Trần Vinh Dự - Làn sóng vượt biên lần thứ hai

Tôi có hai người bạn thành đạt. H là tổng giám đốc trong
một quỹ đầu tư lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng đi
du học và lập gia đình ở nước ngoài. Cách đây 8 năm, anh
bỏ việc ở nước ngoài để về nước với niềm phấn khích
cao độ. Giờ đây, anh đang tính nộp hồ sơ xin di trú cho gia
đình sang Bắc Mỹ. Anh chưa tính sẽ sang Bắc Mỹ sống ngay,
nhưng với anh, đó là một cách bảo hiểm.

T là chủ một doanh nghiệp cổ phần cũng ở thành phố Hồ Chí
Minh. Anh từng bán một công ty trước đây do anh gây dựng và
thu về một khoản tiền lớn. Giờ đây anh vẫn còn hai công ty
nữa ở Việt Nam. Tuy nhiên hiếm khi anh ở Việt Nam. Anh dành
phần lớn thời gian ở Mỹ với gia đình, nơi anh mới mua một
căn biệt thự giá hơn 3 triệu USD hồi đầu năm 2012.

Trở thành thường trú nhân, hay còn gọi là người có "thẻ
xanh", hoặc trở thành người song tịch, tức là vừa có quốc
tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch một nước khác, đang trở
thành một xu thế thời thượng. Có nhiều hãng tư vấn di trú
đang hoạt động tích cực ở Việt Nam như IMG, Kornova, USIS,
Harvey Law Group (HLG), Immigration (IMM), US Investment (USI), ImmiCa…
để phục vụ những khách hàng tiềm năng như H và T. Một số
đang trong tình trạng chạy hết công suất vì khách hàng quá
đông.

<h2>Hợp pháp và hợp lý</h2>

Việc làm thủ tục xin định cư ở nước ngoài là việc hoàn
toàn hợp pháp ở Việt Nam. Thậm chí, ở một khía cạnh nào
đó nó còn được khuyến khích. Kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009,
Luật Quốc tịch mới của Việt Nam có hiệu lực và luật này
quy định công dân Việt Nam có quyền có hai quốc tịch. <a
href="http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2008/12/3ba091b7/">Theo Bộ Tư
pháp</a>, kể từ ngày đó, người Việt Nam ra định cư, nhập
quốc tịch ở nước ngoài đương nhiên mang quốc tịch Việt
Nam mà không phải đăng ký. Điều đó có nghĩa là người Việt
Nam có thể xin quốc tịch nước khác như Mỹ hay Canada mà không
cần phải sợ mất quốc tịch Việt Nam.

Với nhiều người, việc có quốc tịch thứ hai cũng không quá
quan trọng. Điều họ cần là quyền được định cư lâu dài
ở nước mà họ lựa trọn ngoài Việt Nam. Và như vậy, chỉ
cần là thường trú nhân (có thẻ xanh) là đủ. Điều đó có
nghĩa là việc có hay không có quyền có hai quốc tịch theo
luật Việt Nam không phải là yếu tố thúc đẩy họ xin định
cư nước ngoài.

Xét về mặt cá nhân, việc thu xếp để có thêm một lựa
chọn về nơi ở là chuyện bình thường và hợp lý. Cả H và T
đều muốn con cái khi lớn lên được sống trong một môi
trường an toàn và được hưởng thụ một nền giáo dục tốt.
Ngay cả nếu không định cư dài hạn ở một nước khác, thì
có được tự do trong việc đi lại và thay đổi môi trường
sống theo sở thích cũng là một quyền lợi thú vị, mặc dù
tốn kém. Đó là chưa kể việc một số người trở nên giàu
có như T muốn đa dạng hoá tài sản của mình, vì thế, giữ
một số tài sản bất động sản ở nước ngoài cũng là một
lựa chọn thông minh.

Xã hội Việt Nam đang giàu lên. Cùng với sự phát triển chung
của xã hội, Việt Nam ngày càng có nhiều người giàu. Đi kèm
với nó là ngày càng nhiều những người có nhu cầu làm
thường trú nhân ở các nước phát triển như H và T. Điều
này xem ra có vẻ rất bình thường.

Không có số liệu chính thức về số hồ sơ xin định cư mà
các hãng tư vấn định cư hoạt động ở Việt Nam đang giải
quyết. Vì nhiều lý do tế nhị, cũng ít có người công khai
tự nhận mình đang xin quyền định cư ở nước khác. Thế
nhưng có nhiều bằng chứng gián tiếp cho thấy phong trào này
hiện nay đang phát triển mạnh. Ngày càng có nhiều hãng tư
vấn di trú quốc tế tham gia vào thị trường Việt Nam, ngày
càng có nhiều đại lý độc lập mọc lên phục vụ khách hàng
trên thị trường này. Một số hãng lớn trong năm 2012 thậm
chí đã bị quá tải và phải outsource ra bên ngoài để có đủ
nhân lực xử lý hồ sơ.

Thậm chí đã xuất hiện một số doanh nghiệp Việt Nam ngấp
nghé đầu tư vào Bắc Mỹ hoặc Úc trong các ngành liên quan
đến nông - lâm nghiệp với mục đích tạo càng nhiều công ăn
việc làm ở các nước này càng tốt. Lý do là số lượng công
ăn việc làm tạo ra càng nhiều thì các chủ dự án này càng
xin được nhiều xuất thẻ xanh. Các xuất thẻ xanh này sau đó
có thể bán lại cho các "nhà đầu tư"- thực chất là
những người bỏ tiền ra mua thẻ xanh vào các nước phát
triển.

Nhiều câu chuyện có vẻ hợp lý về mặt cá nhân nhưng khi
gộp với nhau lại là tín hiệu cho thấy nhiều sự bất bình
thường về mặt xã hội. Và câu truyện xin di trú ồ ạt này
cũng vậy.

<h2>Bất bình thường về xã hội</h2>

Thông thường những đợt di cư ồ ạt ra nước ngoài thường
là chỉ dấu cho thấy những vấn đề về mặt xã hội. Lý do
thông thường nhất là sự khó khăn về kinh tế, hiểm hoạ
chiến tranh, bất ổn chính trị, phân biệt chủng tộc… Làn
sóng vượt biên ở Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ 70
và đầu thập kỷ 80 trước đây là một thí dụ. Nền kinh tế
Việt Nam trước đổi mới đã rơi vào tình trạng kiệt quệ
và điều này đã làm cho nhiều người Việt tìm cách vượt
biên với hi vọng tìm được miền đất hứa.

Thế nhưng trào lưu di cư lần này của người Việt khác xa
với trào lưu vượt biên trước đây, mặc dù có nhiều người
gọi vui là phong trào vượt biên lần thứ hai. Khác biệt cơ
bản nhất là phong trào hiện nay là phong trào di cư của những
người giàu, những người thực sự có tiền để trở thành
các nhà đầu tư và lấy thẻ xanh qua hình thức đầu tư. Nếu
trước đây các thuyền nhân vượt biên nghèo đói chen chúc
trên những thuyền cá nhỏ bé, thì những người di cư lần này
đi máy bay trên ghế hạng C (hạng sang) và trong tài khoản đầy
tiền.

Lý do thông thường khiến những người giàu muốn định cư ở
nước phát triển là tìm đến một môi trường xã hội tốt
hơn cho gia đình khi họ trở thành những người có khả năng
chi trả cho một cuộc sống tốt hơn. Thế nhưng đây không
phải là lý do tạo ra các đợt di cư đột biến.

Lý do thường được nghe đến nhiều nhất trong số các chủ
doanh nghiệp muốn di cư ra nước ngoài ở Việt Nam là sự bế
tắc về cơ hội kinh doanh hiện nay cũng như sự bi quan về
triển vọng trong tương lai. Các doanh nhân luôn muốn tìm kiếm
môi trường kinh doanh nơi họ có thể kiếm tiền nhiều nhất.
Khi thấy Việt Nam không phải là nơi họ có thể kiếm nhiều
nhất nữa, họ đương nhiên muốn kiếm tìm một chân trời
mới.

Cũng từ sự bi quan về hiện trạng và tương lai của nền kinh
tế khiến nhiều chủ doanh nghiệp lo lắng về các bất ổn xã
hội có thể xảy ra trong tương lai. Điều này dẫn họ tới
chuyện lo xa cho gia đình. Từ những mối lo sợ có thật như
môi trường xã hội ngày càng kém an toàn, đặc biệt là ở
thành phố Hồ Chí Minh, tới những mối lo xa xôi như bất ổn
và rối loạn xã hội hoặc chiến tranh. Trong khi còn có điều
kiện về tài chính, việc thu xếp để gia đình có quyền
thường chú ở nước khác xem ra là một dạng mua bảo hiểm
khôn ngoan.

Ẩn sau câu chuyện đó, còn có những lý do tế nhị hơn. Việt
Nam trong một giai đoạn dài phát triển rất mạnh. Do hệ thống
luật pháp và chính sách không hoàn thiện và phải thay đổi
thường xuyên, các lỗ hổng pháp lý rất nhiều và dẫn đến
một thực tế là có nhiều người làm giàu dựa vào sự lỏng
lẻo của quản lý hoặc các bất cập trong hệ thống pháp
luật. Kết quả là các rủi ro pháp lý luôn luôn tồn tại,
mặc dù không dưới các hình thái cụ thể. Ý thức về rủi ro
pháp lý đối với các chủ doanh nghiệp Việt Nam thường không
được rõ ràng lúc "thái bình" nhưng lại được làm sâu
sắc hơn mỗi khi có các vụ bắt giữ hoặc điều tra quy mô
lớn liên quan đến các chủ doanh nghiệp. Năm 2012 vừa qua là
một năm như vậy.

<h2>Ra đi không tay trắng</h2>

Cuộc di cư của những người giàu thường là tai hại cho nền
kinh tế nếu nó diễn ra trên diện rộng. Đầu tiên là sự
thất thoát về chất xám. Không phải ai giàu có cũng giỏi,
nhưng nhiều trong số những người này là những người có kinh
nghiệm, có khả năng kinh doanh, hiểu biết, và thông minh. Sự ra
đi của những cá nhân này là một thiệt thòi lớn cho nền kinh
tế xét về mặt chất xám trong kinh doanh.

Thứ hai là sự thất thoát về của cải. Những người ra đi
không phải với hai bàn tay trắng như phần lớn những người
vượt biên bằng tàu cá hồi 30 năm trước. Những người ra đi
lần này mang theo những khối tài sản lớn, thường là hàng
triệu USD, ra nước ngoài. Rất nhiều, nếu không muốn nói là
phần lớn, chủ doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đều đã có bất
động sản và số dư tài khoản tiền mặt lớn ở nước
ngoài.

Thứ ba, đó là các phong trào này tạo ra hiệu ứng tâm lý, làm
tăng sự dao động, làm sâu sắc thêm tâm lý lo ngại, cũng như
làm giảm nhiệt huyết của những người còn ở lại. Nó cũng
đồng thời làm nản lòng những người muốn tới Việt Nam
đầu tư và làm ăn. Đây cũng là một bất lợi nghiêm trọng
mà các phong trào di cư của người giàu gây ra cho thị trường.

Dù có những tác động bất lợi như vậy, việc lựa chọn di
cư là một quyền hợp pháp của người dân. Vì thế không thể
ngăn chặn xu hướng này bằng các mệnh lệnh hành chính. Cũng
không thể ngăn chặn nó bằng những lời kêu gọi suông.

<h2>Giữ chân người tài bằng cách tạo niềm tin</h2>

Để chống lại xu hướng "vượt biên lần thứ hai" này
cần phải giải quyết tận gốc nguyên nhân khiến nhiều
người có tiền đang muốn dứt áo ra đi. Đó là niềm tin vào
sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam và niềm tin vào sự
an toàn của bản thân họ và gia đình ở Việt Nam. Việc này
không dễ dàng. Để khôi phục lại lòng tin vào tương lai phát
triển của đất nước, điều quan trọng là nhà nước phải
chứng minh được cho thị trường và công chúng thấy khả năng
dẫn dắt, lộ trình và giải pháp cụ thể, và uy tín chính
trị của lãnh đạo.

Liên quan đến lộ trình và giải pháp cụ thể, đưa Việt Nam
ra khỏi vũng lầy hiện nay không phải là một nhiệm vụ bất
khả thi. Ngược lại, tất cả các vấn đề này đều có giải
pháp. Khủng hoảng kinh tế không phải là một câu chuyện xa
lạ mà nó đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong mọi
hình thái kinh tế mà loài người đã trải qua. Việt Nam không
phải là ngoại lệ. Thực tế là các lời giải này đã được
bàn đến nhiều, trong giới chuyên gia, trong các cơ quan tư vấn,
từ các tổ chức hỗ trợ quốc tế, tới cả các cơ quan có
thẩm quyền của nhà nước Việt Nam.

Vì thế, vấn đề còn lại nằm ở việc chứng tỏ năng lực
cũng như uy tín chính trị của người lãnh đạo.

Uy tín này phải được khôi phục và nó chỉ được khôi phục
khi người dân nhìn thấy các động thái quyết đoán của
Đảng và nhà nước liên quan đến tư cách, trình độ, đạo
đức, phẩm chất, tính chuyên nghiệp, tinh thần phụng sự
đất nước, và cái nhìn viễn kiến của bộ máy lãnh đạo.

Phải từ việc khôi phục uy tín này, lãnh đạo quốc gia mới
có thể vực dậy lòng tin của người dân về tính khả thi
của sự đổi thay tích cực. Đi kèm với lòng tin này, các
quyết sách thực tế của nhà nước nhằm thẳng vào các vấn
đề giai góc nhất đang tồn tại mới có thể giúp Việt Nam
vượt qua khó khăn hiện tại.

Chỉ khi làm được như vậy, lòng tin của thị trường cũng
như của giới doanh nhân vào tương lai ở Việt Nam mới được
khôi phục. Và chỉ có thế, câu chuyện "vượt biên lần thứ
2" của những người có tiền và những người có tài mới
giảm bớt và dần dần đảo ngược giống như thời kỳ các
doanh nhân Việt kiều lũ lượt về nước làm ăn hồi 10 năm
trước.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130128/tran-vinh-du-lan-song-vuot-bien-lan-thu-hai),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét