<blockquote>Đoạn trích sau từ cuốn Bên Thắng Cuộc II: Quyền
Bính nói về vai trò của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong
việc thành lập hàng loạt các tập đoàn kinh tế quốc doanh -
hay còn gọi là Quả Đấm Thép. Ban Biên Tập Dân Luận xin giới
thiệu trích đoạn này tới độc giả, trong bối cảnh xã hội
đang đặt câu hỏi ai phải chịu trách nhiệm về những con số
lỗ lã và thất thoát khổng lồ ở các tập đoàn kinh tế
quốc doanh.
Tác giả Huy Đức có chú thích rõ các nguồn tin sử dụng trong
cuốn sách, nhưng do khuôn khổ hạn chế của bài báo này, chúng
tôi không đăng các chú thích này, mời độc giả tham khảo
trong sách. Độc giả có thể mua cả hai tập sách này trên <a
href="https://www.smashwords.com">Smashwords</a> hoặc Amazon.com theo
hướng dẫn <a href="https://www.facebook.com/BenThangCuocBook">trên
Facebook</a>.</blockquote>
Cho dù trong Bộ chính trị khóa X (2006-2011) vẫn có những
người trưởng thành qua chiến tranh, họ bắt đầu thuộc thế
hệ "làm cán bộ" chứ không còn là thế hệ của những
"nhà cách mạng". Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị
của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được
ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa
Việt Nam bước sang một trang sử mới. Ngay cả khi duy trì
phương thức nắm giữ quyền bính tuyệt đối hiện thời, nếu
lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt
lên hàng đầu, họ có thể trao cho người dân quyền sở hữu
đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân; họ có
quyền chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ
đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Vẫn còn
quá sớm để nói về họ. Khi cuốn sách này ra đời, họ vẫn
đang nắm giữ trong tay mình vận hội của chính họ và đất
nước.
<h2>Người kế nhiệm</h2>
Theo ông Phan Văn Khải, khi thăm dò ý kiến chuẩn bị nhân sự
cho Đại hội X, các ban ngành đánh giá ông Vũ Khoan cao hơn.
Một trong những "ban, ngành" nhiệt tình ủng hộ ông Vũ Khoan
là Ban Nghiên cứu của thủ tướng. Thời ông Phan Văn Khải,
trước khi chính phủ ban hành bất cứ văn bản nào, thủ
tướng cũng đều chuyển cho Ban Nghiên cứu xem trước. Các văn
bản hay bị Ban Nghiên cứu có ý kiến lại thường được đưa
lên từ Văn phòng Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn
Dũng.
Ông Khải thừa nhận, thâm tâm ông cảm tình với ông Vũ Khoan
hơn, tuy nhiên, phần vì Vũ Khoan bị coi là thiếu thực tế trong
nước, phần vì ông đã lớn tuổi - Vũ Khoan sinh năm 1937, cùng
năm sinh với các ông Trần Đức Lương, Nguyễn Văn An - nên
việc giới thiệu ông là gần như không thể. Nhưng, chủ yếu,
theo ông Khải: "Tương quan lực lượng không cho phép".
Ngày 28-6-2006, Quốc hội bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Tấn Dũng
làm thủ tướng. Trước khi rời nhiệm sở, ông Phan Văn Khải
tổ chức một buổi gặp mặt toàn thể Ban Nghiên cứu với sự
có mặt của thủ tướng mới được bầu Nguyễn Tấn Dũng.
Tiếp lời ông Phan Văn Khải, trong một diễn văn ngắn, ông
Dũng cũng đã dùng những từ ngữ tốt đẹp để nói về Ban
Nghiên cứu và tương lai cộng tác giữa ông và các thành viên.
Cũng trong cuộc gặp này, ý tưởng hình thành văn phòng thủ
tướng trong Văn phòng Chính phủ đã được cả ông Khải và
ông Dũng cùng ủng hộ.
Trong đúng một tháng sau đó, công việc của Ban vẫn tiến hành
đều đặn. Chiều 27-7-2006, ông Trần Xuân Giá được mời lên
phòng thủ tướng. Ông Giá nhớ lại, đó là một cuộc làm
việc vui vẻ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng ý để Giáo
sư Đào Xuân Sâm, lúc ấy đã lớn tuổi, nghỉ hưu và ông cũng
tỏ ra không bằng lòng với việc Tiến sỹ Lê Đăng Doanh vẫn
hay phát biểu với vai trò thành viên của Ban Nghiên cứu. Cuộc
nói chuyện kéo dài tới 17 giờ ngày 27, Thủ tướng thân tình
đến mức ông Giá tạm thời gạt qua kế hoạch nghỉ hưu và
trở về ngồi vẽ sơ đồ tổ chức văn phòng thủ tướng và
chuẩn bị kế hoạch củng cố Ban Nghiên cứu.
Hôm sau, ngày 28-7-2006, khi ông Trần Xuân Giá đến cơ quan ở
đường Lê Hồng Phong thì thấy Văn phòng vắng vẻ, nhân viên
lúng túng tránh nhìn thẳng vào mắt ông. Ông Trần Xuân Giá làm
tiếp một số việc rồi về nhà. Vào lúc 16 giờ cùng ngày,
ông nhận được quyết định nghỉ hưu và quyết định giải
thể Ban Nghiên cứu do văn thư mang tới. Cả hai cùng được
chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký vào ngày 28-7-2006, tức
là chỉ ít giờ sau khi ngồi "hàn huyên" với ông Trần Xuân
Giá. Theo ông Giá thì ông là người cuối cùng trong Ban Nghiên
cứu nhận được quyết định này.
Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh tại Cà Mau năm 1949. Mới mười hai
tuổi đã theo cha vào "bưng" làm liên lạc, ông biết chữ
chủ yếu nhờ các lớp bổ túc ở trong rừng do địa phương
quân tổ chức. Sau đó, ông Dũng được đưa đi cứu thương
rồi làm y tá cho Tỉnh đội.
Ngày 30-4-1975, Nguyễn Tấn Dũng là trung úy, chính trị viên
Đại đội Quân y thuộc Tỉnh đội Rạch Giá. Đầu thập niên
1980, theo ông Lê Khả Phiêu: "Khi ấy, tôi là Phó chính ủy
Quân khu IX, trực tiếp gắn quân hàm thiếu tá cho anh Nguyễn
Tấn Dũng. Năm 1981, khi anh Dũng bị thương ở chiến trường
Campuchia, tôi cho anh về nước đi học". Năm 1983, từ trường
Nguyễn Ái Quốc trở về, ông Dũng ra khỏi quân đội, bạn bè
của cha ông, ông Nguyễn Tấn Thử, đã bố trí ông Dũng giữ
chức phó Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Nhưng vị trí giúp ông có
một bước nhảy vọt trong con đường chính trị là chức vụ
mà ông nhận sau đó: bí thư Huyện ủy Hà Tiên.
Sau Đại hội V, ông Lê Duẩn có ý tưởng cơ cấu một số cán
bộ trẻ và một số cán bộ đang là bí thư các 'pháo đài
huyện' vào Trung ương làm ủy viên dự khuyết như một động
thái đào tạo cán bộ. Ông Nguyễn Đình Hương580 nhớ lại:
"Trước Đại hội VI, tôi được ông Lê Đức Thọ phân công
trực tiếp về địa phương gặp các ứng cử viên. Phía Nam có
anh Nguyễn Tấn Dũng, bí thư huyện Hà Tiên, cô Hai Liên, bí thư
huyện ủy Thống Nhất, Đồng Nai, cô Trương Mỹ Hoa, bí thư
quận Tân Bình; phía Bắc có cô Nguyễn Thị Xuân Mỹ, bí thư
Quận ủy Lê Chân, Hải Phòng". Sau Đại hội VI, ông Nguyễn
Tấn Dũng rời "pháo đài" Hà Tiên về Rạch Giá làm phó bí
thư thường trực rồi chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh.
Trước Đại hội Đảng lần thứ VII, khi chuẩn bị cho Đại
hội Tỉnh Đảng bộ Kiên Giang, ông Lâm Kiên Trì, một cán bộ
lãnh đạo kỳ cựu của tỉnh từ chức, mở đường cho ông
Nguyễn Tấn Dũng lên bí thư. Theo ông Năm Loan, khi ấy là ủy
viên thường vụ, trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang:
"Ông Đỗ Mười vào T78, triệu tập Thường vụ Tỉnh ủy lên
họp, duyệt phương án nhân sự và quyết định đưa Nguyễn
Tấn Dũng lên làm bí thư". Năm ấy ông Dũng bốn mươi hai
tuổi.
Trong một nền chính trị, mà công tác cán bộ được giữ bí
mật và phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn của một vài
nhà lãnh đạo, các giai thoại lại xuất hiện để giải thích
sự thăng tiến mau lẹ của một số người. Trong khi dư luận
tiếp tục nghi vấn ông Nông Đức Mạnh là "con cháu Bác
Hồ"581, một "huyền thoại" khác nói rằng, cha của ông
Nguyễn Tấn Dũng đã "chết trên tay ông Lê Đức Anh" và
trước khi chết có gửi gắm con trai cho Bí thư Khu ủy Võ Văn
Kiệt và Tư lệnh Quân khu IX Lê Đức Anh. Trên thực tế, cha
ông Nguyễn Tấn Dũng là ông Nguyễn Tấn Thử, thường gọi là
Mười Minh, đã mất trước khi hai ông Võ Văn Kiệt và Lê Đức
Anh đặt chân xuống Quân khu IX.
Ngày 16-4-1969, một trái bom Mỹ đã ném trúng hầm trú ẩn của
Tỉnh đội Rạch Giá làm chết bốn người trong đó có ông
Nguyễn Tấn Thử khi ấy là chính trị viên phó Tỉnh đội.
Một trong ba người chết còn lại là ông Chín Quý, chính trị
viên Tỉnh đội. Trong khi, đầu năm 1970, ông Lê Đức Anh mới
được điều về làm tư lệnh Quân khu IX còn ông Kiệt thì mãi
tới tháng 10-1970 mới xuống miền Tây. Họ có nghe nói đến
vụ ném bom làm chết ông Chín Quý và ông Mười Minh nhưng theo
ông Kiệt thì cả hai ông đều chưa từng gặp ông Mười Minh
Nguyễn Tấn Thử. Mãi tới năm 1991, trong đại hội đại biểu
tỉnh đảng bộ Kiên Giang, ông Võ Văn Kiệt mới thực sự
biết rõ về ông Nguyễn Tấn Dũng và cho tới lúc này ông Kiệt
vẫn muốn ông Lâm Kiên Trì, một người mà ông biết trong
chiến tranh, tiếp tục làm bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang.
Ông Nguyễn Tấn Dũng được điều ra Hà Nội tháng 1-1995, ông
bắt đầu với chức vụ mà xét về thứ bậc là rất nhỏ:
thứ trưởng Bộ Nội vụ. Trước Đại hội VIII, theo ông Lê
Khả Phiêu: "Khi làm nhân sự Bộ Chính trị, anh Nguyễn Tấn
Dũng gặp tôi, nói: 'Anh em miền Nam yêu cầu tôi phải tham gia
Bộ Chính trị'. Trong khi, thứ trưởng thường trực là anh Lê
Minh Hương thì băn khoăn: 'Ngành công an không thể có hai anh
ở trong Bộ Chính trị'. Tôi bàn, anh Lê Minh Hương tiếp tục
ở trong Bộ Công an, anh Nguyễn Tấn Dũng chuyển sang Ban Kinh
tế".
Tháng 6-1996, ông Dũng được đưa vào Bộ Chính trị phụ trách
vấn đề tài chính của Đảng. Cho dù, theo ông Lê Khả Phiêu,
ông Dũng đắc cử Trung ương với số phiếu thấp và gần như
"đội sổ" khi bầu Bộ Chính trị nhưng vẫn được đưa
vào Thường vụ Bộ Chính trị, một định chế mới lập ra sau
Đại hội VIII, vượt qua những nhân vật có thâm niên và đang
giữ các chức vụ chủ chốt như Nông Đức Mạnh, Phan Văn
Khải. Ông Nguyễn Đình Hương giải thích: "Nguyễn Tấn Dũng
được ông Đỗ Mười đưa đột biến vào Thường vụ Bộ
Chính trị chỉ vì ông Đỗ Mười có quan điểm phải nâng
đỡ, bồi dưỡng, con em gia đình cách mạng. Tấn Dũng vừa là
một người đã tham gia chiến đấu, vừa là con liệt sỹ,
tướng mạo cũng được, lại vào Trung ương năm mới ba mươi
bảy tuổi".
Ngay cả khi đã ở trong Thường vụ Bộ Chính trị, ông Nguyễn
Tấn Dũng vẫn là một con người hết sức nhã nhặn. Ông không
chỉ cùng lúc nhận được sự ủng hộ đặc biệt của các
ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, mà những ai biết
ông Dũng vào giai đoạn này đều tỏ ra rất có cảm tình với
ông. Theo ông Phan Văn Khải: "Nguyễn Tấn Dũng được cả ba
ông ủng hộ, đặc biệt là ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười.
Tấn Dũng cũng biết cách vận động. Năm 1997, trước khi lui
về làm cố vấn, cả ba ông thậm chí còn muốn đưa Tấn Dũng
lên thủ tướng, tuy nhiên khi thăm dò phiếu ở Ban Chấp hành
Trung ương cho cương vị này, ông chỉ nhận được một lượng
phiếu tín nhiệm thấp".
<h2>Kinh tế tập đoàn</h2>
Trước Đại hội Đảng lần thứ X, tháng 4-2006, ông Nguyễn
Tấn Dũng được Bộ Chính trị phân công làm tổ trưởng biên
tập "Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về
phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm
2006-2010". Khi chủ trì các buổi thảo luận, ông Nguyễn Tấn
Dũng yêu cầu đưa vào văn kiện chủ trương tổ chức doanh
nghiệp nhà nước theo hướng kinh doanh đa ngành.
Theo ông Trần Xuân Giá, tổ phó biên tập: "Cho doanh nghiệp
nhà nước kinh doanh đa ngành là ngược lại với chủ trương
lâu nay của chính phủ nên chúng tôi không dự thảo văn kiện
theo chỉ đạo của ông Nguyễn Tấn Dũng. Đến gần đại hội,
ông Dũng cáu, ông viết thẳng ra giấy ý kiến của ông rồi
buộc chúng tôi phải đưa nguyên văn vào Báo cáo, phần nói về
doanh nghiệp nhà nước: Thúc đẩy việc hình thành một số
tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt
động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính;
có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai
trò chi phối".
Lúc ấy, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có đủ phiếu ở Ban Chấp
hành Trung ương để tiến đến chiếc ghế thủ tướng. Ông
khát khao tạo dấu ấn và nôn nóng như những gì được viết
trong Báo cáo Kinh tế mà ông chủ trì: "Đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan
trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát
triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển".
Mặc dù từ năm 1994, Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng
Võ Văn Kiệt đã nói đến việc "thí điểm thành lập tập
đoàn kinh doanh" nhưng cho đến năm 2005, Việt Nam chưa có một
tập đoàn nào ra đời. Cuối nhiệm kỳ, Thủ tướng Phan Văn
Khải cho thành lập hai tập đoàn: Tập đoàn Công nghiệp
Than-Khoáng sản Việt Nam ngày 26-12-2005 và Tập đoàn Công
nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin ngày 15-5-2006.
Hai tháng sau khi nhận chức, ngày 29-8-2006, Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn,
PetroVietnam, ngày 30-10-2006 thành lập Tập đoàn Công nghiệp Cao
su, ngày 9-01-2006 thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông.
Tốc độ thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước có chững
lại sau khi cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt viết một thư ngỏ
đăng trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, yêu cầu thận trọng vì
theo ông, trong khi những yếu kém của mô hình tổng công ty 90,
91 chưa được khắc phục mà lại làm phình to chúng ra bằng
các quyết định hành chính là không hợp lý. Ông Võ Văn Kiệt
viết: "Các doanh nghiệp nhà nước của ta có truyền thống
dựa vào bao cấp nhiều mặt, không dễ từ bỏ thói quen cũ,
nếu từ bỏ thói quen cũ cũng không dễ đứng vững trong thế
cạnh tranh… Không có gì đảm bảo khi các tập đoàn được
thành lập sẽ hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp hiện
nay".
Trong khoảng thời gian từ khi ông Võ Văn Kiệt mất, tháng
6-2008, cho đến năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kịp
nâng số tập đoàn kinh tế nhà nước lên con số mười hai.
Nhưng chính sách cho tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa
ngành chứ không phải số lượng tập đoàn kinh tế nhà nước
mới là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
Theo ông Phan Văn Khải: "Khi thành lập Tập đoàn Vinashin, tôi
nghĩ, đất nước mình có bờ biển dài hơn 3.000km, phát triển
ngành công nghiệp đóng tàu là cần thiết nhất là khi ngành
công nghiệp này đang được chuyển dịch từ các nước Bắc
Âu về Trung Quốc, Hàn Quốc. Chính tôi quyết định đầu tư
cho Vinashin khoản tiền bán trái phiếu chính phủ hơn 700 triệu
USD. Nhưng, sau đó thì không chỉ Vinashin mà nhiều tập đoàn
khác cũng phát triển ồ ạt nhiều loại ngành nghề, ở đâu
cũng thấy đất đai của Vinashin và của các tập đoàn nhà
nước".
Theo ông Trần Xuân Giá: "Ông Nguyễn Tấn Dũng coi doanh nghiệp
nhà nước như một động lực phát triển, nhưng phát triển
doanh nghiệp nhà nước theo cách của ông Dũng không hẳn chỉ
để làm vừa lòng ông Đỗ Mười". Cho phép các tập đoàn
kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành cũng như tháo khoán các
kênh đầu tư mà nguồn vốn cho khu vực này lại thường bắt
đầu từ ngân sách. Ông Phan Văn Khải giải thích: "Nguyễn
Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm
kỳ đầu tiên của mình. Tấn Dũng muốn hoàn thành kế hoạch 5
năm chỉ sau bốn năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt.
Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có
vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được
đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu".
Theo ông Trần Xuân Giá: "Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi
khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức thủ tướng
được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn
nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42%
và đạt tới 44% GDP trong năm 2007". Cho tới lúc đó những ý
kiến can gián thủ tướng cũng chủ yếu xuất phát từ các
thành viên cũ của Ban Nghiên cứu như Trần Xuân Giá, Lê Đăng
Doanh, Phạm Chi Lan. Nhưng tiếng nói của họ không còn sức
mạnh của một định chế sau khi Ban Nghiên cứu đã bị giải
tán. Cả ba sau đó còn nhận được các khuyến cáo một cách
trực tiếp và nhiều cơ quan báo chí trong nhiều tháng không
phỏng vấn hoặc đăng bài của những chuyên gia này.
Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này
lên tới 51% trong năm 2007. Kết quả là lạm phát cả năm ở
mức 12,6%. Các doanh nghiệp, các ngân hàng bắt đầu nhận ra
những rủi ro, từng bước kiểm soát vốn đầu tư vào chứng
khoán và địa ốc. Nhưng đầu năm 2008, Chính phủ của Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như hoảng sợ khi lạm phát lên
tới gần 3% mỗi tháng và những "liệu pháp" được đưa ra
sau đó đã khiến cho nền kinh tế dồn dập chịu nhiều cú
sốc.
Cuối tháng 1-2008, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng
thương mại phải tăng dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%. Để
có ngay một lượng tiền mặt lên tới khoảng 20.000 tỷ đồng
nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ, các ngân hàng thương mại cổ
phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Lãi suất qua
đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008
tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là
6,52%. Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định,
buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu
trị giá 20.300 tỷ đồng. Áp lực tiền bạc đã làm náo loạn
các tổ chức tín dụng.
Thoạt đầu, các tổng công ty nhà nước rút các khoản tiền
đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi
sang ngân hàng cổ phần. Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công
ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỷ đồng. Các ngân hàng quốc
doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ Nhà
nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại, nay thiếu tiền đột
ngột, vội vàng ép các ngân hàng này. "Cơn khát" tiền toàn
hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng có
khi lên tới trên 40%.
Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng
lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận
lãi suất lên tới 24 - 25%, cao hơn nhiều mức mà Luật Dân sự
cho phép. Các doanh nghiệp cũng "khát" tiền mặt, tình trạng
bán hàng dưới giá, hoặc vay với lãi suất cao đang khiến cho
chi phí sản xuất tăng đột biến. Không có gì ngạc nhiên khi
lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Các biện pháp
của Ngân hàng Nhà nước nói là chống lạm phát, nhưng đã
trực tiếp làm "mất giá" đồng tiền khi đặt các ngân
hàng trong tình thế phải nâng lãi suất.
Ngày 25-3-2008, Ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng
khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000
tỷ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng
quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm, thấp hơn nhiều so với lãi
suất trên thị trường tín dụng. Khoản tiền này theo nguyên
tắc phải được chuyển vào Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên,
từ mười năm trước, theo "sáng kiến" của Bộ Tài chính,
nó đã được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay. Một mặt,
nó tạo ra sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh, một
mặt làm cho nền kinh tế lập tức rơi vào khủng hoảng do tín
dụng bị cắt đột ngột và những khoản vay còn lại thì
phải chịu lãi suất cao.
Thị trường chứng khoán nhanh chóng hiển thị "sức khỏe"
của nền kinh tế. Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số
VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng
cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách
tuyên bố rằng đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng vì
đã xuống đến đáy nhưng chỉ hai mươi ngày sau, 25-3-2008, chỉ
số VN-index chỉ còn 492 điểm. Ngày 5-12-2008, VN-index chỉ còn
299 điểm. Xuất khẩu quý 1-2008 vẫn tăng 23,7%; nhập khẩu tăng
60,7%. Tại Sài Gòn, kinh tế vẫn tăng trưởng khá, ngân sách
quý I vẫn thu tăng 72,6%. Nhưng các biện pháp chống lạm phát
đã làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chánh
hơn nửa năm trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới bắt
đầu.
Từ cuối năm 2008, khuynh hướng quay trở lại nền kinh tế chỉ
huy càng tăng lên cho dù điều này là vô vọng vì ở giai đoạn
này, đóng góp của khu vực tư nhân cho nền kinh tế đã vượt
qua con số 50% GDP của Việt Nam. Dù vậy, Chính phủ Nguyễn Tấn
Dũng vẫn liên tục ban hành các mệnh lệnh hành chánh hòng
kiểm soát trần lãi xuất, kiểm soát thị trường ngoại tệ,
thị trường vàng.
Khi ông Đỗ Mười nhận chức Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng, để có ngoại tệ, Chính phủ phải cho một nhà đầu
tư của Nhật thuê khu nhà khách ven hồ Thiền Quang. Khi ông
Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng, Việt Nam có một
khoản dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đôla. Nhưng, di sản
lớn hơn mà Thủ tướng Phan Văn Khải trao lại cho ông Dũng là
một Việt Nam đã hoàn thành thủ tục để gia nhập WTO. Trong
khoảng thời gian 1996-2000, cho dù chịu mấy năm khủng hoảng
kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 7,5%
trong khi lạm phát chỉ là 3,5%. Trong khoảng thời gian 2001-2005,
lạm phát có cao hơn, 5,1%, nhưng tăng trưởng vẫn dương: 7%.
Chỉ sau mấy tháng nhận chức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
đã đưa GDP tăng trưởng tới mức kỷ lục: 8,5% vào tháng
12-2007; đồng thời cũng đã đưa lạm phát vào tháng 8-2008 lên
tới 28,2%. Tháng 3-2009, tăng trưởng GDP rơi xuống đáy: 3,1%.
Trong sáu năm ông Nguyễn Tấn Dũng giữ chứ Thủ tướng, mức
tăng trưởng kinh tế luôn thấp hơn rất nhiều so với mức
lạm phát. Năm 2007 GDP tăng trưởng ở mức 8,48% trong khi lạm
phát lên tới 12,63%. Năm 2008 mức tăng trưởng giảm xuống 6,18%
trong khi lạm phát là 19,89%. Năm 2009 GDP chỉ tăng 5,32% lạm phát
xuống còn 6,52% do các nguồn đầu tư bị cắt đột ngột. Năm
2010 GDP tăng đạt mức 6,78% nhưng lạm phát tăng lên 11,75%. Năm
2011 tăng trưởng GDP giảm còn 5,89% trong khi lạm phát lên tới
18,13%. Năm 2012, nền kinh tế gần như ngưng trệ, lạm phát ở
mức 6,81% nhưng GDP cũng xuống tới 5,03% thấp kỷ lục kể từ
năm 1999. Nền kinh tế rơi vào tình trạng gần như không lối
thoát.
[*] Tựa đề đoạn trích do Ban Biên Tập Dân Luận đặt.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/node/16536), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét