Đôi điều về Dân Luận

Dân Luận theo đuổi một nền báo chí công dân, nơi mỗi độc giả chính là một nhà báo.

Mục tiêu của Dân Luận là cung cấp cái nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế - xã hội - văn hóa của Việt Nam và thế giới, với mong mỏi độc giả sẽ tự xây dựng cho mình phương pháp tư duy độc lập và khoa học.

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.
(c) Dân Luận 2009. Cung cấp bởi Blogger.

Tổng số lần đọc

Google+ Followers

<div class="boxright300"><img src="https://danluan.org/files/u23/van_cao.jpg"
/></div>

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống
mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất
thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái
Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta,
đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng
hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng
tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông
vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi
thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc.
Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ
Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...

<center>*</center>

<em>"Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên
cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời
là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc
của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh
cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân
phận riêng tư..."</em> - Trịnh Công Sơn.

Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài văn
nghệ Văn Cao - người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu
bằng ba tài năng lớn: hội họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà
cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: hội họa, âm nhạc và
thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.

Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới
nghe lại bản nhạc bất hủ: <em>"Mùa xuân đầu tiên"</em>
Văn Cao khởi viết cuối tháng 12-1975, hoàn thành trong dịp tết
Bính Thìn năm 1976.

Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời
sáng tác của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm
trạng đối lập, hòa trộn nước với lửa: vui ít, buồn
nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha thiết
ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự
ít, ai oán nhiều, mê say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run
run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều, cười ít, khóc nhiều, sum
họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều, gặp
gỡ ít, bơ vơ nhiều...

Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau
của con người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: ai vui hát
lên thì nghe vui, ai buồn hát lên thấy buồn não ruột, ai đau
khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm hát lên
thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng
mình…

Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm
trí mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn
đạt. Nếu bạn đã hoặc đang đi qua bể khổ trần gian, nghe
bản nhạc <em>"Mùa xuân đầu tiên"</em> bạn sẽ cảm
thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.

Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:

"<em>Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn.
Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.
ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người.
Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.</em>"

Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ
của đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm... nhưng sao hình
ảnh <em>"khói bay trên sông, gà đang gáy trưa trên sông"</em>
lặp lại hai lần làm không gian của <em>"Mùa xuân đầu
tiên"</em> xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang vắng thế,
hiu quạnh thế, đơn độc có phần cô đơn thế? Chợt nhớ
nỗi buồn thiếu quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu
xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao nay, một khói sóng trên
sông xa Văn Cao nay, u hoài khôn xiết: <em>"một trưa nắng thôi
hôm nay mênh mông"</em>:

<em>Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!) </em>

Chợt nhớ Lưu Trọng Lư <em>"thời con nai vàng ngơ ngác"</em>
với câu thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui
não nùng Văn Cao nay: <em>"Tiếng gà trưa xao xác não
nùng"</em>.

Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha,
quý phái của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của
ngậm ngùi, day dứt; sự lãng mạn của một phiêu linh, xô dạt;
sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái đẹp lỡ
thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của
nỗi thương đau, xót nhớ...

Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng
có xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện
đấu tranh giai cấp giành giật miếng ăn chưa từng thấy chim
én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù trùm lên
xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu
lắm rồi ta tha hương trên chính quê hương mình? Chừng như
suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo danh cách mạng, không
còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con
người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm
hồn người không được sưởi nắng mùa xuân?

Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình
từng là nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng
kiệt tác? Chừng như cây đàn piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ
Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê căn gác
chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ
bụi đầy rêu mốc? Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng
đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục vụ chính
trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc
của ông đều bị chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền
Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ Văn Cao cũng bị
cấm)?

Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết
thương cuộc đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ
xuống cây đàn piano những giọt nước mắt giai điệu, khiến
những vết thương chợt mở miệng ca hát: <em>"Mùa xuân đầu
tiên"</em>

Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: <em>"có một
triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt
Nam buồn"</em> (lời ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã
hiện ra nơi bài hát: <em>"Mùa xuân đầu tiên"</em> của Văn
Cao? Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa nước
vui thắng trận trào nước mắt và một nửa nước buồn thua
trận cũng trào nước mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà quằn
quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu máo bầm
dập nhau, nên vui ấy sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu
bạt thế, nức nở nghẹn ngào thế?

Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác <em>"Mùa xuân
đầu tiên"</em> của Văn Cao sau khi được báo <em>"Sài Gòn
giải phóng"</em> in trước tết Bính Thìn: 01-01-1976, được
hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần liền bị cấm suốt
24 năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được
nhìn thấy đứa con tinh thần lớn lao này của mình được
trình diễn. Sau khi ông mất (1995) 05 năm, <em>"Mùa xuân đầu
tiên"</em> mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của chế độ.

Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai
trưởng của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của
bài hát này:

<blockquote>"Sau khi bài <em>"Tiến về Hà Nội"</em> ra đời cuối
năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi.
Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị
nữa... Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi
bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được
dàn dựng...

Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác
sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không
bị rơi vào cái nạn <em>"Nhân văn"</em> và bị <em>"vô
hiệu hoá"</em> mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn
sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt
Nam.

Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào
ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng
rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu
tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám
bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ <em>"bị vỗ
vai"</em>.

Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng
dịp tết Bính Thìn." - Trích bài "<a
href="http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c168/n2814/Van-Cao-voi-ca-khuc-Mua-xuan-dau-tien.html">Văn
Cao với ca khúc "Mùa xuân đầu tiên"</a> của Văn Thao in trên
"Tạp chí Sông Hương" số 179-180</blockquote>

Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam
nhưng bên nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga,
phát trên Đài phát thanh Matxcova:

<blockquote>"Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con
đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã
được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho
tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ
quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con
gái: "Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có
được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào
đâu.""</blockquote>

Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì nhà
ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn
luôn có công an ngầm canh gác, ai đến đều <em>"bị vỗ
vai"</em> hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên phản động
<em>"Nhân Văn"</em> làm gì? Người viết bài này sau năm 1975
có lần đến thăm nhạc sĩ Văn Cao để cho ông mượn cuốn
tiểu thuyết vĩ đại: <em>"Giờ thứ 25"</em> của văn hào
Romania Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992) mang ra từ Sài Gòn như
đã hứa, cũng đã từng bị công an mật <em>"vỗ vai"</em>
hỏi đi đâu? Bèn bảo: đi phỏng vấn tác giả "Quốc ca"
viết bài in báo cũng bị cấm à? Người <em>"vỗ vai"</em>
hất đầu cộc lộc: <em>"Vào đi"</em>.

Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị
giam lỏng, một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã
hội chủ nghĩa. Rằng Văn Cao bị vô hiệu hóa suốt 30 năm vì
tội Nhân Văn - Giai Phẩm. Rằng suốt 30 năm ấy, nhạc sĩ Văn
Cao sống rất nghèo khổ, <em>"bố có được biết đến đồng
nhuận bút tác phẩm nào đâu"</em>.

Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn
Cao, nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của
<em>"Mùa xuân đầu tiên"</em>:

<blockquote><em>"Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975. Chúng
tôi đang sống với cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa
đông Hà Nội rét tê tái. Cha tôi đã từ lâu rồi không đàn.
Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có tiếng chân nhè nhẹ lần
từng bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano - đối diện
với chiếc đivăng tôi đang ngủ.</em>

<em>Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn bởi một
bàn tay phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên
chiếc đàn vốn được Hội Nhạc sĩ VN cho thuê lại với giá 7
đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi đó là 63 đồng, còn
tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến
quân ca (1974), chiếc đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì
cha lại rất ít có dịp dùng đến.</em>

<em>Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số năm mới
1-1-1976 in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được
phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nếu tôi không nhầm
thì do ca sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt
Nam trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần trong chừng
một tháng (hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng
phát thanh), rồi không hiểu sao lặng lẽ chìm đi, như thể bị
quên lãng.</em>

<em>Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha không tỏ ra
bực bội gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài
hát sẽ có ngày được hát lại và mọi người sẽ yêu nó. Và
như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ có điều lúc đó cha tôi
không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên
sóng truyền hình Việt Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm
năm."</em> - <a
href="http://vietbao.vn/Van-hoa/Mua-xuan-dau-tien-cua-cha-toi/40186268/181/">Nhà
thơ NGHIÊM BẰNG - THU HÀ ghi</a></blockquote>

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm <em>"Đêm giữa ban
ngày"</em>, kể lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay
Trường Chính chủ trương đánh <em>"Nhân Văn"</em>, kể lại
chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn
Cao lên cảnh cáo sau vụ <em>"Nhân Văn – Giai Phẩm"</em> < *1
*> (xem thú thích dưới bài)


Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ
chống cộng < *2*> (xem chú thích cuối bài)

Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn
Cao công khai trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn
tội của bà nhà văn Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị
án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai người này bị cho là
đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng <em>"Nhân văn – giai
phẩm"</em>). Sở dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là
tác giả Quốc ca.

Ngay sau vụ <em>"Nhân Văn"</em>, nhà nước cộng sản tính
lấy một bài hát <em>"Cách mạng tiến quân"</em> của Đỗ
Nhuận làm bài quốc ca, thay bài <em>"Tiến quân ca"</em> của
Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy năm sau, năm 1981 nhà nước
mở cuộc thi quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay bài hát của
tên phản động đang bất đắc dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy
trăm bài dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào được chọn
(vì quá tẻ nhạt) để thay thế bài ca lịch sử của Văn Cao.

Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã
chết trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say
đắm, lãng mạn tận cùng (với các ca khúc bất diệt:
<em>"Buồn tàn thu", "Suối mơ", "Bến xuân", "Trương
Chi", "Thiên Thai"</em>...) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết
liệt, lạnh băng, thần kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu:
<em>"thề ăn gan uống máu quân thù"... "đường ta đi xây
xác quân thù"</em>... đến cùng tận khi một mình một xe
đạp, đến tiệm hút thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu
súng lục số 7165 của tổ chức (do Nguyễn Đình Thi trao) nhắm
thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho là tay sai của
Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: tao bắn mày vì mày là
Việt gian tay sai giặc Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái
đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức toác, tóe máu; rồi ông thủng
thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi như
đang dạo mát...

Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì
đã bắn chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi,
sự sám hối quằn quại khôn xiết này đã khiến ông không còn
dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở
ban đầu kiểu <em>"Suối mơ", "Bến xuân"</em>... nữa; vì
ông có cảm giác tay mình còn nhuốm máu đồng loại. Thế mà,
có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc giết chết hàng
chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự
hào, chẳng một chút ăn năn sám hối!

Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật
tại Hà Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có
phải vì ông căm thù quân Nhật từng giết bố vợ mình là cụ
Nghiêm Xuân Huyến - một chủ báo, chủ xuất bản lớn Hà Nội
từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế
không dễ gì thỏa hiệp, đầu hàng, thà chết cho điều mình
tin yêu hơn là phải sống như một chiếc bóng trong suốt hơn ba
mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông: <em>"Nhân văn -
Giai phẩm"</em>...

Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn
rượu đơn sơ <em>"cuốc lủi"</em>, lạc rang, đậu phụ mắm
tôm, với bạn tâm giao: nhà văn Mạc Phi, nhà văn Sơn Tùng...)
rằng: <em>"Sau vụ Nhân Văn, anh em "chống đảng" chúng tôi,
ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải
tạo lao động trên Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên
tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ dày nặng sắp chết vẫn bị
điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử
khi tàu chạy, nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như
ánh chớp, hình bóng bà Băng (bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân
nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất bố, tôi liền bỏ
ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi
con..."</em>

Có lẽ men <em>"cuốc lủi"</em> làm Văn Cao cảm động, tay
ông run run, kể tiếp: <em>"Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo
lao động, đến bữa ăn, cứ thấy mình ngồi bàn nào là anh em
(cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang bàn khác ngồi, không
ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến
nỗi chị nuôi trại đi đày phải xẻ một suất cơm ôi cá
thối cho tôi ngồi một mình một bóng mà ăn cho khỏi chết
đói chứ nào có ngon lành gì..."</em>

Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh, theo mấy
người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn
Cao im lặng không nói gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân
rầm rập trong hàng nghìn ca khúc khẩu hiệu điếc tai như phần
lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng, nhờ chiến
thắng này mà có thể thân phận <em>"tù tại ngoại"</em>
của ông cũng sẽ được giải phóng, thoát án giam lỏng nhân
văn chăng?

Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng
hòa bình mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục
năm, dồn nén khát vọng thoát khỏi <em>"nhà giam tư
nhân"</em> mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận mấy
chục năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt
một sáng cuối đông, đầu xuân năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ
òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt mật đắng
nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao
<em>"Mùa xuân đầu tiên"</em> chăng?

Thành ra, <em>"Mùa xuân đầu tiên"</em> chính là lời reo vui
của đắng cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan
ca ngục tù gặp nắng gió mênh mông...?

Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án <em>"Nhân Văn - Giai
Phẩm"</em> (NVGP) của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã
in công khai trên rất nhiều trang mạng, để thấy thân phận
của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ "ưu việt gấp
triệu lần tư bản" thê thảm là dường nào < *3 *> (xem chú
thích cuối bài)

Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi
văn hóa văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội NVGP
bị lưu đày trong chính căn phòng mình, trên chính quê hương
mình của Văn Cao và các bạn hữu NVGP của ông hầu như đã
bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ
thuật, bị <em>"giam tại nhà"</em>, bị đấu tố, bị làm
nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy so với
những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh
phận học tập cải tạo sau năm 1975...

Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục,
vùi dập, bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt
ba mươi năm, chúng ta sẽ không cảm nhận được hết nỗi vui
của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng, được
vụt lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong
nỗi đau nghẹn ngào <em>"Mùa xuân đầu tiên"</em> này...

Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của
cô đơn, lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng
nghiện rượu đã giúp Văn Cao phần nào quên đi thực tại thê
thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời thương khó.
Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác
trong men rượu, thấy bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt
rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật nửa đêm xuyên
tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té
chạy...

Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không
thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn
mà thời đại dường như không đủ chỗ cho mình tỏa bóng.
Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn tròn trong
đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội
chống đảng của mình.

Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự
tại, thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống
lẫn con người, lãng mạn tới tận cùng chân trời góc bể
trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin cùng nghe lại
bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi,
và xem lại lời của ca từ <em>"Buồn tàn thu"</em>:

<em>Ai lướt đi ngoài sương gió,
Không dừng chân đến em bẽ bàng,
Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,
Từ từ xa đường vắng.
Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.
Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.
Người ơi còn biết em nhớ mong,
Tình xưa còn đó xa xôi lòng.
Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên
Chim với gió bay về, chàng quên hết lời thề.
Áo đan hết rồi, cố quên dáng người,
Chàng ngày nào tìm đến?
Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa
Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần.
Thôi tình em đấy, như mùa thu chết rơi theo lá vàng. </em>

<em>"Buồn tàn thu"</em> một nỗi buồn đẹp, trong veo dù tình
em tưởng <em>"chết rơi theo lá vàng"</em>. Cái buồn của
tình yêu <em>"em thương nhớ chàng"</em> Văn Cao kết hợp hồn
nhạc ngũ cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo
rất cổ thi; như người chinh phụ nhớ chinh phu <em>"Chinh phụ
ngâm"</em> Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, như thần thiếp
nhớ quân vương <em>"Cung oán ngâm khúc"</em> Nguyễn Gia
Thiều, Kiều nhớ Thúc Sinh trong mùa thu chết <em>"Rừng phong
thu đã nhuốm màu quan san"</em> Nguyễn Du thuở lục bát
<em>"người lên ngựa, kẻ chia bào"</em> của <em>"bụi hồng
dặm cuốn chinh an"</em>...

Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất
<em>"mang mang thiên cổ sầu"</em> Văn Cao. Chàng thiếu niên 16
tuổi đã ký thác đời mình trong vàng thu lá chết, lấy lá
vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ thuật muôn đời
siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự
nguyện. Chàng chết đuối theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử
trong giai điệu du dương, sang trọng, như danh họa Nga gốc Do
Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga vĩnh cửu sơn dầu...

Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua <em>"Buồn
tàn thu"</em>, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào
vương quốc Cái - Đẹp. Chàng dùng nỗi buồn làm rượu, làm
lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương
lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban
đầu trong năm kiệt tác vô song: <em>"Buồn tàn thu", "Suối
mơ", "Bến xuân"</em> (lời Phạm Duy) <em>"Trương Chi"</em>
và <em>"Thiên Thai".</em>..

Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca
của tâm hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để
được thánh hóa, được thăng hoa tới muôn vàn mê đắm, thoát
khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu? Bản tình ca của
nỗi buồn, của Cái - Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên
giới thiêng liêng niềm hoài niệm trần thế; nơi suối nguồn
róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc Văn Cao, theo giai
điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi
thở đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống,
của tin yêu và hoài vọng. Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người
bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần tiên, cõi hằng sống là vì
thế chăng?

Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca
khúc lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền
nhiệm: <em>"Thiên thai"</em> và <em>"Trương Chi"</em>, vừa
mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật
Apollon - thần ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị,
xuất thần, cuồng si của nghệ thuật Dionysos - thần rượu nho
(theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?

Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên
miền thiên giới trong đại kiệt tác <em>"Thiên Thai"</em>.
Cuộc nhập <em>"Thiên Thai"</em> ấy không chỉ có hai chàng
Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng: người tham gia khí muộn
vụ thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:

<em>Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền</em>

<em>Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên</em>

<em>Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn</em>

<em>Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai
là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên</em>

<em>Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần</em>

<em>Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta</em>

<em>Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về
Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên</em>

Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập <em>"Thiên Thai"</em>
nghệ thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn
mọi xúc cảm hồn người. Nghệ thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ
BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được
thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của
nghệ thuật là sự thoát tục, sự thăng hoa con người lên
những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động khác, mê ly
khác, ảo diệu khác... do con đò của tưởng tượng chở ta sang
bờ bên kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.

Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa
hồn ta du nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu - Nguyễn - Văn vào
cõi trời. Thiên Thai ấy, tiên nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra
không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được âm nhạc
thiên tài Văn Cao đánh thức...

Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay chính
hồn chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một
ca khúc hay đến rợn người, hay đến ngờ có ma trong giai
điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn rợn liêu trai, khuya
khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà:

<em>Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ
Vương vất heo may hoa yến mong chờ
Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.</em>

<em>Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,
Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan
Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng
Đây đó từng song the hé đợi đàn.</em>

<em>Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân
Hò khoan mơ bóng con đò trôi
Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời</em>

<em>Anh Trương Chi
Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung,
Anh thương nhớ.
Oán trách cuộc từ ly não nùng.</em>

<em>Đò trăng cắm giữa sông vắng.
Gió đưa câu ca về đâu?
Nhìn xuống đáy nước sông sâu.
Thuyền anh đã chìm đâu!
Từng khúc nhạc xa vời
Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.
Sương thu vừa buông xuống
Bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông</em>

<em>Ai qua bến giang đầu tha thiết,
Nghe sông than mối tình Trương Chi
Dâng úa trăng khi về khuya,
Bao tiếng ca ru mùa thu.</em>

<em>Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn
Còn nghe như ai nức nở và than,
Trầm vút tiếng gió mưa
Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn
Về phương xa ai nức nở và than,
Cùng với tiếng gió vương,
Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.</em>

<em>Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao
Mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền,
Ta ca trái đất còn riêng ta.
Đàn đêm thâu
Trách ai khinh nghèo quên nhau,
Đôi lứa bên giang đầu.
Người ra đi với cuộc phân ly,
Đâu bóng thuyền Trương Chi?</em>

Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch
cuộc đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại,
bi kịch của Văn Cao và chế độ… Hình như Văn Cao đã đổi
vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong câu chuyện cổ
diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi
ca, khốc ca, hú ca, Mỵ Nương ca?

Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên sông,
đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận
nghìn đời. Nay hồn ấy, tình đơn phương yêu đến chết ấy
lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu thương, nức
nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.

Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn
và thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời
đại, yêu đến nỗi cuồng điên kiểu Xuân Diệu: <em>"Hỡi
xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"</em> nhưng đã bị thời
đại đáp lại bằng "cú đớp chính trị" Nhân Văn Giai
Phẩm tàn mạt cả một đời.

Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không
chấp nhận tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát
như con ve tới chết cho nàng, vì nàng, một tình yêu phi điều
kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao đã bị nàng
Mỵ Nương - Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút
hết gan ruột chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ:
<em>"Trường ca Sông Lô"</em>, trong <em>"Tiến quân ca"</em>,
trong <em>"Làng tôi"</em>, trong <em>"Tiến vế Hà Nội"</em>,
trong <em>"Ngày mùa"</em>… ăn ốc đổ vỏ, rồi nhốt chàng
vào mật thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình
có tên là căn gác chật hẹp 108 Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15
đồng một tháng (ở tù tại gia mà phải thuê a?)...

Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn
phương, thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý
làm chén ngọc cho Mỵ Nương gieo nước mắt thương tình thành
sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi để được
chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông
đã đang và mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón
nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng tuyệt vời Trương Chi
trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh
đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng
như lời thơ R. Tagore vẽ hộ tình yêu mai sau dành cho chàng
Trương Chi - Văn Cao:

<em>"Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời / trong một thế
kỷ nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh /
vẽ dáng nàng đang đọc thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe
chữ / tôi biết đêm nay / dưới trăng mờ / nàng thắp đèn
chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ (nhạc sĩ - chua thêm
TMH) đến nữa …"</em> (bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy
Đỉnh)

Tiền bối Văn Cao ơi!

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống
mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất
thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái
Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta,
đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng
hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng
tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông
vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi
thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc.
Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ
Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...

Sài Gòn ngày 23-01-2013

<strong>Trần Mạnh Hảo</strong>

_________________________________

<h2>Phần chú thích:</h2>

Chú thích <*1*>:

"Tố Hữu ấy à? Không, không phải đâu. Cần phải công
bằng. Tố Hữu có không ưa mình, có làm khổ mình thật, do
lòng đố kỵ mà ra. Mình cũng ghét cái thằng bắng nhắng ấy
lắm. Nhưng có thế nào nói thế ấy. Tố Hữu chỉ là kẻ
thừa hành thôi. Nói gì thì nói, trong lòng Tố Hữu vẫn còn
một chút gì của nhà thơ chứ. Bề ngoài thì thế đấy - Tố
Hữu lãnh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta
tưởng vụ Nhân văn - Giai phẩm nổ ra là bởi báo Nhân văn
đăng mấy bài phê bình thơ Tố Hữu, Tố Hữu tức, Tố Hữu
đánh. Nhầm hết. Longue Marche (tiếng Pháp, có nghĩa là cuộc
quân hành dài, ý nói Trường Chinh) mới là kẻ sáng tác ra vụ
Nhân văn - Giai phẩm. Để chạy tội Cải cách ruộng đất.
Để tạo ra cái hố rác mà trút mọi tội lỗi của Lúy[2] vào
đấy. Chính Longue Marche chứ không ai khác. Đừng tước bản
quyền của Lúy, tội nghiệp! Longue Marche còn cho mời mình và
Nguyễn Tuân đến gặp. Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng
tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà. Nguyễn Tuân
nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn
thế - bất cần đời. Đôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có
mức độ thôi, trong đại đa số trường hợp là kẻ bất
chấp. Mình nói với Longue Marche: "Nếu trong vườn hồng có sâu
thì ta phải chịu khó mà bắt bằng tay, từng con một. Đổ ụp
cả đống thuốc trừ sâu vào đấy thì chết cả vườn hồng.
Rồi anh sẽ thấy: qua đợt đánh phá này không biết bao giờ
nền văn nghệ Việt Nam mới ngóc đầu dậy được!" Lúy nghe,
mặt câng câng. Cái cách của Trường Chinh là thế. Lúy gọi
mình đến còn có ý này nữa: Lúy muốn mình phải hiểu - tôi
đã chịu khó nghe các anh rồi đấy nhá, tôi dân chủ lắm rồi
đấy nhá! Chứ còn cái nền văn nghệ của các anh, nó đáng
giá mấy xu?.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_Nh%C3%A2n_V%C4%83n_-_Giai_Ph%E1%BA%A9m

Chú thích <*2*>:

"Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch;
không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào
gạo cơm ta ăn, khiến ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ
thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn hiệu là "bổ".
Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối
đã thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu,
thoái hoá của Văn Cao cứ nghiễm nhiên mặc áo chân lý và
tiến bộ. (...)

Vào đời giữa thời phát-xít Nhật đổ bộ vào Đông Dương,
lúc lớn lên nhạy cảm nhất lại là lúc chủ nghĩa đế quốc
Pháp Nhật toát ra cái chất cuối mùa đồi trụy nhất, phản
động nhất, Văn Cao đã ngộ độc rất nặng. (...)

Trong bài hát Trương Chi, Văn Cao gán cho người đánh cá cái
khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì
hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của
chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng
nề:

<em>Ngồi đây ta gõ mạn thuyền
Ta ca trái đất còn riêng ta! (...)</em>

Những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu,
tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng
đường tất yếu của tư tưởng nhiều người; mơ ước
"Hải quân Việt Nam", "Không quân Việt Nam" lúc đó cũng
là một trạng thái của lòng yêu nước.

Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:

<em>Ta là đàn chim bay trên mây xanh
Mắt nhìn trong khói những kinh thành tan...
...Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng </em>

Ta không trách trình độ chính trị của ta và của tác giả khi
đó còn thấp. Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay,
tự say lấy mình đó là tiền thân của cái lối "Hãy đi
mãi" của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là cái máu
anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy
"những kinh thành tan" dưới bom đạn mà không chút xót
thương, và "chiến công ngang trời" kia lại là của "không
quân Việt Nam", mà không nói là chiến tranh tự vệ!

Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng
cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích
khúc mắc, khó hiểu, thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập
dị, chộ người, toát ra một màu vị tan rã, như bài "Chiếc xe
xác qua phường Dạ Lạc", hay như bài "Ngoại ô mùa đông 46"
(Văn nghệ số 2, tháng 4-5/1948):

<em>Ta đi trong nhà đổ
Nghe thời gian đã nhạt khúc ân tình
Tuy phòng the chiếc áo trẻ sơ sinh
Còn xiêm hài dành hương phấn cũ…
...
Chữ Phạn, La-tinh nhường máu tô diệt Pháp
Gió lạnh khi qua viện tàng thư
Cháy cong queo, bìa giữ chút di từ
Kierkegaard, Heiddeger và Nietzsche… (...)</em>

Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu
trong truyện trinh thám, bài thơ Anh có nghe thấy không? lập lờ,
ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó
muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là "chúng nó"? Đối lập với
ai là "chúng ta"?

<em>Bao giờ nghe được bản tình ca
Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật
Bao giờ
Bao giờ chúng nó đi tất cả (...)</em>

Trên đất nước ta, "chúng nó" là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là
tay chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai
phẩm; chúng nó là thế đấy (...)

Những con người của chúng ta, từ Cách mạng tháng Tám đến
nay, xuất hiện, trưởng thành dần dần và mãnh liệt, để đi
tới "lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu", dù
chúng ta có còn khuyết điểm, nhược điểm gì, cả Trái đất
cũng biết chúng ta vĩ đại!" (Xuân Diệu, Dao có mài mới sắc
Nxb Văn học, Hà Nội 1963, tr. 101-114. Bản điện tử do Lại
Nguyên Ân cung cấp, tài liệu Talawas)
http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100411-nhan-van-giai-pham-phan-xiii-van-cao

Chú thích <*3*>:

"VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI TÁ CÔNG AN
Được đăng bởi nguyentrongtao và VANDANVIET.COM

NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên
Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ
và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân
Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng
8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã
chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại
trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một
"góc nhìn" về sự thật.

<h2>VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM MỘT TRÀO LƯU DÂN CHỦ, MỘT CUỘC
CÁCH TÂN VĂN HỌC KHÔNG THÀNH - LÊ HOÀI NGUYÊN</h2>

Xin trích một số đoạn trong tài liệu này, để chứng minh
phong trào Nhân Văn Giai Phẩm 1955 -1958 chỉ là một trào lưu tìm
dân chủ, tìm tự do cho văn học nghệ thuật, không hề mang
tính phản động, lật đổ chế độ như chính quyền cộng
sản đã vu cáo, để đàn áp các đồng chí của Văn Cao một
cách khốc liệt, như từng xảy ra mà đại tá công an A 25 Thái
Kế Toại đã chứng minh và kết luận một cách khoa học, thấu
tình đạt lý, khiến kẻ viết bài này miễn bình luận:

"Tác giả (tức đại tá công an A 25 Thái Kế Toại) tin rằng
Nhân Văn – Giai Phẩm (NVGP) không phải là một vụ án gián
điêp phản động. Các văn nghệ sỹ trí thức NVGP không có
mục đích lật đổ chế độ. Họ chỉ mong muốn ĐCSVN, chính
phủ sửa chữa những sai lầm và xây dựng ngay một nền dân
chủ pháp trị, một đời sống tinh thần có tự do tư tưởng,
một đời sống văn học nghệ thuật tự do sáng tạo…

…Còn vụ án được đem xét xử công khai có thể nói đấy là
một vụ án xử vì mục đích chính trị chưa đủ chứng cứ
cấu thành tội danh hoạt động gián điệp mà động cơ của
nó có thể có sự lợi dụng để khuất lấp tai tiếng và bảo
vệ vị trí của chính những người lãnh đạo Đảng đã mắc
sai lầm trong CCRĐ

…Nội dung bản án kết tội NVGP trong phiên xử án như sau:

"Chúng là những tên gián điệp phản cách mạng, phá hoại
hiện hành,hoạt động có tổ chức, thực hiện âm mưu của
địch, tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý đê hèn
nhất, những hoạt động phá hoại thâm độc nhất, để cuối
cùng lật đổ chế độ chúng ta ở miền Bắc…"

…- Nhà nước cộng sản huy động hầu hêt các phương tiện
thông tin đại chúng của chính quyền tham gia phê phán. Báo Nhân
Dân, Hà Nội Mới, Quân Đội Nhân dân, Tạp chí Học Tập, Tạp
chí Văn Nghệ, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Văn Nghệ
Quân Đội, Tạp chí Điện Ảnh… Đặc trưng của các cơ quan
ngôn luận cộng sản là chỉ cho phép sự phê bình chính thống,
không cho phép người bị phê bình được nói lại…

…-Huy động các cơ quan quản lý trí thức, văn nghệ sỹ tổ
chức các cuộc kiểm thảo, phê bình đấu tố những người
tham gia NVGP, sau khi đấu tố đương sự phải viết bản tự
thú tội để công khai hóa trên các phương tiện tuyên
truyền…

…-Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ của hệ thống công an
để bắt bớ, đàn áp...

…-Sử dụng các biện pháp quản lý hành chính như khai trừ
Đảng, khai trừ BCH khai trừ hội viên các hội VHNT, treo bút
không cho xuất bản tác phẩm có thời hạn hoặc vĩnh viễn,
cách chức, chuyển công tác, hạ lương, đưa ra khỏi biên chế,
bắt buộc cư trú ở những vùng xa Hà Nội, đưa đi cải tạo
bằng lao động chân tay ở nông trường, nhà máy, hợp tác xã
nông nghiệp…

…- Ngoài ra gia đình các đối tượng còn phải chịu sự đối
xử khắc nghiêt của các cơ quan quản lý xã hội và toàn xã
hội như việc học hành, thi cử, phân công công tác, lấy vợ
lấy chồng…

…Đáng lẽ có những hình thức kỷ luật chỉ có thời hạn
vài ba năm nhưng cuối cùng kéo dài cho tới thời kỳ đổi
mới. Các đối tượng hết hạn tù và quản chế đang là công
dân bình thường nhưng vẫn bị quản lý như người mất quyền
công dân…

Nói chung là cái biện pháp tổng hợp ấy có một mãnh lực vô
hình ghê gớm, nó làm tê liệt mòn mỏi sức lực và tinh thần
của một bộ phận trí thức tinh hoa trong thời gian dài 30
năm…

…Năm 1958 là năm đen tối của họ (NVGP), bị đấu tố, kỷ
luật, ngồi tù, cải tạo lao động…

…Trong thời gian này Hồ Chí Minh đi thăm Liên Xô, Mông Cổ,
CHDCND Triều Tiên có ghé thăm Bắc Kinh, chứng kiến và có thể
học hỏi các kinh nghiệm tổ chức phong trào đánh phái hữu.
Việt Nam cử Tố Hữu, Huy Cận và Hà Xuân Trường sang học
tập kinh nghiệm, chính sách của Trung Quốc…

... Bản thân Trường Chinh cũng không thể đẩy cao hơn tốc
độ cuộc chiến chống NVGP vì ông ta không còn đầy đủ
quyền lực như trước nữa…

…Phải nói rằng ngôn ngữ văn học miền Nam đã đi trước
hiện đại hóa so với ngôn ngữ văn học miền Bắc mấy chục
năm. Phải chăng đó là hậu quả của việc thủ tiêu cuộc
cách mạng văn học của NVGP?"

(hết trích bài của <a
href="http://dotchuoinon.com/2011/04/10/v%E1%BB%A5-nhan-van-%E2%80%93-giai-ph%E1%BA%A9m-t%E1%BB%AB-goc-nhin-c%E1%BB%A7a-d%E1%BA%A1i-ta-cong-an-bai-chu%E1%BA%A9n/">đại
tá công an A 25 Thái Kế Toại</a>)



***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130124/van-cao-mot-thien-tai-bi-luu-day),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

0 phản hồi:

Đăng nhận xét

Các bài viết có liên quan của vụ án Cù Huy Hà Vũ được Dân Luận tập hợp tại đây: Hồ Sơ Cù Huy Hà Vũ, hoặc theo từ khóa "Cù Huy Hà Vũ".

Độc giả có thể truy cập Dân Luận an toàn hơn qua cổng HTTPS (HTTP có mã hóa bảo mật), bằng cách thêm https:// vào đằng trước địa chỉ danluan.org, hoặc bấm vào đây!
Bấm vào đây để đọc chuyên mục Góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992
Bấm vào đây để đọc cuốn Trần Huỳnh Duy Thức - Con Đường Nào Cho Việt Nam

Quỹ Dân Luận


Bấm nút Donate để ủng hộ tài chính cho Dân Luận qua Paypal. Thu chi quỹ Dân Luận: xem ở đây!

Hỗ trợ dân chủ

Bạn có thể chia sẻ tấm lòng của mình với các nhà hoạt động dân chủ trong nước và gia đình của họ, ngay cả khi bạn đang ở trong nước. Bạn chỉ cần ra bưu điện, hỏi về dịch vụ "chuyển tiền nhanh". Người ta sẽ cấp cho bạn một phiếu, trong đó có phần thông tin người gửi và người nhận. Phần người nhận bạn cần điền chi tiết và chính xác. Còn phần người gửi, bạn không cần điền chính xác. Phí chuyển tiền không đắt, hãy làm gì đó chứng tỏ xã hội đứng phía sau những công dân này!

Danh sách các nhà hoạt động dân chủ trong nước và địa chỉ của họ có thể được tìm thấy ở đây!

Dân Luận kêu gọi bài vở theo chủ đề: Nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động và xây dựng phong trào của Tổ chức Otpor (Phản Kháng) của Serbia. Đây là kinh nghiệm là các lực lượng đối kháng tại Tunisia và Ai Cập đã vận dụng để lật đổ độc tài tại các quốc gia này...

Bài mới trên Dân Luận

Archives