<b>Chính sách Quốc phòng</b>
Việt Nam có chung đường biên giới trên đất liền chỉ với
ba quốc gia: Trung Quốc, Lào và Cambodia. Nó cũng có một bờ
biển dài hướng ra biển Đông kèm theo khu vực đặc quyền kinh
tế (EEZ) rộng 200 hải lý. Việt Nam hiện đang đóng giữ
khoảng 20 đảo và địa điểm trên biển Đông, mỗi vị trí
này cho Việt Nam quyền thừa nhận chủ quyền tài nguyên dưới
nước và bờ biển chung quanh các hòn đảo và địa điểm này.
Học thuyết quốc phòng hiện tại của Việt Nam được xác
định vào năm 1987, khi Nghị quyết số 2 của Bộ Chính trị
đưa ra một học thuyết chiến lược mới gọi là "chiến
tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân." Học thuyết này mang
tính tự vệ trong thiết kế và yêu cầu sát nhập lực lượng
gồm vài triệu quân dự bị, lực lượng tự vệ thành thị và
dân quân vùng thôn quê vào thành lực lượng chính qui. Những
đơn vị này với tên chung là Lực lượng Vũ trang Nhân dân, có
nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, an ninh trong nước và đóng góp
vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội bằng cách quản lý
các khu vực kinh tế - quốc phòng tại những vùng xa xôi. Lực
lượng chính qui, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN), bao gồm
lục quân, hải quân, phòng không không quân và biên phòng. Học
thuyết quốc phòng mới này cũng đặt ra các ưu tiên đối với
ngành công nghệ quốc phòng và việc thiết lập một chương
trình giảng dạy quốc phòng bắt buộc cho toàn bộ học sinh.
Trong giữa những năm 1990, Việt Nam đã đưa ra một nỗ lực
khiêm tốn nhằm hiện đại hoá lực lượng hải quân và không
quân của mình nhằm phản ứng lại những tranh chấp lãnh thổ
với Trung Quốc trên biển Đông. Nỗ lực này đã tăng tốc
trong nửa thập niên qua, trong đó Nga đóng một vai trò then
chốt như là nguồn cung cấp chủ yếu cho các đợt mua sắm
thiết bị quân sự của Việt Nam.
Kể từ năm 2008, hải quân Việt Nam đã tiếp nhận hai tàu khu
trục tàng hình gắn tên lửa hạng Gepard và bốn tàu tuần
duyên cao tốc hạng Svetlyak có trang bị tên lửa chống hạm.
Từ năm 2010, không quân Việt Nam đã mua 20 chiến đấu cơ
Su-30MK2V có trang bị tên lửa không đối không lẫn tên lửa
chống hạm. Việt Nam cũng tăng cường hệ thống phòng không và
bảo vệ bờ biển với việc mua hai tổ hợp tên lửa phòng
không có khả năng tác chiến cao S-300 MPM-1 và hai tổ hợp tên
lửa K-300P Bastion phòng thủ bờ biển. Quan trọng hơn, Việt Nam
cũng đã đặt hàng với Liên Xô sáu chiếc tàu ngầm phi hạt
nhân tấn công nhanh hạng Kilo, hai chiếc đầu tiên sẽ được
bàn giao vào tháng Tám 2013. Tháng Tám 2011, bộ trưởng quốc
phòng Việt Nam tuyên bố rằng ông dự định sẽ triển khai
một hạm đội tàu ngầm hiện đại vào năm 2016-2017. Việt Nam
cũng đã đặt hàng mua bốn chiếc tàu hộ tống hạng Sigma của
Hà Lan.
Những đợt mua vũ khí gần đây cho thấy thêm một số yếu
tố dẫn đến việc cần thiết để hiện đại và nâng cấp
hệ thống vũ khí và khí tài hiện có. Những yếu tố này bao
gồm tầm quan trọng ngày càng cao của nền kinh tế biển Việt
Nam, việc hiện đại hoá các lực lượng quân sự khác trong
vùng cũng như việc đưa kỹ nghệ quân sự mới vào khu vực.
Nhưng không có vấn đề nào khẩn thiết đối với vị thế
quốc phòng của Việt Nam bằng việc tranh chấp lãnh thổ với
Trung Quốc trên biển Đông, vốn càng trở nên cấp bách hơn
vào năm 2007, khi Trung Quốc trở nên hung hãn hơn trong việc một
mực đòi hỏi "chủ quyền không thể chối cãi" trên vùng
biển bị tranh chấp.
Là một phần của chủ trương gây hấn hơn, Trung Quốc đã
sách nhiễu các ngư nhân Việt Nam, tạo áp lực lên các công ty
dầu mỏ nước ngoài phải rút ra khỏi Việt Nam và can thiệp
vào hoạt động của các tàu thăm dò dầu khí trong đặc khu
kinh tế Việt Nam. Đã có ít nhất ba sự kiện công khai cắt
cáp những chiếc tàu thăm dò địa chấn có hợp đồng khảo
sát trong khu vực EEZ của Việt Nam. Để đáp ứng với những
căng thẳng tăng cao, năm ngoái Việt Nam đã khởi động những
chiếc Su-27 và Su-30 bay tuần tra trên biển Đông.
Bên cạnh việc hiện đại hoá quân sự để tự giúp mình,
Việt Nam cũng đã đáp trả lại thái độ cứng rắn của Trung
Quốc bằng chính sách ngoại giao phòng thủ trong một nỗ lực
nhằm kêu gọi ủng hộ từ các cường quốc hàng hải. Ví dụ
vào năm 2010, Việt Nam đã sử dụng vị thế chủ tịch ASEAN
của mình để vận động Hoa Kỳ và những cường quốc khác
can tiệp vào tranh chấp biển Đông tại hội nghị bán niên
của Diễn đàn Khu vực ASEAN và tại phiên họp khai mạc Hội
nghị các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng trong tháng
Mười cùng năm.
Kết quả là quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ
được xem như là một động thái cân bằng ngoại giao đầy
tinh tế không khác nào việc xử lý quan hệ với Trung Quốc và
Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Việt Nam đã nâng
các đối thoại chiến lược với Trung Quốc và Hoa Kỳ lên
mức thứ trưởng và tiếp xúc quân sự đến quân sự với cả
hai.
Đối với Trung Quốc, vào tháng Mười một 2008 Việt Nam đã
mời hải quân Trung Quốc quay lại thăm cảng sau 17 năm vắng
bóng. Các tàu hải quân Trung Quốc hiện đến thăm hàng năm.
Trong tháng Giêng này, hai tàu khu trục và một tàu tiếp vận
đã có chuyến thăm hữu nghị tại Thành phố Hồ Chí Minh sau
chuyến đi đến Vịnh Aden. Hải quân Việt Nam cũng đã có
chuyến thăm cảng ở Trung Quốc vào tháng Sáu 2009 và đã quay
lại lần nữa vào tháng Sáu 2011.
Vào tháng Tám 2011, Trung Quốc và Việt Nam tổ chức Đối thoại
Chiến lược Quốc phòng An ninh lần thứ hai, trong đó hai bên
đồng ý tăng cường trao đổi quân sự và thiết lập một
đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng. Trung Quốc và Việt
Nam cũng đã mở rộng phạm vi tuần tra chung trên Vịnh Bắc bộ
vốn được khởi đầu từ tháng Tư 2006. Chuyến tuần tra chung
lần thứ 13 được tiến hành vào tháng Sáu 2012 bao gồm những
thao tập báo hiệu ngày và đêm và các cuộc tập trận chống
hải tặc. Vào tháng Chín 2012, Trung Quốc và Việt Nam tổ chức
cuộc hội thảo an ninh quốc phòng lần thứ sáu trong đó hai
bên đồng ý "tiếp tục các chuyến thăm cao cấp, tăng cường
đối thoại và tham vấn, phát triển hợp tác trên các lĩnh
vực đào tạo nhân viên, trao đổi biên giới và các vấn đề
hải quân và an ninh đa phương."
Trong cùng thời gian, Việt Nam cũng đã ve vãn Hoa Kỳ bằng hàng
loạt những tiếp xúc cấp cao và tiếp xúc quân sự với quân
sự tương tự. Trong năm 2009, các quan chức Việt Nam bắt đầu
hàng loạt các chuyến bay ra những tàu sân bay của Hoa Kỳ đang
vận chuyển ngang biển Đông. Năm 2010, việc viếng thăm cảng
thường niên của hải quân Hoa Kỳ đến Việt Nam được mở
rộng thêm để bao gồm các hoạt động hải quân chung. Việt
Nam cũng đã đồng ý tiểu tu những chiếc tàu thuộc Tư lệnh
Hải vận Quân sự quá cảnh, sửa chữa gần đây nhất được
thực hiện tại khu vực cảng thương mại dân sự ở Vịnh Cam
Ranh. Mặc dù chủ yếu chỉ mang tính biểu tượng, ba tiến
triển này cũng phục vụ cho mục đích của Việt Nam nhằm báo
hiệu cho Trung Quốc biết rằng Hoa Kỳ là một đối tượng
chính danh và đang được chào đón trong vấn đề an ninh hàng
hải khu vực.
Quan hệ an ninh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ càng được củng cố
thêm vào tháng Mười một 2011, tại cuộc Đối thoại Chính
sách Quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam lần thứ hai, trong đó cả
hai bên ký kết một bản ghi nhớ nhận diện năm lĩnh vực ưu
tiên hợp tác: thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại
quốc phòng cấp cao, an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu hộ, công
tác giữ gìn hoà bình, viện trợ nhân đạo và hỗ trợ thiên
tai của Liên Hiệp Quốc. Ví dụ gần đây nhất về đối
thoại quốc phòng cấp cao là chuyến thăm Hà Nội của Bộ
trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta vào tháng Sáu 2012 để
đáp lại chuyến thăm Washington năm 2009 của Bộ trưởng Quốc
phòng Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh. Panetta đã làm một
chuyến đi vòng bất ngờ đến Vịnh Cam Ranh để gặp gỡ toán
nhân viên của một chiếc tàu thuộc Tư lệnh Hải vận Quân
sự đang nằm sửa chữa. Chuyến thăm của ông đã khiến giới
truyền thông dự đoán rằng Hải quân Hoa Kỳ có thể quay trở
lại căn cứ cũ của mình. Tuy nhiên các quan chức Việt Nam đã
nhanh chóng nhấn mạnh rằng hải quân của bất cứ quốc gia
nào cũng có thể sử dụng các cơ sở sửa chữa dân sự tại
Cam Ranh, nhưng không quốc gia nào được phép mở căn cứ quân
sự tại Việt Nam.
Cuộc gặp gỡ giữa Panetta và Thanh chủ yếu chú trọng vào
việc xem xét tiến trình mà họ đã thoả thuận vào năm 2011.
Thanh dọn đường cho mối hợp tác tương lai khi đề cập đến
những vấn đề an ninh phi truyền thống như viện trợ nhân
đạo, hỗ trợ thiên tai và tìm kiếm cứu hộ. Ông yêu cầu Hoa
Kỳ hỗ trợ thêm để giải quyết những hệ quả từ cuộc
chiến Việt Nam, ví dụ như dọn dẹp Chất độc Da cam và bom
nổ chậm. Ông cũng yêu cầu Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm bán vũ
khí cho Việt Nam. Panetta đáp trả bằng các đề nghị Việt Nam
cho phép thiết lập Văn phòng Hợp tác Quốc phòng tại Hà Nội
để tạo điều kiện cho những tiếp xúc tương lai.
Bên cạnh những tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, việc
hiện đại hoá quân đội và cân bằng quan hệ an ninh với Trung
Quốc và Hoa Kỳ, những thách thức lớn của quốc phòng Việt
Nam bao gồm "chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao...
khủng bố, tội phạm công nghệ cao và liên quốc gia," theo
báo các chính trị đọc tại Đại hội Đảng Toàn Quốc lần
thứ 11 vào tháng Giêng 2011. Để đối phó với những thử
thách này, bản báo cáo đề nghị phải bảo đảm "lực
lượng vũ trang ngày càng tiếp cận với thiết bị hiện đại
trong đó ưu tiên cho các lực lượng hải quân, không quân, an
ninh, tình báo và cảnh sát cơ động."
Các lực lượng chính qui của QĐNDVN đóng quân trên khắp đất
nước và có nhiệm vụ chính là phản công lại bất kỳ cuộc
tấn công nào vào Việt Nam, tham gia các cuộc tập trận hàng
năm, bao gồm toàn bộ các binh chủng ở toàn bộ các cấp từ
trung đội đến quân đoàn. Theo những nhà quan sát quân sự
ngoại quốc, khi so sánh khả năng chiến đấu của các lực
lượng vũ trang Việt Nam với những quốc gia Đông Á khác trong
bốn lĩnh vực chủ chốt (bảo vệ lãnh thổ, chiếm đóng lãnh
thổ, vai trò cảnh sát, tấn công chiến lược) với thước đo
ở bốn mức độ (kém, trung bình, tốt, rất tốt), QĐNDVN xếp
hạng tốt trong lĩnh vực bảo vệ lãnh thổ, trung bình trong
khả năng chiếm giữ lãnh thổ và thực hiện vai trò cảnh sát,
và kém trong lĩnh vực tấn công chiến lược. Đến năm 2015,
chương trình mua sắm vũ khí hiện nay của Việt Nam sẽ không
thể nâng cao khả năng chiến đấu của QĐNDVN trong ba lĩnh vực
đầu, nhưng được trông đợi là sẽ nâng khả năng tấn công
chiến lược của QĐNDVN từ kém lên trung bình.
<b>Những Ưu tiên Chiến lược</b>
Việt Nam hiện nay đang đối diện với những thử thách to lớn
về chính sách kinh tế, chính trị, quốc phòng và chính sách
đối ngoại.
Trên mặt trận kinh tế, năm 2009 Việt Nam nằm trong nhóm các
quốc gia có thu nhập trung bình thấp của Ngân hàng Thế giới.
Tổng Sản lượng Nội địa (GDP) của Việt Nam, được đo
lường bằng cách so sánh sức mua, hiện đang đứng thứ 40 trên
thế giới. Ngành công nghiệp chiếm 41% số GDP và bao gồm chủ
yếu ngành sản xuất nhẹ trên cách lĩnh vực chế biến thực
phẩm, vải sợi, thuốc lá và hoá chất. Hiện tại các mặt
hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam bao gồm nông sản
(17%), dầu thô (11%), vải sợi, quần áo và giày dép (7%). Bốn
thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam bao gồm Hoa
Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Úc, và các nguồn nhập khẩu
lớn nhất là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore và Hàn
Quốc. Năm 2008, công ty PricewaterhouseCoopers dự đoán rằng đến
năm 2025 Việt Nam sẽ trở thành một trong những nền kinh tế
mới nổi phát triển nhanh nhất. Tuy nhiên, Việt Nam phải thực
hiện những cải cách lớn về cơ chế để bảo đảm ổn
định kinh tế vĩ mô. Điều này phải cần đến một nỗ lực
nghiêm trọng nhằm cải cách hệ thống ngân hàng và tài chính
quốc gia và tái cơ cấu lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước đang
chồng chất nợ nần. Những việc này và các cải tổ khác thì
cần thiết để đạt lại tỉ lệ tăng trưởng cao và bắt
kịp mục tiêu lâu dài của Việt Nam là trở thành một quốc
gia hiện đại và công nghiệp hoá vào năm 2020.
Trên mặt trận chính trị, Việt Nam cũng phải giải quyết vấn
đề bệnh tham nhũng lan tràn đầy dẫy cũng như ảnh hưởng
của các nhóm lợi ích tư nhân đang đứng trên pháp luật. Đây
sẽ là một quá trình khó khăn và có tiềm năng gây bất ổn
vì những mạng lưới này đã nở rộ dưới sự bảo trợ của
các quan chức cấp cao. Năm 2012, đã có tranh chấp nội bộ
nghiêm trọng giữa hai thành phần trong ĐCSVN về vấn đề này,
gần đến mức hạ bệ vị thủ tướng.
Có nhiều mặt trong thách thức về quốc phòng của Việt Nam.
Trước tiên, không chỉ cần phải tìm ra ngân sách để tài
trợ cho chương trình mua sắm vũ khi đầy tham vọng mà còn cả
ngân sách để bảo trì và sữa chữa những hệ thống này.
Một ví dụ quan trọng là nguồn tài trợ suốt đời cho sáu
chiếc tàu ngầm hạng Kilo mà Việt Nam sẽ mua trong 5 năm tới.
Vào năm 2012, ngân sách quốc phòng chính thức được dự đoán
ở mức 3,3 tỉ Mỹ kim, hoặc 2,5% GDP. Chi phí quốc phòng trong
tương lai sẽ gắn chặt với sự mức tăng trưởng GDP.
Thứ hai, Việt Nam đang đối diện với những thử thách nghiêm
trọng trong việc hội nhập những hệ thống vũ khí mới vào
cơ chế lực lượng hiện tại. Ví dụ như các nhà phân tích
hải quân khu vực cho rằng binh chủng hải quân của QĐNDVN với
cơ cấu tổ chức hiện tại, sẽ không có khả năng vận hành
một hạm đội gồm sáu tàu ngầm hạng Kilo một cách hiệu
quả. Hơn nữa, Việt Nam vẫn chưa làm chủ được cuộc cách
mạng về các vấn đề quân sự và chưa tạo ra được những
nhóm tổng hợp hải-không quân thực sự có thể hoạt động
được. Việt Nam có thể phải tính đến việc cắt giảm kích
thước của quân đội thường trực để tài trợ và xây dựng
lực lượng hải quân và không quân của mình.
Thứ ba, Đại hội Đảng lần thứ 11 đã ưu tiên việc hợp
tác quốc phòng quốc tế, được xem như là một phần trong
mỗi tám thoả thuận đối tác chiến lược. Một ưu tiên chủ
chốt của Việt Nam là biến những ý định này thành thành
quả hiện thực để giúp ích cho QĐNDVN. Việt Nam cũng đưa ra
ưu tiên trong việc đóng góp quân sự khiêm tốn vào công tác
giữ gìn hoà bình của Liên Hiệp Quốc. Thực hiện những mục
tiêu này ra sao sẽ đóng một vai trò trong việc đánh giá khả
năng luyện tập và tính sẵn sàng của các lực lượng vũ trang
Việt Nam.
Việt Nam cũng đang đối điện với nhiều thử thách về chính
sách đối ngoại, nổi bật nhất là việc xử lý mối quan hệ
với Trung Quốc nhằm tránh việc tranh chấp biển Đông làm cản
trở mối quan hệ song phương rộng lớn hơn. Hiện tại, ĐCSVN
đang xem xét và sửa đổi nghị quyết hội nghị toàn thể Ban
Chấp hành Trung ương lần tám (2003) để bảo đảm có được
một hướng đi quân bình hơn trong quan hệ với Trung Quốc và
Hoa Kỳ.
Một ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại là phát
triển tính đoàn kết trong khối ASEAN và tăng cường khả năng
đối phó với các vấn đề an ninh khu vực. Việt Nam sẽ vận
động để đóng vai trò chủ động hơn trong nhóm các bộ
trưởng quốc phòng và tham mưu trưởng khối ASEAN nhằm giải
quyết vấn đề an ninh hàng hải, bao gồm tuần tra chung và tập
trận hải quân. Việc này có thể củng cố ưu tiên khác của
Việt Nam là tạo sự ổn định trên biển Đông, trong khi Hà
Nội tiếp tục thúc đẩy ASEAN có được một quy tắc ứng xử
hiệu quả hơn nhằm quân bình sự cứng rắn của Trung Quốc
trong vùng.
Việt Nam cũng ưu tiên cho sự đoàn kết của ASEAN nhằm củng
cố hai cơ phận đa phương khu vực mới là Hội nghị Bộ
trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng và Hội nghị Thượng đỉnh
Đông Á trong việc đối phó với các cường quốc chính, đặc
biệt là Trung Quốc. Việt Nam đã đặt ưu tiên trong việc tăng
cường thành viên của hai cơ phận này cũng như của Hội nghị
Á Âu bằng cách bao gồm những đối tác chiến lược từ châu
Âu là Đức và Anh.
Trong khi đó, Việt Nam đã tạo ưu tiên trong việc tăng cường
danh sách gồm tám đối tác chiến lược của mình để bao gồm
thêm Ý, Pháp, Singapore, Indonesia và Hoa Kỳ. Chắc chắn Việt Nam
sẽ đạt được những thoả thuận đối tác chiến lược vào
năm tới với tất cả các quốc gia trên ngoại trừ Hoa Kỳ, do
những cố gắng tăng cường quan hệ đang bị chững lại vì
thành tích nhân quyền yếu kém của Việt Nam. Việt Nam phải
giải quyết vấn đề này để chính quyền Obama nới lỏng
những giới hạn trong việc bán vũ khí cho Việt Nam chiếu theo
Qui chế Buôn bán Vũ khí Quốc tế.
Ưu tiên chiến lược cuối cùng của Việt Nam là bắt đầu
chuẩn bị vào giữa năm cho Đại hội Đảng Toàn quốc lần
thứ 12, được dự định tổ chức vào năm 2016. Mối quan tâm
chủ chốt là việc lựa chọn đội ngũ lãnh đạo mới cho
ĐCSVN.
Việt Nam đang nhanh chóng nổi lên như một cường quốc hạng
trung quan trọng ở Đông nam Á. Nó có trong tay nguồn lực dồi
dào về ngoại giao, kinh tế và quốc phòng để có thể có
những đóng góp quan trọng vào mục tiêu tạo ra một Cộng
đồng ASEAN vào năm 2015. Trên mặt trận ngoại giao, Việt Nam
vẫn còn có nhiều việc phải làm để cân bằng quan hệ với
Trung Quốc và Hoa Kỳ và để giữ vững tính thống nhất và
đoàn kết trong khối ASEAN. Việt Nam đang đối diện với thử
thách có lẽ là dữ dội nhất trong việc cải cách kinh tế,
đạt lại tỉ lệ tăng trưởng cao và giữ gìn ổn định.
Cuối cùng, Việt Nam sẽ đối diện với những cản trở quan
trọng trong việc hội nhập những hệ thống vũ khí khí tài
hiện đại mới mua để chúng có thể được triển khai một
cách hiệu quả. Thất bại trên bất cứ mặt trận nào cũng có
thể dẫn đến việc giảm giá trị vai trò chiến lược của
Việt Nam trong các vấn đề khu vực và bị trống lưng khi đối
phó với Trung Quốc trong các tranh chấp lãnh thổ trên biển
Đông.
<i>Carlyle A. Thayer là giáo sư danh dự Đại học New South Wales
thuộc Học viện Quốc phòng Úc, Canberra và là giám đốc công
ty Tư vấn Thayer.</i>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130205/carlyle-thayer-danh-gia-vi-the-chien-luoc-cua-viet-nam-2),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét