" cho phù hợp
với cách gọi hiện nay ở Việt Nam. Trong nguyên bản tiếng Anh,
constitutionalism đôi khi còn được kèm theo bởi từ liberal
(liberal constitutionalism ). Trong trường hợp này, chúng tôi sử
dụng cụm từ "chủ nghĩa hợp hiến tự do". Theo giải thích
của tác giả bài này, hai cụm từ "chủ nghĩa hợp hiến"
và "chủ nghĩa hơp hiến tự do" có cùng ý nghĩa và được
sử dụng thay thế cho nhau – BT.

<strong> Nguồn:</strong> Đây là một trong series bài dịch đăng
tải trên website của the Institute for Civic Education in Vietnam
(ICEVN), (www.icevn.org).

<strong>Biên dịch:</strong> Đỗ Kim Thư, Trần Lương Ngọc,
Nguyễn Hồng Liên, Nông Duy Trường

<strong>Hiệu đính:</strong> Nguyễn Trang Nhung, Vũ Công Giao

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130213/ly-ba-chu-nghia-hop-hien-la-gi), một
số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc
giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận
có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng
dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét