Đôi điều về Dân Luận

Dân Luận theo đuổi một nền báo chí công dân, nơi mỗi độc giả chính là một nhà báo.

Mục tiêu của Dân Luận là cung cấp cái nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế - xã hội - văn hóa của Việt Nam và thế giới, với mong mỏi độc giả sẽ tự xây dựng cho mình phương pháp tư duy độc lập và khoa học.

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.
(c) Dân Luận 2009. Cung cấp bởi Blogger.

Tổng số lần đọc

Google+ Followers

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub03/giaicapmoi.png"
width="600" height="178" alt="giaicapmoi.png" /></center>

Theo sự giới thiệu của bác Vi, tôi đã bỏ 03 ngày ra để
đọc cuốn "Giai cấp mới" (rất thán phục bác Jeffrey_le khi bác
đọc xong trong 01 buổi). Đây là những suy nghĩ và ghi nhận
của tôi khi đọc cuốn sách này, được viết theo kiểu hỏi
và đáp cho dễ hiểu. Nếu các bác thấy thiếu hoặc sai, xin vui
lòng bổ sung cho:

<strong>Hỏi:</strong> Chủ nghĩa Marx tốt hay xấu?

<strong>Đáp:</strong> Những nhận định của Milovan Djilas có
phần nào tương đồng với những gì miêu tả bởi George Orwell
trong cuốn Trại Súc Vật. Theo Djilas, Marx là một
nhà-bác-học-cách-mạng, đồng cảm với nỗi khổ của giai
cấp lao động thời bấy giờ, đã sáng tạo ra một cơ sở lý
thuyết cho phong trào công nhân tương lai. Mục tiêu của Marx
hoàn toàn trong sáng, và ông cũng không có ý định coi hệ
thống triết học của mình là tuyệt đối đúng cho đến muôn
đời sau, là chìa khóa vặn năng cho mọi trường hợp. Chính
những đồ đệ của ông sau này, không ai trong đó có thể
được coi là nhà khoa học, đã tuyệt đối hóa lý thuyết của
Marx, khiến nó trở nên giáo điều và độc hại, dẫn tới
"<em>khoa học càng ngày càng nhường chỗ cho tuyên truyền, và
tuyên truyền nhờ đó khoác lên cho mình cái mặt nạ khoa
học</em>". Từ một lý tưởng cao đẹp, nó đã trở thành một
công cụ để Giai Cấp Mới duy trì thể chế độc tài lên
chính những người mà họ hứa hẹn giải phóng khỏi áp bức
và bất công.

<strong>Hỏi:</strong> Tại sao các nước nghèo và lạc hậu như
Nga, Trung Quốc hay Việt Nam lại dễ hấp thụ chủ nghĩa Marx?

<strong>Đáp:</strong> Một nhận xét thú vị của Djilas về khả
năng hấp thụ chủ nghĩa Marx, đó là: "<em>Nơi nào mà sự tiến
bộ về chính trị và kinh tế bị ngăn chặn, nói một cách
khác, nơi nào vai trò khách quan của giai cấp công nhân yếu thì
nơi đó nhu cầu hệ thống hóa và giáo điều hóa học thuyết
của Marx càng tăng... [Ngược lại,] nơi nào mà sự tiến bộ
về chính trị và kinh tế khắc phục được nhu cầu phải làm
cách mạng thì khía cạnh dân chủ của chủ nghĩa Marx thắng
thế.</em>"

Theo tôi hiểu, chủ nghĩa Marx có cả hai mặt tích cực và tiêu
cực. Trong những xã hội tiến bộ và cởi mở, các cuộc tranh
luận xung quanh chủ nghĩa Marx giúp người ta rút ra được
những mặt tích cực của Marx, và tránh không làm theo những
mặt tiêu cực. Ngược lại, trong những xã hội lạc hậu với
dân trí thấp, người dân sẽ vồ lấy "ý tưởng cách mạng"
và "xây dựng nhà nước XHCN" trong lý thuyết của Marx, bởi tin
vào thiên đường mà Marx miêu tả. Từ khi chọn con đường
cách mạng XHCN, người dân trong những xã hội này đã tự
tròng lên cổ mình một hệ thống độc tài mang danh nhân dân.

<strong>Hỏi:</strong> Tại sao người dân chấp nhận con đường
CNXH, kể cả khi họ phải trả giá?

<strong>Đáp:</strong> Thứ nhất, khao khát cải tạo nền kinh tế
đã buộc nhân dân phải chấp nhận mất tự do.

Nhiều người cho rằng, đói khổ, chuyên chế và bạo lực chỉ
là hiện tượng nhất thời, trong khi các giai cấp bị tước
đoạt còn kháng cự, trong khi còn đủ mọi loại "phản động"
cả bên trong và bên ngoài, trong khi chưa cải tạo xong công
nghiệp mà thôi!

Nguyên nhân thứ hai là nguyên nhân trí dục và đức dục: Ước
mơ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, ước mơ đạt
được mức sống lý tưởng, niềm hi vọng, sự phấn khích có
thể nói sánh ngang với niềm phấn khích tôn giáo không chỉ
đối với những người cộng sản mà cho cả một bộ phận
dân chúng nữa.

Vì thế, trong quan niệm của đa số trong một quốc gia XHCN,
việc vùng dậy có tổ chức nhằm chống lại chính quyền,
chống lại đảng đồng nghĩa với sự phản bội tổ quốc,
phản bội những lý tưởng cao đẹp nhất.

<strong>Hỏi:</strong> Tại sao lại nói con đường tất yếu của
cách mạng XHCN ở các nước lạc hậu là hệ thống độc tài?

<strong>Đáp:</strong> Quan điểm này cũng được nhìn nhận bởi
George Orwell trong Trại Súc Vật và được chứng minh bởi F.
Hayek trong "Con đường tới chế độ nông nô". Theo Djilas, khi
nhắm mắt chọn lựa con đường cách mạng XHCN, rõ ràng người
dân trong xã hội lạc hậu kia đã chọn con đường "bất khả
thi".

Trong các cuộc cách mạng "thuận theo tự nhiên" khác, ví dụ
cuộc cách mạng tư sản, trong lòng xã hội đã xuất hiện
những tổ chức, những quan hệ xã hội và nhận thức của
người dân phù hợp với cuộc cách mạng đó. Ở trường hợp
cách mạng XHCN ở các nước lạc hậu, những điều kiện
thuận lợi này không tồn tại. Do đó, ngoài việc lật đổ
chế độ cũ, những người lãnh đạo cách mạng phải xây mới
toàn bộ hệ thống tư tưởng / quan hệ và tổ chức xã hội
cho phù hợp với con đường cách mạng. Có thể ví cuộc cách
mạng vô sản nói trên như một đứa trẻ đẻ non, bố mẹ nó
sẽ phải mất nhiều công chăm bẵm để nó được như những
đứa trẻ đủ tháng khác! Chính Lê Nin nhìn nhận sự thật này
như sau:

<div class="special_quote">"<em>… Một trong những khác biệt chủ
yếu của cách mạng tư sản và cách mạng xã hội chủ nghĩa
là đối với cách mạng tư sản vốn thoát thai từ chủ nghĩa
phong kiến, trong lòng của chế độ cũ đã hình thành dần dần
các tổ chức, các tổ chức đó biến đổi một cách từ từ
tất cả các mặt của chế độ phong kiến… Trong khi thực
hiện nhiệm vụ này, mọi cuộc cách mạng tư sản chỉ làm
mỗi một việc: đẩy nhanh sự phát triển của chủ nghĩa tư
sản. </em>

<em>Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một vị thế hoàn toàn
khác. Do những dích dắc của lịch sử, đất nước tiến hành
cách mạng xã hội chủ nghĩa càng lạc hậu thì giai đoạn
chuyển tiếp từ quan hệ tư bản chủ nghĩa sang quan hệ xã
hội chủ nghĩa sẽ càng khó khăn…</em>"</div>

Khi không có sẵn những điều kiện thuận lợi để hoàn thành
cuộc cách mạng XHCN, nhóm lãnh đạo cuộc cách mạng buộc
phải tạo nên chúng thông qua bạo lực và tuyên truyền: Bạo
lực để tiêu diệt các giai cấp đối kháng, và tuyên truyền
để tạo niềm tin và thu hút sự ủng hộ của dân chúng đối
với chế độ mới. Đảng cầm quyền sau cách mạng sẽ phải
đủ khôn khéo, đủ mạnh mẽ và đủ chuyên chính để thống
nhất tư tưởng toàn xã hội tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây
chính là điều kiện lý tưởng cho những kẻ ham mê quyền lực
leo lên vũ đài chính trị, và khi đó kẻ mạnh nhất – vô
đạo đức nhất sẽ chiến thắng. Và khi đó, kẻ mạnh cũng
không có lý do gì để tụt xuống, trả lại quyền lực cho
nhân dân sau khi cơ sở cho CNXH đã được hình thành. Chuyên
chính của đảng tất yếu dẫn tới độc tài cá nhân.

Giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng sẽ kết thúc với
việc các tổ chức đối kháng bị vô hiệu hóa và toàn bộ
tài sản xã hội được quốc hữu hóa và rơi vào tay của một
nhóm người trong đảng. Từ đây, một Giai Cấp Mới được
hình thành, giai cấp mà bác Jeff gọi là Tư Bản Đỏ!

<strong>Hỏi:</strong> Giai Cấp Mới gồm những ai?

<strong>Đáp:</strong> Đó là một nhóm người trong đảng, có
quyền quản lý và phân phối toàn bộ khối tài sản đã
được quốc hữu hóa và tập thể hóa. Chính vai trò độc
quyền quản lý và phân phối thu nhập quốc dân cũng như mọi
tài sản khác của quốc gia đã biến tầng lớp này trở thành
tầng lớp đặc quyền đặc lợi.

Dựa trên một loại hình sở hữu đặc biệt, chưa từng có
trong lịch sử loài người, đó là "sở hữu tập thể", giai
cấp mới chiếm đoạt thành quả lao động của xã hội, tự
cho mình hưởng thụ những đặc quyền đặc lợi to lớn. Để
duy trì quyền lợi của mình, giai cấp mới tiếp tục phải sử
dụng tới bạo lực và tuyên truyền. Điểm khác biệt giữa
giai đoạn đầu và giai đoạn sau của cách mạng là, quyền
lực, từ chỗ là mục đích [phải chiếm được quyền lực
để cải thiện xã hội] trở thành phương tiện [là công cụ
duy trì quyền lợi]. Tư cách của người đảng viên cũng thay
đổi giữa hai thời kỳ:

Milovan Djilas viết: "<em>Trước cách mạng, các đảng viên cộng
sản có nghĩa là nghèo khổ về vật chất, thoát li hoạt động
là vinh dự, thì giờ đây, khi đảng đã nắm được chính
quyền, đảng viên đồng nghĩa với thành viên của giai cấp
nắm quyền, hoạt động cách mạng đồng nghĩa với việc trở
thành những kẻ bóc lột đầy quyền uy.</em>"

<strong>Hỏi:</strong> Giai Cấp Mới có những đặc điểm gì nổi
bật?

<strong>Đáp:</strong> Một số đặc điểm quan trọng của Giai
Cấp Mới này là:

1/ "Do sự bấp bênh về vị trí xã hội và kinh tế, cũng như
xuất thân từ một đảng chính trị, giai cấp mới buộc phải
cực kỳ cố kết, luôn hành động một cách có ý thức với
một kế hoạch thật rõ ràng. Như vậy, giai cấp mới có tổ
chức và ý thức hơn bất kỳ giai cấp nào trước đó".

2/ "Giai cấp mới cũng tham lam giống như giai cấp tư sản thời
kỳ đầu, nhưng lại không cần cù và tiết kiệm bằng các nhà
tư sản. Nó là tổ chức cố kết và khép kín, giống như giai
cấp quý tộc, nhưng lại thiếu tâm hồn tinh tế và phẩm chất
của người hiệp sĩ"

3/ "Quyền lực tạo ra cho những kẻ cầm quyền thói ham hố
quyền lực, giả dối, nịnh bợ, ghen tị. Tham quyền và chủ
nghĩa quan liêu là hai căn bệnh nan y của chủ nghĩa cộng sản".

4/ Quyền lực của giai cấp mới thể hiện qua khả năng kiểm
soát tài sản xã hội và khả năng kiểm soát tư tưởng của
dân chúng. Khi mất một trong hai, hoặc cả hai, quyền kiểm soát
này, giai cấp mới sẽ lột trần và thủ tiêu: Mất quyền
kiểm soát tài sản xã hội, nó sẽ mất đặc quyền đặc
lợi, và lý do gắn kết giai cấp tan vỡ. Nếu mất khả năng
kiểm soát tư tưởng, nó sẽ mất luôn lý do để kiểm soát
tài sản xã hội, dẫn tới tan vỡ. Đó là đường hướng tạo
ra xã hội dân chủ và tự do dưới xã hội cộng sản: Đòi
hỏi tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, thu hẹp kinh tế quốc
doanh... Chính vì vậy, giai cấp mới bám dính lấy chủ nghĩa
Marx giáo điều, độc quyền tư tưởng, xóa bỏ các hình thức
sở hữu khác ngoài "sở hữu tập thể", bất chấp quyền lợi
của đất nước để duy trì quyền lợi của mình.

<strong>Hỏi:</strong> Mâu thuẫn lớn nhất của Giai Cấp Mới là
gì?

<strong>Đáp:</strong> Giai cấp mới không có chính danh: Nó chiếm
đoạt và hưởng thụ tài sản của toàn xã hội, nhưng lại
phải nhân danh "sở hữu tập thể", "tài sản xã hội chủ
nghĩa"... tức là không được nói thật rằng tài sản này là
của nó. Từ đây sinh ra chuyện "nói một đằng, làm một
nẻo": Một mặt nó phải liên tục bảo vệ quyền sở hữu
của mình, chiếm đoạt một cách bất công thành quả lao động
của người khác; một mặt khác, nó lại phải leo lẻo lý
thuyết XHCN, hứa hẹn công bằng và bình đẳng xã hội. Mâu
thuẫn này sẽ ngày càng lớn, dẫn tới sự sụp đổ của giai
cấp mới.

Những đòi hỏi tự do chính là những mũi kim đâm trúng tim đen
giai cấp mới, lật tẩy bản chất của nó, là đòi hỏi quan
hệ sở hữu phù hợp với pháp luật. Vì thế giai cấp mới
chống lại mọi đòi hỏi về tự do nhân danh bảo vệ "xã hội
chủ nghĩa".

Giai cấp mới duy trì một chế độ đàn áp cả về tinh thần
lẫn kinh tế khiến cho người dân luôn sống trong sợ hãi, luôn
lo sợ mình làm gì sai để biến thành "kẻ thù của chủ nghĩa
xã hội". Điều này cũng giống như thời Trung cổ, người ta
phải luôn chứng tỏ rằng mình là người trung thành với nhà
thờ. Giai cấp mới đã đầu độc giết chết đời sống tinh
thần của dân tộc mình, khiến con người ngu đần đi vì tuyên
truyền, không còn nhận thức được sự thật và không vươn
tới được các ý tưởng mới.

<strong>Hỏi:</strong> Ba giai đoạn của cách mạng XHCN là gì?

<strong>Đáp:</strong> Đó là "Cách mạng", "giáo điều" và "phi
giáo điều". Mỗi giai đoạn có những khẩu hiệu, nhiệm vụ
và người cầm cờ tương ứng: Cướp chính quyền là Lênin;
"chủ nghĩa xã hội" hay xây dựng hệ thống là Stalin; "pháp
chế" hay sự ổn định của hệ thống là "lãnh đạo tập
thể".

Quyền lực đóng vai trò chủ yếu trong cả ba giai đoạn: Đầu
tiên, giai đoạn cách mạng thì cần phải giành chính quyền; sau
đó trong giai đoạn "xây dựng chủ nghĩa xã hội" thì phải
dựa vào chính quyền để thiết lập hệ thống. Cuối cùng,
giai cấp mới dùng chính quyền để bảo vệ hệ thống đó.

Trong thời gian đó, từ giai đoạn một đến giai đoạn ba, bản
chất cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản là quyền lực đã
trải qua quá trình tiến hóa từ phương tiện thành mục đích.

_______________

Hình như CNXH ở Việt Nam đã tới giai đoạn 3: Phi giáo điều?
Và nó đang bị tấn công ở 2 điểm yếu nhất: Tự do kinh tế
và tự do ngôn luận? Các bác trao đổi tiếp nhé!

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20120930/tqvn2004-gioi-thieu-cuon-giai-cap-moi-cua-milovan-djilas),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Lâu nay thường thấy chính quyền Mỹ xếp hạng Việt Nam là
nước vi phạm nhân quyền, không tôn trọng tôn giáo. Chính
quyền cộng sản Việt Nam phản ứng rất mạnh mẽ. Người
phát ngôn Bộ Ngoại Giao thường có lời lẽ quyết liệt.

Thực tế thì thế nào?

Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam, ngày 13/8/2012 có đăng bài "Cứu di tích cổ
trong phố Hà Nội" của tác giả Nguyễn Phương Liên. Tôi rất
khâm phục tác giả dám nói lên sự thật về thái độ đối
với tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hoan nghênh báo
Nhân Dân đã thản hoặc nói lên một sự thật,

Về phần tôi, tham gia Việt Minh từ tháng 4/1945. Tháng 9/1945
nhập ngũ. Đi đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh Tàu, 2 lần bị
thương. Năm 1990 nghỉ hưu mới biết các cụ ở làng tôi, làng
Tử Dương, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ
(nay về Hà Nội) có mối băn khoăn day dứt về một ngôi đền
của làng mình.

Từ năm 1767, thời vua Lê Cảnh Hưng, các cụ làm ăn ở Hà
Nội đã chung tay xây dựng ngôi đền "Tử Dương Vọng
Đình" ở số 8 phố Hàng Buồm Hà Nội, thờ Tuệ Trung
Thượng sỹ - anh cả của Đức Thánh Trần Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn - Song, sau khi tiếp quản Hà Nội, ngôi đình
đã bị một cán bộ của Thông Tấn xã chiếm đoạt. Cả 4
ngôi nhà trong khuôn viên Tử Dương Vọng Đình là hương hỏa
của đình cho thuê để lấy tiền cúng lễ cũng bị Nhà nước
Cộng Sản chiếm bán cho dân nhập cư vào Hà Nội.

Những năm chiến tranh, tất cả đều hướng vào chiến
trường, sau 1975 dân làng mới đặt vấn đề đòi lại đình.
Ngày 24/12/1984, Hội đồng Giám định di tích có văn bản gửi
cho dân làng xác định là di tích. Các cụ ở làng còn giữ
được đầy đủ Địa bạ từ thời chính quyền Pháp xác
định ngôi Đình và 4 căn nhà của làng, còn giữ được giấy
tờ nộp thuế của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bà
con dân làng làm đơn xin các cấp từ chính phủ xuống Thành
phố, Quận,Phường, tất cả dân làng ký tên song không được
giải quyết. Ngày 04/4/1994 Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ
chức hội thảo về ngôi đình. Sách "Đường phố Hà Nội",
Nhà xuất bản Hà Nội, xuất bản năm 1979 có viết về Đình
này. Ngoài ra còn có nhiều bài khảo cứu giá trị khác: "Cần
bảo tồn di tích ngôi đình số 8 Hàng Buồm Hà Nội." của
Tạp chí Xưa và Nay, số tháng 9/1994; bài " Về đạo sắc 'Tử
Dương Thần Từ' sớm nhất hiện còn" của Tạp chí Hán Nôm,
số tháng 1/1995; bài "1000 năm Thăng Long còn lại những gì?"
của báo Hà Nội mới cuối tuần số ra ngày 21/5/1996; bài "
Xôn xao về một ngôi đình " của Tạp chí Khoa học và Tổ
Quốc số tháng 4/1995; bài " Tử Dương Vọng Đình đang bị
lấn chiếm" do Đài Vô tuyến Truyền hình Việt Nam phát ngày
28/6/1996; bài "Làng Tía và Tử Dương Vọng Đình" do Đài
Tiếng nói Việt Nam phát ngày 28/8/1996; bài "Nỗi niềm trăn
trở ở Tử Dương" của Nhà xuất bản Văn Hóa- Thông tin,
Tháng chạp năm Bính Tý, in trong sách "Làng Tử Dương qua di
sản văn hóa Hán Nôm".

Bà con xin gặp chính quyền Thành phố, Thành phố bảo xuống
Quận, Quận bảo xuống Phường. Cơ quan hành chính không giải
quyết bảo sang Tòa án. Sang Tòa án nộp án phí đầy đủ. Tòa
án lại bảo sang chính quyền.

Ngôi đình từ lâu đã bị phá hủy, biến hóa thành cửa hàng
bánh kẹo!

Tôi được bà con dân làng bầu là Trưởng ban liên lạc đồng
hương ở Hà Nội, theo bà con, dẫn đầu là các cụ đi đòi
đình rất vất vả bao lâu vẫn không được. Ngày 28/12/2002,
tôi bị công an bắt. Ngày 14/7/2004, tôi bị đưa ra Tòa án Nhân
dân Hà Nội xét xử. Bản cáo trạng ghi tội danh: " Tội lợi
dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân",
tù 19 tháng.

Xin bà con xem xét chính quyền Cộng Sản có tự do tôn giáo
không./.

Phạm Quế Dương
37 - Lý Nam Đế - Hà Nội
ĐT : 62700002



***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20120930/pham-que-duong-chinh-quyen-co-ton-trong-tu-do-ton-giao-khong),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
<img
src="http://lh5.ggpht.com/-etqjJfcxsqo/UGeSsPkhBMI/AAAAAAAAWxs/L80kWXSfj0Y/clip_image002%25255B3%25255D.jpg?imgmax=800"
/>

Khi ông Trung tá Công an Vũ Văn Hiển vừa đẩy anh Nguyễn Trí
Dũng – con trai của blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, vừa
quát tháo xối xả vào mặt anh Dũng và văng tục thật lớn
"Tự Do Cái Con C.ặ.c" sau khi nhìn thấy những chữ in đậm
trên chiếc áo t-shirt ngắn tay anh Dũng đang mặc phô bày rõ
ràng hàng chữ Tự do cho Người Yêu Nước Điếu Cày-Tạ Phong
Tần-Anh BaSG, câu nóicủa viên chức công an cao cấp Việt Nam
này đã được nhiều blog trên mạng lập tức ghi lại và
truyền đi nhanh chóng khắp hoàn cầu.

Tôi vô cùng xúc động khi nhìn thấy tấm hình dưới đây đăng
trên nhiều blog trên mạng. Qua tấm hình này, tôi thấycái nhìn
của anh Dũng biểu lộ một sự điềm tĩnh và cương nghị
nhưng tôi vẫn thấy xót xa làm sao; nửa người anh trần trùng
trục vì áo T-Shirt của anh đã bị công an thành phố lột mất.
Bên cạnh là bà Dương Thị Tân, vợ cũ blogger Điếu Cày
(chiếc áo bà không bị công an lột mặc dù họ được lệnh
lột); tay bà nắm nhẹ cánh tay đứa con yêu quý, gương mặt bà
có đôi chút ngỡ ngàng, đôi chút ngạc nhiên thoáng đượm nét
lo âu và sợ hãi.

Một tấm ảnh thật sống động khi người ta biết câu chuyện
đã xảy ra trước đó. Câu chuyện công an thành phố Hồ Chí
Minh đàn áp người dân vô tội và hiền lành này xảy ra ngay
buổi sáng lúc ba blogger cùng là nhà báo tự do bị đưa ra
trước tòa. Cả ba đã bị kết tội âm mưu sách động chống
đối nhà nước Việt Nam với những bản án vô cùng nghiệt
ngã (xin xem phóng sự trên BBC-Việt). Ba nhà báo blogger yêu
nước đó là anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, cô Tạ Phong Tần
(mà mẹ là bà Đặng Thị Kim Liêng vừa qua đã chết thiêu một
cách tức tưởi trong một hoàn cảnh thương tâm, cái chết của
bà đến nay vẫn còn chứa đầy uẩn khúc và chắc sẽ không
bao giờ được làm sáng tỏ) và anh Phan Thanh Hải tức blogger
AnhBaSG.

Câu chửi thề của Trung tá Vũ Văn Hiển (VVH), được văng ra
từ chính mồm một viên chức cao cấp ngành công an Việt Nam
làm tôi giật mình. Từ hôm đó tôi cứ bị câu này ám ảnh
như một công án thiền. Viên Trung tá công an VVH ngụ ý gì khi
nói một câu trâng tráo và vô cùng lỗ mãng như thế với một
nam sinh tuổi đáng con mình, trong một ngày vô cùng trọng đại
đối với người thanh niên trẻ tuổi đang lo lắng muôn vàn cho
thân phận của người bố thân yêu đang sắp bị xử án nặng?

Tôi chỉ nghĩ ra được hai điều từ hôm đó đến nay.

Thứ nhất, có thể ông Trung tá công an VVH coi sự Tự Do, mà
những người thân của blogger Điếu Cày đang khao khát nài nỉ
kêu van trước Tòa án nhà nước Việt Nam cho những người bị
xử ngày hôm đó,không bằng con C_C của ông và thứ hai, có
thể ông Trung tá công an VVH coi những người mặc chiếc áo đó
không có quyền mặc vì những hàng chữ in trên áo có tính cách
thách đố, khiêu khích và khinh miệt (theo cái nhìn của ông)
nền pháp trị độc quyền của Nhà nước Việt Nam (mà ông
Trung tá công an đang hết lòng phụngsự) và những hàng chữ
này đã làm ông điên tiết thét lên "Tự Do Cái Con C_c".

Chính vì đây là một vụ xử án trọng đại dưới mắt của
rất nhiều người mà câu nói này chắc chắn sẽ đi vào lịch
sử. Lịch sử của một sự đàn áp trắng trợnvà cũng là
lịch sử của sự chà đạp quyền làm người trên lãnh thổ
Việt Nam.

Để tìm hiểu câu nói của ông VVH, chúng ta phải quay về với
văn chươngbình dân Việt Nam. Theo văn chương này, việc sử
dụng từ con c_c biểu hiệu cho sự coi thường bộ phận sinh
dục của con người, dù đó là của đàn ông hay đàn bà. Khi
người Việt Nam bình thường, lớn lên trong một xóm lao động,
so sánh bất cứ điều gì hay người nào với bộ phận sinh
dục của mình và sử dụng từ ngữ như ông Trung tá VVH,
người đó ngụ ý rõ ràng coi thường điều hoặc con người
đang bị so sánh. Ở đây ta có thể tung ra một định đề : con
c_c trong văn chương bình dân Việt Nam là biểu tượng của sự
khinh bỉ và thường được coi như một thành phần xấu xí,
một yếu tố tồi tệ của con người.

Ông Trung tá VVH đã khẳng định qua câu phát ngôn rất bình dân
của mình với thế đứng của ông, cũng có thể là thế đứng
của nhà nước: cái tự do mà các anh đòi hỏi đó nó xấu xa,
tồi tệ và tôi, Trung tá công an VVH, xin dõng dạc bảo với các
anh (và tất cả những người đòi quyền tự do căn bản hay
quyền được làm người yêu nước, được bảo vệ toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc, trong xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay) là khát vọng về quyền làm người căn bản nhất (của
các anh) không có chỗ đứng trong xã hội này.

Và đây là thảm cảnh của dân tộc Việt Nam. Một dân tộc
đang bị đày đọa bởi những người cầm quyền độc đoán.
Pháp luật không có, nói chi đến pháp quyền hay pháp trị.
Người ta lột áo anh như người ta đá những con chó. Người ta
lên án anh một cách khắc nghiệt như người ta đạp lên những
con giun đang quằn quại tuyệt vọng tìm đường sống. Một xã
hội bất công và nhâng nháo với đủ thứ phi lý hiện hình
bằng xương bằng thịt. Một tình trạng tham nhũng quá sức
trầm trọng hoành hành công nhiên khắp mọi nơi. Một thực
trạng hiện tồn chỉ mang đến nỗi lo sợ và bất an nơi
người dân. Công an không để bảo vệ dân mà để bắt nạt
dân, đe dọa dân, đánh đập dân, giết dân, đàn áp những
người yếu thế. Công an Việt Nam dùng những phương cách hành
xử không đẹp và không coi pháp luật vào đâu!

Chỉ một câu nói của một viên chức cao cấp đủ để nói
lên thái độ và tư cách của những người cầm quyền Việt
Nam. Một câu nói để đời. Tự Do Cái Con C_c. Người cha đẻ
của câu nói "không có gì quý hơn độc lập tự do" không
biết sẽ phản ứng như thế nào khi nghe câu nói này. Nhưng
điều chắc chắn là những đảng viên như vị Trung tá công an,
chắc chắn hiểu rõ ông cha mình muốn nói gì, vì họ đang tìm
mọi cách làm cho cái tự do ấy ngày càng quý hơn. Quý vì không
dễ có, quý vì không dễ đạt được. Chỉ cần nhìn chiếc
lưng trần của anh Nguyễn Trí Dũng sau khi bị lột áo để
thấy tự do ấy quý biết nhường nào. Chỉ cần nhìn vào đôi
mắt ngơ ngác của bà Dương Thị Tân để thấy xót thương cho
thân phận người Việt Nam.

N. D.V.

(Cựu học sinh Nguyễn Trãi Sài Gòn)

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20120930/nguyen-duy-vinh-khong-co-gi-quy-hon-tu-do),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Tin cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt từ trần gây xúc động lớn
lao cho những ai quan tâm đến thời cuộc và vận mệnh quốc gia
giữa lúc niềm tin của người dân đối với các nhà lãnh
đạo đương nhiệm giảm sút nghiêm trọng trước tình hình kinh
tế tồi tệ từ nhiều tháng qua.

Người ta càng xúc động hơn vì gần hai ngày sau khi tin ông qua
đời loan truyền rộng rãi, truyền thông chính thống mới
được phép và dám công bố sự việc, đó là chưa nói đến
chương trình tang lễ chỉ dành một ngày chính thức để viếng
ông.

Dù đã về hưu song phát biểu của ông về các vấn đề quốc
kế dân sinh vẫn chiếm trọn cảm tình của dân chúng và đạt
được đồng thuận của công luận. Ông có lối diễn thuyết
hùng biện hiếm thấy ở người miền Nam, khiến thính giả bị
lôi cuốn không cưỡng lại.

Những bài viết sâu sắc và thẳng thắn của ông trên phương
tiện truyền thông có tác dụng như chiếc neo giữ lại con
thuyền niềm tin rách nát của xã hội đang trôi dạt không bờ
bến.

Hình ảnh ông với mái tóc bạc, cặp kính trắng và phong thái
tự tin khiến người dân, không nhiều thì ít, cảm thấy an tâm
vì dù sao trụ cột cuối cùng của công cuộc cải cách vẫn
còn đó. Thẳng thắn mà nói, tầm vóc của ông đứng trên
nhiều nhà lãnh đạo đương đại của Việt Nam, cả những
người đi trước, cùng thời và sau ông.

Phong cách lãnh đạo và tư duy độc đáo của ông đương thời
được mệnh danh là "Ấn tượng Võ Văn Kiệt", như tên một
quyển sách đã xuất bản viết về thân thế và sự nghiệp
của ông. Trong thể chế chính trị hiện tại của Việt Nam,
không nhân vật nào xứng đáng hơn Võ Văn Kiệt để được xem
là chính khách theo đúng nghĩa của từ này.

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div> Phải mất nhiều năm
nữa người ta mới có thể hiểu ông hơn và thấy được tầm
vóc của Võ Văn Kiệt <img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/>
<br class="quoteclear"></div><div class="quoteauthor">» LS Lê Công
Định</div></div>
Tôi có một kỷ niệm đáng nhớ với ông. Cách đây vài tháng,
từ nỗi trăn trở muốn giải quyết dứt khoát thực trạng
yếu kém của nền tư pháp vốn thiếu vắng sự độc lập của
hệ thống tòa án, ông đề xướng thành lập một nhóm luật
gia quy tụ các luật sư và nhà nghiên cứu luật thuộc nhiều
trường phái đào tạo khác nhau để "chẩn đoán bệnh" và
"kê đơn thuốc" thích hợp cho "con bệnh nan y" tòa án nói
riêng và nền tư pháp nói chung.

Ông ý thức được bộ mặt lem luốc của đất nước ra sao
trước cộng đồng quốc tế khi các cơ quan tư pháp vẫn còn
là công cụ do Đảng và bộ máy công quyền chi phối, đó là
chưa nói đến tham nhũng đã khiến công lý trở thành điều xa
xỉ đối với người dân thấp cổ bé họng. Ông hiểu rõ và
muốn thoát khỏi lối mòn tiếp cận vấn đề vừa đơn giản,
lạc hậu, vừa bế tắc của các bộ ngành và viện nghiên cứu
do nhà nước kiểm soát.

Ông bỏ thời gian lắng nghe nhóm luật gia chúng tôi trình bày
nhận định về những vấn đề cơ bản của nền công lý
Việt Nam và nguyên nhân sâu xa của vô vàn vấn nạn nan giải
mà chương trình cải cách tư pháp của chính phủ hầu như
không giải quyết thỏa đáng hoặc giải pháp chỉ mang tính
chất "cưỡi ngựa xem hoa". Ông tỏ ra trân trọng sự phân
tích không kiêng nể của những người "trong chăn" như chúng
tôi, và dự định giới thiệu nhóm này với Chủ tịch nước
Nguyễn Minh Triết để giúp cố vấn về đường hướng cải
cách tư pháp cấp thiết và hiệu quả.

Tiếc thay kế hoạch của ông nửa chừng dang dở vì buổi gặp
gỡ Chủ tịch nước bị hủy bỏ vào phút cuối. Sau đó qua
báo chí chúng tôi được tin Chủ tịch nước đã gặp và lắng
nghe các cơ quan nhà nước báo cáo thành tích cải cách tư pháp
theo kiểu làm thế nào để… giảm thiểu "án oan sai"! Quả
thật, con đường cải cách tư pháp ở Việt Nam còn lắm chông
gai, thậm chí có thể không thành công, vì lối mòn suy nghĩ
của những quan chức có tuổi đời thậm chí còn trẻ hơn ông
nhiều.

Tất nhiên, về phần mình, chúng tôi không kém thất vọng vì
kết quả chẳng đi đến đâu, nhưng chắc chắn cố Thủ
tướng Võ Văn Kiệt đã để lại trong tôi một ấn tượng khó
phai về một cụ già ở tuổi lẽ ra chỉ nên hưởng nhàn và xa
lánh phàm trần, song vẫn nhiệt tình góp sức giải quyết
những vấn đề nóng bỏng của xã hội, bất chấp thái độ
nghi kỵ và khó chịu không ít từ phía các quan chức đương
quyền.

Tư duy Võ Văn Kiệt có lẽ không bao giờ dừng bước hoặc dễ
dàng thỏa hiệp với những giáo điều chính thống, bất kể
suy nghĩ và đề nghị của ông có thể làm rung động nền
tảng vốn đã tạo nên cả thể chế một thời.

<h2>Di sản hòa giải</h2>

Di sản vô giá của ông, nói như Luật sư Lê Quốc Quân, chính
là lời kêu gọi hòa hợp và hòa giải dân tộc. Thái độ công
bằng và tôn trọng lịch sử của ông gặp sự phản đối từ
cả hai phía người Việt, trong và ngoài nước. Phía bên trong
thì lên án ông phản bội lại các đồng đội đã bỏ xương
máu cho cuộc chiến "vệ quốc vĩ đại".

Phía bên ngoài thì nghi ngờ ông thiếu trung thực vì họ vẫn
thường đồng hóa ông với mọi chính sách quá khứ và hiện
tại của nhà nước Việt Nam.

Để đánh giá đúng đắn di sản hòa giải của Võ Văn Kiệt
cần nhìn nhận ông từ vị trí của người chồng và người
cha từng mất vợ con trong một cuộc hành quân của quân đội
Sài Gòn khi chiến cuộc còn đang tàn khốc, một mất một còn.
Thêm vào đó, lời kêu gọi hòa giải đưa ra vào lúc ông đã
rời xa chính trường, chẳng còn quyền lợi gì để phải đóng
kịch, chứ không giữa lúc còn đương chức để có thể nghi
ngờ đó là cách mị dân thường thấy ở các chính trị gia.

Hơn cả sự hòa giải, Võ Văn Kiệt còn long trọng tuyên bố con
đường tất yếu sắp tới của đất nước: "Tổ quốc là
của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt
Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người
cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả."

Di sản dân chủ này của ông là chân lý không chỉ ở Việt Nam
và là thước đo trình độ văn minh của hệ thống chính trị
bất cứ ở đâu. Di sản ấy đòi hỏi ở các nhà lãnh đạo
đương nhiệm bản lĩnh vượt qua chính mình để lèo lái con
tàu Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế không nhiều
lối thoát hiện nay.

Phải mất nhiều năm nữa người ta mới có thể hiểu ông hơn
và thấy được tầm vóc của Võ Văn Kiệt trong di sản dân
chủ đó, nhất là vì hình ảnh của ông, không nhiều thì ít,
đã gắn liền với quá khứ đau thương, đầy oan trái của dân
tộc. Có thể nói một cách quả quyết rằng sinh thời ông
chính là vị thủ lĩnh cao nhất của những người 'Cộng Sản
cấp tiến', vốn đặt quyền lợi dân tộc lên trên mọi toan
tính cá nhân và phe nhóm.

Những người Cộng Sản cấp tiến quy tụ chung quanh ông và
tiếp bước ông chắc chắn sẽ là lực lượng không kém quan
trọng thúc đẩy sự phát triển tiếp theo của đất nước. Di
sản hòa giải và dân chủ của ông sẽ được họ thực thi và
biến thành hiện thực, bởi lẽ chưa bao giờ lòng dân lại
đồng thuận cho một sự thay đổi mạnh mẽ hơn lúc này, đặc
biệt khi lòng người vẫn còn quyến luyến những chiến công
hào hùng năm xưa.

Đến tiễn biệt ông tại Dinh Độc Lập, nhìn dòng người dài
lê thê, chen lấn nhau hàng giờ dưới bầu không khí oi bức
chỉ để được nhìn ông lần cuối, tôi hiểu rằng Võ Văn
Kiệt đã và sẽ tiếp tục lôi cuốn nhiều thế hệ Việt Nam,
đặc biệt giới trẻ, những người luôn kỳ vọng vào một
tương lai tốt đẹp hơn của đất nước.

Con đường ông đi qua, dẫu không bằng phẳng và gây nhiều
tranh luận, song rõ ràng các chính sách sinh thời mà ông áp
dụng hoặc bảo vệ đã góp phần làm đời sống của người
dân tốt đẹp hơn so với những vị tiền nhiệm của ông. Tôi
nghiêng mình trước thi hài và anh linh của nhà cải cách và
hùng biện hiếm có này.

Ngày 16/06/2008

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20120930/le-cong-dinh-thu-linh-phe-cong-san-cap-tien),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Trước hết cần phân biệt vai trò của xã hội dân sự
(XHDS) trong một nền dân chủ và vai trò của XHDS trong một
cuộc chuyển đổi dân chủ. Cho đến khoảng những năm 80,
phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung vào phân tích vai trò
của XHDS trong một nền dân chủ. Gabriel và Verba cho rằng mảng
XHDS gắn với các hoạt động chính trị có vai trò thiết yếu
đối với nền dân chủ. Chúng làm tăng hiểu biết của người
dân, giúp họ bỏ phiếu hiệu quả hơn và tham gia nhiều hơn
vào hoạt động chính trị, qua đó góp phần giám sát hoạt
động của nhà nước. Putnam đi xa hơn khi cho rằng ngay cả các
tổ chức XHDS không liên quan tới chính trị cũng có vai trò
thiết yếu đối với nền dân chủ. Lý do, theo ông, là vì XHDS
tạo ra vốn xã hội (social capital), lòng tin và các giá trị
chung. Những nhân tố này lại được chuyển vào không gian
chính trị, tăng cường sự đoàn kết xã hội và nâng cao sự
hiểu biết của công chúng về mối liên thông của xã hội và
các nhóm lợi ích trong nó. Larry Diamond , khi phân tích vai trò
của XHDS trong một nền dân chủ đang được củng cố, đã
tổng hợp và đưa ra các vai trò cốt lõi của XHDS như sau:

● Giới hạn, giám sát và kiềm chế quyền lực của nhà
nước dân chủ, trông chừng sự lạm dụng và vi phạm pháp
luật tiềm ẩn của bộ máy nhà nước, và đặt nó dưới sự
giám sát của công chúng. Một thí dụ thường được nhắc
tới là vấn đề tham nhũng tràn lan thường xảy ra trong các xã
hội dân chủ non trẻ. Một XHDS năng động thường có tác
dụng kiềm chế sự lạm dụng chức quyền của quan chức và
giúp hạn chế vấn nạn này.

● Hòn đá tảng của xã hội dân chủ là ý thức tham gia quản
lý xã hội của công chúng. Một XHDS năng động có tác dụng
khuyến khích công chúng tham gia chính trị, tăng tính hướng
đích và kỹ năng chính trị của họ trong chế độ dân chủ,
và thúc đẩy nhận thức về nghĩa vụ cũng như các quyền của
công dân dân chủ. XHDS năng động còn tạo ra một vũ đài cho
sự phát triển các thành tố dân chủ khác, như khoan dung, ôn
hoà, sẵn sàng nhượng bộ, và tôn trọng các quan điểm khác
biệt.

● XHDS tạo ra các kênh phi đảng phái để biểu đạt, tập
hợp và đại diện các lợi ích. Chức năng này đặc biệt quan
trọng trong việc đem lại khả năng tiếp cận quyền lực cho
các nhóm trước đây bị gạt ra lề như phụ nữ và người
thiểu số. Các nền dân chủ tự nó không bảo đảm sự công
bằng và bình đẳng giữa tất cả các nhóm lợi ích. Chỉ
bằng các sức ép có tổ chức và lâu dài từ dưới lên, từ
xã hội dân sự, thì quyền bình đẳng xã hội và chính trị
mới được đẩy mạnh; chất lượng, năng lực phản hồi và
tính chính thống của nền dân chủ mới được nâng lên.

● XHDS đa nguyên sinh động, đặc biệt là trong các nền kinh
tế phát triển cao, sẽ có xu hướng tạo ra một dải rộng các
lợi ích đan chéo, và do đó làm dịu bớt những sự phân cực
cơ bản của xung đột chính trị. Khi các tổ chức dựa trên
các giai cấp mới hình thành và các phong trào hướng-vấn đề
(issue-oriented) khởi lên, chúng cũng lôi kéo các thành phần
mới, cắt ngang qua các đường ranh giới về đảng phái, sắc
tộc, tôn giáo và lãnh thổ từng tồn tại từ trước. Khi các
nền độc tài bị lật đổ, những cấu trúc mới này có thể
tạo ra một loại hình công dân hiện đại xuyên thấu các chia
rẽ về lịch sử và ngăn chặn sự trỗi dậy của các xung
lực dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi.

● XHDS còn có chức năng tuyển lựa và đào tạo các lãnh tụ
chính trị mới. Các nhà vận động, thông qua một quá trình
lãnh đạo và vận hành thành công các tổ chức XHDS, có thể
học được các kỹ năng và sự tự tin, những thứ trang bị
sẵn sàng cho họ, để phục vụ trong chính quyền và nền chính
trị đảng phái. Họ học cách tổ chức và khơi cảm hứng cho
người khác, tranh luận, gây và quản lý quỹ, lập ngân sách,
quảng bá nghị trình, quản lý nhân sự, vận động sự ủng
hộ, và xây dựng các liên minh. Cùng lúc đó, công việc của
họ nhân danh những người ủng hộ, hay nhân danh những thứ mà
họ thấy là thuộc về lợi ích công cộng, và sự minh biện
của họ về các phương án khác nhau, rõ ràng và thuyết phục,
cho một chính sách, có thể đem lại cho họ sự ủng hộ chính
trị rộng lớn hơn.

● XHDS còn tham gia vaò quá trình giám sát bầu cử đã và đang
giữ vai trò quyết định trong việc ngăn chặn gian lận [trong
bầu cử] và nâng cao niềm tin của cử tri, khẳng định tính
hợp hiến của kết quả, và trong nhiều trường hợp (như ở
Philippines năm 1986 và Panama năm 1989) chứng minh chiến thắng
của phe đối lập bất chấp sự gian lận của chính quyền
đương nhiệm. Chức năng này đặc biệt quan trọng trong các
cuộc bầu cử bản lề như các cuộc bầu cử đã khai sinh các
nền dân chủ ở Chile, Nicaragua, Bulgaria, Zambia, và Nam Phi.

Cùng với những biến động chính trị ở Đông Âu, Liên Xô,
Nam Mỹ từ thập niên 80 và trào lưu dân chủ hóa trên khắp
thế giới, vai trò của XHDS trong một cuộc chuyển đổi dân
chủ nhanh chóng được nhìn nhận và phân tích. Tuy nhiên, nếu
như các nền dân chủ trên khắp thế giới có những đặc
trưng căn bản giống nhau thì các cuộc chuyển đổi dân chủ
lại thường khác nhau về bối cảnh lịch sử, xã hội, văn
hóa và chính trị. Vì thế, phần lớn các nghiên cứu về vai
trò của XHDS trong chuyển đổi dân chủ thường tập trung phân
tích từng trường hợp cụ thể chứ không khái quát hóa thành
một lý thuyết tổng quát. O' Donnell và Schmitter và Václav Havel,
là hai trường hợp hiếm hoi.

Mô hình Václav Havel đưa ra áp dụng chủ yếu cho các xã hội
toàn trị cộng sản thời kỳ trước đổi mới. Theo ông, xã
hội cộng sản tồn tại trong một không gian giả tạo được
vẽ ra bởi ý thức hệ cộng sản và được bồi đắp bởi
quá trình nhồi sọ lâu dài. Dần dần, những hoang tưởng này
trở thành một giả-hiện thực trong khi chân lý bị vùi lấp.
Václav Havel cho rằng mỗi khi có những cá nhân nhận ra bản
chất thật của xã hội và dũng cảm nói lên sự thật thì cái
không gian giả tạo này sẽ bị chọc thủng. Khi chân lý đến
được với nhiều người cũng là lúc toàn bộ cái không gian
giả-hiện thực cộng sản bị vỡ vụn. Những nghiên cứu sau
này gọi đây là quá trình giải thực. Quá trình giải thực
bóc trần bản chất thật của xã hội cộng sản và tạo thành
bước tiến đầu tiên trong quá trình dân chủ hóa.

Quá trình giải thực có thể khởi động nhờ sự lên tiếng
của các nhân vật kiệt suất, các nhà tư tưởng, các tu sĩ
(trường hợp cộng hòa Czech và Ba Lan). Nó cũng có thể được
khởi động nhờ quá trình cải cách kinh tế, đổi mới và mở
cửa (trường hợp Việt Nam, Trung Quốc).

Theo O' Donnel và Schmitter, khi công chúng không còn bị
huyễn tưởng về sự cao siêu của lý tưởng cộng sản và sự
ưu việt của nhà nước xã hội chủ nghĩa, thì quá trình tự
do hóa không gian xã hội được khởi động. Những người vận
động cho một không gian xã hội tự do hơn thường là các văn
nghệ sĩ, nhà báo, giới luật sư, doanh gia, sinh viên. Những
đòi hỏi được đưa ra thường là nới rộng các quyền
được biểu đạt ý kiến, tư tưởng, quyền tự do sáng tạo,
các đòi hỏi về xây dựng một xã hội thượng tôn luật
pháp, một nhà nước tam quyền phân lập, một nền hành chính
gọn nhẹ, hiệu quả và ít chịu sự tri phối của Đảng.

Các nhà vận động cho nhân quyền cũng là những nhân vật
đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Sự trong sáng, vô
vị lợi và các mục tiêu tranh đấu vì con người của họ
thường đem lại cho các nhà tranh đấu này sức mạnh đạo
đức, sự ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội, đồng thời
biến họ thành những đối thủ đáng sợ của chính quyền.

Tuy vậy, O' Donnel và Schmitter cho rằng thách thức lớn
nhất đối với nhà cầm quyền trong giai đoạn tự do hóa này
đến từ tầng lớp công nhân và lao động nghèo. Trong các quá
trình cải tổ kinh tế và xã hội, đây là nhóm thường bị
gạt ra lề và vì thế thường là nhóm có những đòi hỏi
mạnh mẽ và dứt khoát nhất về các quyền lợi lao động,
quyền hội họp, tổ chức công đoàn, quyền mặc cả tập thể
và các vấn đề liên quan khác. Không ngạc nhiên là các chính
quyền trong giai đoạn này thường để ý "chăm sóc" kỹ
lưỡng các nhóm này và tìm cách đè bẹp các nỗ lực tự tổ
chức của họ.

Quá trình tự do hóa không gian xã hội có diễn ra thuận
lợi hay không tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử-văn hóa của
từng xã hội cũng như đối sách của chính quyền. Trong một
số trường hợp Đông Âu trước đây như Cộng hòa Czech, Đông
Đức và Hungary, mặc dù quá trình giải thực được khởi
động, tự do hóa xã hội đã không diễn ra suôn sẻ và vì
thế các cuộc chuyển đổi dân chủ ở đây thành công là vì
các lý do khác chứ không phải do sức ép từ bên dưới như ở
Ba Lan hay các nước Mỹ Latinh.

Khi quá trình tự do hóa không gian xã hội diễn ra thuận lợi,
nó thường là một quá trình không có điểm dừng cho tới khi
thể chế chính trị của quốc gia được chuyển hẳn sang mô
hình nhà nước dân chủ. Những đòi hỏi từ các nhóm xã hội
ban đầu có thể chỉ dừng lại ở việc nới rộng các quyền
trong khuôn khổ luật pháp có sẵn hoặc các vấn đề không
động chạm trực tiếp tới các vấn đề chính trị nhạy cảm
sẽ dần dần mở rộng sang các vấn đề chính trị cốt lõi
và ngày càng thách thức quyền lực của nhà nước. Các phong
trào khởi lên từ tầng lớp công nhân, lao động nghèo và các
nhóm bị gạt ra lề khác sẽ ngày càng thu được động năng
và có thể dẫn tới giai đoạn bùng nổ xã hội.

Theo O' Donnel và Schmitter, trong giai đoạn bùng nổ xã hội, các
phong trào grassroots, phong trào công nhân, các cuộc vận động
tôn giáo, nhân quyền, cùng với các nhóm văn nghệ sĩ, trí
thức, công chức tiến bộ có thể hợp lại và nhân danh
"nhân dân" để cùng theo đuổi một mục đích là dân chủ
hóa. Trong trường hợp chính quyền không đủ mạnh, hoặc không
có sự thống nhất nội bộ, các cuộc bùng nổ xã hội
thường dẫn tới sự thay đổi về thể chế chính trị. Tuy
nhiên, không phải bao giờ bùng nổ xã hội cũng đưa đến sự
xụp đổ của chính quyền (Nam Hàn, Indonesia, Thái Lan, Chile,
Brazil). Giới cầm quyền có thể đáp trả bằng những phản
ứng cứng rắn và nhấn chìm các cuộc đấu tranh của quần
chúng trong biển máu (Miến Điện, Trung Quốc).

Cũng theo O' Donnel và Schmitter, ở các xã hội mà quá trình tự
do hóa được diễn ra lâu dài và thuận lợi thì khả năng bùng
nổ xã hội sẽ ít hơn. Trong nhiều trường hợp giai đoạn tự
do hóa diễn ra quá ngắn, sự bùng nổ xã hội có thể tạo ra
những kỳ vọng thiếu thực tế, lãng mạn và sau đó thường
dẫn tới các đổ vỡ, thất vọng khi phải đối mặt với
hiện thực hậu chuyển đổi. Theo Thomas Goll , cả cộng hòa
Czech và Ba Lan đều đã gặp phải vấn đề này.

<h2>XHDS ở Đông Âu và Liên Xô cũ</h2>

Trong giai đoạn chuyển đổi những năm 80, đặc điểm chung cơ
bản nhất của các xã hội này là sự cai trị của Đảng
cộng sản theo mô hình toàn trị. Mọi hình thức tự tổ chức
của công chúng đều bị coi là sự thách thức đối với
quyền lực của nhà nước tối cao và đều bị ngăn chặn/đàn
áp. Trong một bối lịch sử lúc đó, các nhóm xã hội độc
lập được hình thành trong giai đoạn này thường có khuynh
hướng nhắm tới việc tác động lên chính quyền nhằm đòi
hỏi các thay đổi về chính sách. Theo Weigle và Butterfield, các
nhóm thường sử dụng các phương pháp bày tỏ lợi ích không
thuộc hệ thống nhà nước như các cuộc biểu tình, tuần
hành, và xuất bản ngầm. Ảnh hưởng của các chiến thuật
như vậy đối với chính sách là rất thất thường. Nó phụ
thuộc một phần vào nhận thức của giới lãnh đạo về khả
năng bị tổn thương [của hệ thống]. Trong khi các lãnh đạo
có thể quyết định thi thoảng nhượng bộ đôi chút, họ
không bao giờ chịu đưa ra các nhượng bộ quan trọng hoặc
chấp nhận hợp pháp hóa các nhóm xã hội độc lập cho đến
khi họ gặp phải các cuộc khủng hoảng sâu sắc.

Weigle và Butterfield nhận thấy trong giai đoạn đầu, khi quyền
lực nhà nước còn mạnh, các nhóm xã hội độc lập thường
tránh không va chạm trực tiếp với nhà nước bằng cách đặt
ra các mục tiêu tự giới hạn. Thí dụ, họ không theo đuổi
các mục tiêu đe dọa sự lãnh đạo của Đảng. Cũng trong giai
đoạn này, những mầm mống của XHDS có sống sót và lớn
mạnh được hay không phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm
lịch sử - xã hội của từng nước cũng như chính sách của
giới lãnh đạo cộng sản. Thí dụ XHDS đã phát triển tốt ở
Ba Lan nhưng lại không mấy thành công ở Đông Đức hay Liên
Xô. Trong trường hợp XHDS có điều kiện lớn mạnh như ở Ba
Lan, các nhóm XHDS dần dần mở rộng các mục tiêu đấu tranh
của mình, thách thức tính chính đáng của nhà nước cộng
sản, đòi hỏi sự tồn tại của họ được thừa nhận về
mặt pháp lý, và cuối cùng là đòi hỏi được tham gia vào quá
trình ra quyết định xã hội. Phản ứng của các nhà nước
toàn trị trong giai đoạn này thường là sự xen kẽ giữa đàn
áp và nhượng bộ. Trong một vài trường hợp, XHDS đã lớn
mạnh tới mức các phong trào xã hội khởi phát từ nó đã
buộc chính quyền phải lùi bước (Ba Lan). Trong một số
trường hợp khác, XHDS không phải là lý do trực tiếp dẫn
đến sự xụp đổ của nhà nước toàn trị (Đông Đức, Liên
Xô).

<h2>XHDS ở Trung và Nam Mỹ</h2>

Cũng trong cùng thời kỳ 70s-80s, các chính thể độc tài quân
sự tồn tại phổ biến ở Nam Mỹ. Tới khoảng cuối những
năm 80s và đầu 90s, làn sóng dân chủ hóa đã lan tỏa khắp khu
vực đưa hầu hết các quốc gia trong vùng trở thành các xã
hội dân chủ. Về mặt bối cảnh phát triển XHDS, khác biệt
có lẽ cơ bản nhất giữa Đông Âu và Nam Mỹ là: (1) các XHDS
ở Đông Âu bị loại khỏi vòng pháp luật và bị đàn áp
mạnh mẽ, trong khi các XHDS ở Nam Mỹ hoạt động trong môi
trường mặc dù vẫn bị giới hạn những đã tự do hơn
nhiều, (2) các phong trào khởi lên ở Đông Âu đều là các
phong trào đấu tranh hòa bình, trong khi ở Nam Mỹ có tồn tại
cả các trào lưu đấu tranh hòa bình lẫn các phong trào đấu
tranh du kích và các phong trào thân cộng sản.

Nếu tách riêng các phong trào dân sự hòa bình, phi cộng
sản để nghiên cứu thì như Joe Foweraker viết, các phong trào
này có thể chia thành 2 mảng: (1) hướng tới các đòi hỏi
vật chất như phân phối kinh tế, dịch vụ công cộng hay an
sinh xã hội, và (2) hướng tới các đòi hỏi về quyền chính
trị và pháp lý (bình đẳng trước pháp luật, quyền đất
đai, quyền lao động, quyền bỏ phiếu). Trong khi các phong trào
thuộc mảng thứ nhất thường bị chính quyền dễ dàng hóa
giải, chia rẽ và cô lập bằng cách ban phát các gói lợi ích
hay ân sủng cho một số ít người, thì các phong trào thuộc
mảng thứ 2 bền vững hơn nhiều vì các đòi hỏi của nó mang
tính phổ quát và đồng nhất hơn. Chính mảng thứ 2 đã tạo
nên một thách thức ngầm cho các chế độ độc tài trong giai
đoạn này.

Các nghiên cứu về Brazil và Chile cho thấy những phong trào có
nội dung chính trị (mảng 2) tăng dần cường độ và ảnh
hưởng trong suốt giai doạn độc tài. Ở Brazil, các đòi hỏi
về chính trị đã lan tỏa nhanh chóng trong chiến dịch diretas
já năm 1984 và đạt đến đỉnh điểm trong thời kỳ chuyển
đổi từ quân sự sang dân sự hồi năm 1985. Ở Chile, các phong
trào đấu tranh chính trị đã lấn át tất cả các mảng khác
của XHDS tính từ những năm đầu 80 trở đi, đạt đến cực
điểm trong những ngày đấu tranh toàn quốc năm 1984. Mặc dù
có cùng một mẫu hình phát triển, ảnh hưởng thực sự của
các phong trào này lên việc thay đổi chính sách ở Brazil và
Chile lại rất khác nhau. Thí dụ ở Brazil, chính quyền đã
phản ứng bằng cách nới lỏng từng bước các quyền công
dân, trong khi đó ở Chile, các quyền này vẫn bị hạn chế cho
đến khi có cuộc chưng cầu dân ý toàn quốc năm 1988.

<h2>KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ XHDS TẠI VIỆT NAM</h2>

<h2>I. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC XHDS TẠI VN</h2>

Nhiều nhà nghiên cứu về dân chủ đã chứng minh mối tương
quan giữa XHDS, tỉ lệ dân chúng tham gia sinh hoạt hội đoàn,
và việc xây dựng và củng cố những tập quán và định chế
dân chủ. Vì vậy việc khảo sát và đánh giá XHDS tại Việt
Nam sẽ giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử phát triển của XHDS
tại VN, nhận ra được những ưu và khuyết điểm của mô hình
và hoạt động của các tổ chức XHDS, nhận định về vai trò
của XHDS VN trong tiến trình dân chủ hóa, và cuối cùng đề ra
những kế hoạch vận dụng XHDS trong tiến trình này.

Về mặt lý luận cần phân biệt những hình thức tổ chức
khác nhau hiện diện tại Việt Nam mà giới học giả Tây
Phương thường gộp chung vào danh xưng tổ chức XHDS. Chẳng
hạn, những tổ chức quần chúng do đảng CS lập nên nay lại
được gọi chung là tổ chức quần chúng (MO) hay thậm chí là
tổ chức phi chính phủ (NGO). Mặc dầu tại VN các tổ chức
đều chịu sự chỉ huy hay chi phối của chính quyền ở những
mức độ khác nhau, các học giả Tây Phương vì những lý do
khác nhau, trong đó kể cả vì vai trò quan trọng của các tổ
chức này trong đời sống xã hội Việt Nam – đặc biệt trong
việc tập hợp và phản ảnh mối quan tâm và cung cấp một số
dịch vụ cho nhân dân – nên họ thường nghiên cứu chung
những tổ chức này như một phần của XHDS.

Mặc dầu cho tới nay quan điểm của nhiều chính quyền độc
tài toàn trị và giới trí thức học giả thân chính quyền
vẫn chủ trương khái niệm và hoạt động xã hội dân sư như
một yếu tố của xã hội dân chủ là xa lạ và mang tính
ngoại nhập đối với xã hội Á châu, các học giả độc lập
đều cho rằng hoạt động XHDS vốn phù hợp với văn hóa Á
châu.

GS Isagani Serrano hay Emma Pirro chẳng hạn cho rằng nhũng giá trị
và hoạt động của những định chế cộng đồng trong xã hội
Á châu có nhiều tương đồng với XHDS. Những hoạt động này
thường nhắm tới những quan tâm chung không được giải quyết
tốt bởi đơn vị cá nhân, gia đình, hay dòng họ, chẳng hạn
như sản xuất, trao đổi, tang tế, an ninh. Hình thức hội
tương trợ, gọi là gotong royong tại Indonesia và bayanihan ở
Philippines, rất phổ biến tại các quốc gia này là một dạng
của XHDS. Tại Thái Lan có đến hang ngàn hội tang nghi, một
hình thức của hội tương trợ.

Quan điểm chung của những nhà nghiên cứu Việt Nam là hình
thái XHDS xuất hiện tại Việt Nam khá sớm như một phần của
đời sống phong tục và văn hóa. Đặc trưng căn bản của các
hình thức tổ chức này là chúng đều dựa trên sự liên kết
tự nguyện của nông dân, làm môi trường thực tập cho thành
viên về đời sống công cộng của việc làng. Thậm chí một
nhà nghiên cứu, Bùi Quang Dũng, đã từ đó rút ra kết luận
nông dân Việt Nam vốn "không phải là người nông nô hay
người nông dân bán tự do trong các lãnh địa trung cổ, mà là
'người nông dân tự do' sống giữa một xã hội gồm những
tiểu nông tư hữu, trong những làng xã ít nhiều có tính tự
trị trong quan hệ với chính quyền quân chủ."

Ở Việt Nam, những hình thái XHDS đã xuất hiện trong đời
sống xã hội đặc biệt là làng xã từ xa xưa, mà cho đến
trước năm 1945 chúng ta vẫn thấy nó tồn tại bên cạnh các
hình thức hội đoàn tại các thành thị mang ảnh hưởng của
Pháp. Các tổ chức này có thể kể: (a) Lãnh vực tín
ngưỡng/tôn giáo - hội đi chùa, nhóm hộ niệm, hội lên
đồng, đoàn tế lễ, nhà thờ họ; (b) lãnh vực tương trợ tù
thiện - hội đồng hương, đồng tỉnh, hội ái hữu cựu học
sinh, sinh viên; (c) lãnh vực ngành nghề: phường, làng nghề; (d)
lãnh vực tài chánh kinh tế - hụi, vần công/đổi công; (e)
lãnh vực văn hóa: - hội thi văn, đoàn văn nghệ, đội thể
thao, đá gà, đua chim. Tại Việt Nam dưới chế độ quân chủ
và sau này là thuộc địa, những hình thái XHDS trong lãnh vực
chính trị phát triển rất giới hạn vì vai trò toàn quyền
của nhà vua cũng như của chính quyền thuộc địa. Nếu am
tường tình hình xã hội Việt Nam, chúng ta đều biết quá
trình hình thành các tổ chức quần chúng này vốn phát xuất
từ các phong trào hiệp hội vốn do DCS lúc đó là Việt Minh
đã tổ chức vào những năm 40-50 cho mục đích đoàn ngũ hóa
nhân dân phục vụ kháng chiến và sau đó là phục vụ xây
dựng CNXH tại VN. Các hội đoàn được thành lập do sự chỉ
đạo và lãnh đạo trực tiếp của chính quyền như hội phụ
lão yêu nước, phụ nữ yêu nước, trí thức yêu nước, nhi
đồng yêu nước xuất hiện ồ ạt. Sau năm 1975 một số hội
đoàn tiếp tục tồn tại bên cạnh một số tổ chức ngoại vi
khác cũng được thành lập tại miền Nam với mục đích đoàn
ngũ hóa để tiện bề kiểm soát dân chúng trong vùng mới
chiếm đóng.

Theo CIVICUS, VN hiện nay có khoảng 140 ngàn hội cộng đồng, 3
ngàn hợp tác xã hoạt động theo bộ luật mới trong các lãnh
vực nông ngư nghiệp, xây dựng, vệ sinh và sức khỏe. Có
khoảng 2 trăm tổ chức từ thiện và 1 ngàn NGO địa phương có
đăng ký. Đây chì là những con số tiêu biểu với đà phát
triển nhanh chóng trong đời sống tổ chức hiệp hội tại
Việt Nam. Sự ra đời của các tổ chức tại Việt Nam đều
phải được nhà nước công nhận và thể chế hóa. Tuy nhiên
vẫn xuất hiện ở nông thôn nhiều hội, các đoàn thể tự
nguyện, "phi chính thức" và các phong trào xã hội.

Về quá trình xuất hiện những tổ chức này, bàn báo cáo của
CIVICUS cho biết các Tổ chức quần chúng (MO) (chẳng hạn Hội
Liên hiệp Phụ nữ, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu
chiến binh và Hội Nông dân) với cơ sở rộng rãi các tổ
chức ở các cộng đồng. Các tổ chức này gắn liền với
Đảng và Nhà nước ở cấp trung ương, nhưng lại đóng vai trò
bán độc lập tại địa phương. Các Hiệp Hội Chuyên Gia như
Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ Thuật thì được hình
thành vào đầu thập niên 1980, được thành lập hầu như trên
khắp cả nước nhưng tập trung về thành thị hơn là các Tổ
chức quần chúng. Các Tổ chức xã hội mới và các NGO phát
triển được hình thành sau nghị định thiết lập các tổ
chức khoa học và kỹ thuật bất vụ lợi vào năm 1992, chủ
yếu đóng tại các thành phố nhưng lại thường thực hiện
các dự án ở nông thôn. Cuối cùng, các Tổ chức Cơ sở Cộng
đồng (CBO) mới hình thành vào giữa thập niên 90 như là các
nhóm không chính thức ở các vùng nông thôn.

Bản đánh giá của CIVICUS sơ khởi vào tháng 7 năm 2005 cho biết
là bắt đầu giữa thập niên 90, bầu không khí chung là chuyển
từ việc kiểm soát toàn diện của nhà nước trong hoạt động
phát triển tới việc chấp nhận sự đóng góp của các nhân
tố phát triển khác, tạo điều kiện cho sự chấp nhận không
gian XHDS mặc dù khái niệm này vẫn còn nhạy cảm về mặt
chính trị.

XHDS tại Việt Nam bao gồm nhiều dạng tổ chức khác nhau
với đầu này là các tổ chức cộng đồng cho đến đầu kia
là các tổ chức nghiên cứu và tổ chức phi chính phủ quốc
tế (INGO). Giữa hai đầu này là các tổ chức quần chúng, hợp
tác xã, hội từ thiện, và các tổ chức địa phương.

Vai trò của các tổ chức quần chúng (MO) truyền thống đang
thay đổi trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của Việt Nam.
Theo CIVICUS những tổ chức quần chúng này hoạt động hiệu
quả trong việc cung cấp dịch vụ với việc tỏa mạng xuống
mọi khu vực quốc gia tuy nhiên chúng đã không đạt được
kết quả trong việc tăng gia trách nhiệm của chính quyền địa
phương. Những tổ chức quần chúng này phần lớn đều được
tài trợ bởi DCS mặc dù hiện nay họ đang hợp tác nhiều hơn
với các INGO trong việc thực thi các đề án phát triển. Các
Hiệp Hội Chuyên Gia như các viện nghiên cứu thông thường
hoạt động trong khung của chính phủ và các bộ. Tuy hiện nay
chúng không đóng vai trò tiếng nói độc lập đưa ra các phân
tích độc lập mang tính thay thế và góp phần vào việc hoạch
định chính sách dựa trên các chứng cứ, chúng sẽ có một vai
trò quan trọng trong tương lai. Các tổ chức phi chính phủ (NGO)
còn lại tham gia hoạt động trễ nhất và đang phải định
hình bản sắc trong khi tiếp tục mở rộng chức năng và tầm
hoạt động của mình với những khó khăn về tài lực, khả
năng, và khung pháp lý. Các tổ chức này thường tập trung tại
đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. Một số bắt đầu
phát triển vào các vùng nghèo của quốc gia. Một số vùng khá
giả có các tổ chức tiết kiệm và tín dụng nhỏ. Các hội
từ thiện chủ yếu phục vụ những khu nghèo trong đô thị và
nhận đa số tài trợ từ các mạnh thường quân địa phương.
Tuy nhiên cơ cấu và ảnh hưởng của các hội này tại vùng cao
nguyên rất hạn chế.

Tại Việt Nam các tổ chức phi chính phủ quốc tế (international
non-governmental organizations – INGO) đóng vai trò của các NGO tại
các nước đang phát triển khác trong vùng Nam Á. Phần lớn
chúng làm nhiệm vụ thực thi các đề án phát triển và thử
nghiệm các công trình xóa đói giảm nghèo. Gần đây có xu
hướng là các INGO hoạt động qua các NGO địa phương (local ~ -
LNGO) của Việt Nam. Điều này giúp chúng có điều kiện phát
triển khả năng của các LNGO trong việc thực thi dự án phát
triển đồng thời gia tăng tầm họat động của chúng. Một
vài tổ chức đã thành công trong việc tham gia vào tiến trình
xây dựng chính sách trong khi một số tổ chức khác thì tham gia
vào trong việc ủng hộ một số vấn đề xã hội.

Bản tường trình về tình trạng XHDS toàn cầu của CIVICUS
nhận định tại VN hoạt động của các tổ chức nói trên
hiện diện trong một môi trường khiếm khuyết vì quan hệ
chặc chẽ với chính quyền và ảnh nưởng lên chính trị và
xã hội rất hạn chế. Nguyên do chủ yếu là "việc không có
khả năng ảnh hưởng tới chính sách đường lối của chính
quyền cũng như việc bắt chính quyền cũng như lãnh vực kinh
doanh tư nhân chịu trách nhiệm cho những quyết định hay hành
động của mình." Các tổ chức này tại VN chỉ "tập trung
vào việc xóa đói giảm nghèo hơn là việc cổ võ cho những
giá trị mang tính nhạy cảm như sự minh bạch và việc bảo
vệ môi trường."

Về cơ cấu, các tổ chức tại VN được đánh giá là phát
triển rộng với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội
trong nhiều dạng tổ chức khác nhau. Tuy nhiên mặc dầu theo
khảo sát có tới 65 triệu người tham gia vào các tổ chức,
sự tham gia này đa số chỉ có tính chức hình thức; đặc
biệt là con số đông đảo trong các tổ chức quần chúng như
Hội Phụ Nữ có tới 12 triệu. Mỗi dạng tổ chức có một
vùng và lãnh vực hoạt động khác nhau. Các tổ chức quần
chúng nối chính quyền trung ương với địa phương. Các tổ
chức LNGO tập trung vào thành thị cung cấp dịch vụ cho các
thành phần xã hội bị thiệt thòi như bệnh nhân AID/SIDA hay
nạn nhân chất độc màu da cam. Các tổ chức cơ sở cộng
đồng tập trung cung cấp các dịch vụ nhu yếu cho vùng sâu
vùng xa, cũng như các nhóm văn hóa và giải trí cũng đang phát
triển. Tuy nhiên việc nối kết giữa các tổ chức rất manh
mún, thiếu khả năng, nguồn lực, và hạ tầng cơ sở kém sẽ
ảnh hưởng tới sự tồn tại của các tổ chức này.

Về môi trường – bối cảnh chính trị, pháp lý, kinh tế- và
văn hóa-xã hội – cho hoạt động của tổ chức XHDS, bản báo
cáo của 2007 của CIVICUS cho thấy những thuận lợi trong các
nhân tố kinh tế- và văn hóa-xã hội song song với những hạn
chế về chính trị và pháp lý. Về chính trị mặc dù có
những lập luận về tính chất khác biệt trong hệ thống chính
trị và các giá trị truyền thống của VN, việc hạn chế về
các quyền tự do căn bản đã hạn chế sự chủ động của
nhân dân. Nạn tham những tràn lan và ngành tư pháp vẫn bị
điều khiểu bới đảng cầm quyền cho thấy môi trường chính
trị vẫn còn cần cải tiến rất nhiều. Luật lệ phức tạp,
giới hạn và tốn thời gian đã gây cản trở cho sự xuất
hiện của các tổ chức mới. Mặc dù các điều kiện kinh tế-
và văn hóa-xã hội có nhiều thuận lợi một phần do sự phát
triển kinh tế, phần khác do đặc tính văn hóa Khổng Mạnh,
việc chồng chéo giữa chính quyền, đảng, và nhiều tổ chức
gọi là XHDS bắt chúng ta phải xem các tổ chức này như một
khu vực còn nhiều tranh cãi trong không gian chính quyền. Tuy vậy
CIVICUS cũng nhận xét là những hoạt động gọi là XHDS đang
ngày càng xuất hiện nhiều, thể hiện qua việc phản đối
ngấm ngầm tinh vi vì sự bất mãn đối với hiện trạng xã
hội.

Về khả năng thực thị và cổ võ cho những giá trị tích
cực, một mặt các tổ chức XHDS tại VN đã đạt được một
số thành quả trong việc xóa đói giảm nghèo, bao dung, và bình
đẳng phái tính, những giá trị khác như dân chủ, minh bạch
hay bất bạo động chỉ được thực hiện rất giới hạn trong
phạm vi một số tổ chưc, không kế tới các tổ chức quần
chúng vôn theo sự chỉ huy tập trung, chứ không nhân ra ngoài xã
hội. Những giá trị mà chính quyền đang đặt trọng tâm như
kinh tế, xã hội, hay từ thiện thì được phát triển trong khi
những giá trị khác nhất là dân chủ và nhân quyền thì vẫn
là những vấn đề nhạy cảm và bị các tổ chức XHDS VN tránh
né.

Về vai trò của các tổ chức XHDS VN trong chính quyền và xã
hội, bên cạnh việc thân cận chính quyền của các tổ chức
quần chúng và cung cấp dịch vụ cho các thành phần bất hạnh
trong xã hội tương đối thành công của các tổ chức còn
lại, vai trò của khu vực này rất là giới hạn trong vai trò
ảnh hưởng chính sách hay kiểm sóat chính quyền và lãnh vực
kinh doanh tư nhân. Mặc dù vậy, hiện nay đã xuất hiện lác
đác một số vụ biểu tình về môi trường hay chống lại
việc ngược đãi nguời lao động. Ở cấp địa phương các
tổ chức này tương đối có ảnh hưởng hơn nhất là trong
việc cung cấp các dịch vụ cho thành phần bất hạnh. CIVICUS
có một nhìn tương đối lạc quan về Đạo luật Dân chủ Cơ
năm 1998 cho rằng qua đó người dân được quyền tham dự
nhiều hơn vào các dự án phát triển lớn từ đó gia tăng ảnh
hưởng lên đời sống hàng ngày của họ.

Về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ quốc tế
(INGO) hiện diện tại Việt Nam, bản báo cáo "Những bài học
từ một thập niên kinh nghiệm: Phân tích chiến lược về
phương pháp và hoạt động của INGO tại VN 1990-1999" của
Trung Tâm VUFO-NGO đã nghiên cứu 19 tổ chức XHDS để tìm hiểu
về ảnh hưởng của hoạt động của những tổ chức này và
hiệu quả của những phương pháp mà họ thực hiện, tập trung
và các lãnh vực phát triển vùng xa, phát triển đô thị, dinh
dưỡng, HIV/AID, giáo dục cơ sở, và kinh doanh và tài trợ cỡ
nhỏ.

Theo bản báo cáo này INGO đã có những đóng góp đáng kể trong
nhiều lãnh vực ngoại trừ lãnh vực phát triển đô thị.
Chúng chỉ chú ý và tiếp cận được thành phần tương đối
nghèo và tầng lớp trung lâu nhưng không tiếp cận được thành
phần nghèo. Tương tự, hiệu quả và ảnh hưởng của những
đề án đối với những đối tượng dân tộc ít nguời còn
bị giới hạn vì sự thiếu hiểu biết về ngôn ngữ, văn hóa
và tập quán của đối tượng này. Những đề án vẫn còn bỏ
mặc những thành phần khiếm tật, già cả, không đăng ký và
không nơi cư trú ngoại trừ những tổ chức mà đối tượng
chính là những thành phần này.

Những đề án nhỏ mà trong đó hướng tiếp cận bị ảnh
hửơng bởi vốn đầu tư nhỏ, mang tính thử nghiệm, phương
pháp vận động từ dưới lên và chỉ dựa vào nông dân đã
giới hạn sự bành trướng và ứng dụng kỹ thuật tiên tiến
và cản trở thành quả đạt được. Việc này dẫn tới việc
giảm thiểu ảnh hưởng của các INGO lên những chương trình,
chính sách, và hoạch định của chính phủ. Quan hệ giữa các
INGO và những đối tác địa phương vẫn còn bị giới hạn
trong 10 năm qua. Những điểm tiêu cực cũng còn tồn tại trong
quan hệ giữa nhân viên quốc tế và bản xứ cùng làm việc
chung trong các INGO. Nhân viên địa phương được yêu cầu phải
đáp ứng những yêu cầu trong các công trình nhưng không được
huấn luyện đầy đủ. Việc huấn luyện chỉ có tính cách
ngắn hạn, ít tổ chức tập trung một cách chiến lược vào
việc đào tạo lâu dài. Việc thay đổi liên tục đại diện
của INGO làm ảnh hưởng đến quan hệ đối tác, thay đổi
nhân viên địa phương.

<h2>II. NHẬN ĐỊNH</h2>

Rõ ràng trước đây khái niệm và thậm chí cụm từ XHDS là
một vấn đề nhạy cảm, vì nó vốn được định nghĩa như
một thực thể xã hội độc lập, chứ chưa nói đến kiểm
soát và đối kháng với chính quyền, nhưng bây giờ mọi
người đã có thể công khai thảo luận vấn đề này tại
Việt Nam.
Nếu ai thuộc lịch sử Việt Nam cận đại đặc biệt về phong
trào Việt Minh và những năm đầu của nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa, thì đều biết về những phong trào và tổ chức
quần chúng do đảng và sau này là do nhà nước CS lập lên để
phục vụ các mục tiêu giai đoạn của mình, quan trọng nhất
là việc kiểm soát đời sống tòan dân. Sự khác biệt nếu có
giữa những phong trào và tổ chức thời đó và bây giờ là (a)
sự lãnh đạo kín đáo và gián tiếp hơn của đảng, (b) có
thêm nguồn tài trợ phát xuất từ nước ngoài, (c) đối
tượng và mục tiêu phục vụ rộng rãi hơn nhắm đáp ứng
những nhu cầu xã hội mà nhà nước không cáng đáng nổi, và
điều đáng mừng hơn cả là (d) nhu cầu và ý thức của các
thành viên của các tổ chức này trong việc khẳng định sự
tự chủ của tổ chức của mình – quan hệ không còn thuần
túy một chiều nhưng đã bắt đầu có dấu hiệu hai chiều
đối thoại. Tuy nhiên đùng nghĩ đây là thiện ‎í của nhà
cầm quyền mà thực ra là một bước chẳng đặng đừng trong
thực tế phát triển xã hội và xu thế hội nhập toàn cầu.

Hiện nay nhà nước VN chỉ cho phép những tổ chức thuộc XHDS
làm việc trong khuôn khổ và chính sách của nhà nước, thực
thi những nghị quyết của chính phủ đưa ra khi những mục
tiêu hỗ trợ của các nhà tài trợ nước ngoài phù hợp với
các nghị quyết này. Ở một chừng mực nào đó chính quyền
có thể chấp nhân được một vài vận động mang tính xin phép
của các tổ chức XHDS nhân danh đối tượng phục vụ. Tuy
nhiên như đã nói ở trên các tổ chức XHDS tại Việt Nam
thường tránh né các vấn đề pháp lý và chính trị. Phát
biểu của ông Đặng Ngọc Dinh, Viện trưởng Viện Những Vấn
đề Phát triển, đã cho thấy quan điểm của nhà cầm quyền VN
đối với XHDS. Ông Dinh cho rằng xã hội dân sự nên tập trung
trước hết vào việc tăng cường quyền lợi của người dân
và phát triển xã hội kinh tế, thay vì chú tâm đến vấn đề
mà ông ta gọi là cạnh tranh chính trị.

Một điều đáng chú ý là các nhân viên của các tổ chức NGO
tại Việt Nam, đặc biệt là nhân viên Việt Nam, cũng tin
tưởng vào phương thức thỏa hiệp với chính quyền là tốt
nhất để đạt được hiệu quả dù về thực tiễn nhiều khi
quyền lợi của của chính quyền và nhân dân mâu thuẫn với
nhau. Những nhân viên này xem vai trò của mình như những nhà
hòa giải chuyên nghiệp và có trình độ để giải quyết vấn
đề thông qua việc tạo thông cảm giữa nhân dân và các phía
còn lại, kể cả thành phần kinh doanh. Lối suy nghĩ và phương
thức làm việc này được cho là phù hợp với tinh thần hòa
đồng của văn hóa Việt Nam, hoặc mang tính thực dụng khi mang
lại kết quả, nhưng nếu nhìn từ một góc độ tập quán và
tâm lý, nó là sự nối dài của quan hệ "xin cho" giữa nhân
dân và chính quyền. Với chính quyền, những nhân viên NGO này
vẫn tiếp tục đóng vai trò đại diện người dân "van xin"
quyền lợi vốn là của nhân dân, hơn là mạnh dạn đấu tranh
cho quyền lợi người dân như các tổ chức phi chính phủ XHDS
tại các nước khác đang làm.

Với sự tác động của các INGO và ý thức tự chủ càng ngày
càng cao của nhân dân, một mảng đời sống xã hội bao gồm
nhiều lãnh vực khác nhau đã dần dần trở nên độc lập với
chính quyền. Nếu trước kia mảng đời sống này được xem là
chui, sau đó là ngoài luồng, thì nay có thể xem nó như một bộ
phận XHDS tồn tại và ngày cảng phát triển. Khi nhân dân bắt
đầu tập hợp lại cho những mục tiêu lợi ích chung thì tổ
chức XHDS hình thành bất kể chúng có đăng ký hoạt động
chính thức hay không. Mặc dù hiện nay các tổ chức này chỉ
đa phần tập trung vào các lãnh vực tương trợ hay từ thiện
và giới hạn hoạt động trong việc cung cấp dịch vụ, nhu
cầu phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động sẽ bắt
buộc chúng nghĩ đến khả năng tác động vào việc hoạch
định chính sách địa phương và quốc gia cũng như kiểm tra
hoạt động của chính quyền và bộ phân kinh doanh trong tinh
thần "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thực sự
trong một tương lai không xa.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20120930/xa-hoi-dan-su-va-dan-chu), một số
đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc
giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận
có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng
dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
<div class="boxright300"><img
src="http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/03/090309115814_court.jpg"
/><div class="textholder">Luật sư Lê Công Định nói quyền giữ bí
mật nghề nghiệp của luật sư phải được tôn
trọng</div></div>
Gần đây những cuộc đột nhập văn phòng luật sư để tịch
thu tài liệu và máy tính hoặc khám xét hành lý của các luật
sư tại phi trường ở Việt Nam đã dấy lên mối quan ngại về
sự công khai xâm phạm bí mật nghề nghiệp luật sư, một trong
những chuẩn mực văn minh mà bất kỳ nhà nước pháp quyền
nào trên thế giới cũng tôn trọng.

Luật sư chỉ có thể làm tròn bổn phận đối với khách hàng,
dù biện hộ hay tư vấn, khi khách hàng biết rõ và chắc chắn
rằng mình có thể nói hoặc gửi gắm với luật sư mọi tình
tiết của vụ việc liên hệ mà không lo ngại người thứ ba
biết, vì luật sư tiết lộ hay thất thoát bởi lý do khác.
Điều này gắn liền với khái niệm bí mật nghề nghiệp luật
sư, vốn định hình và phát triển theo chiều hướng văn minh
hóa của nhân loại, trên cơ sở mở rộng quyền tự do cá nhân
và thu hẹp quyền lực nhà nước.

Ở những xã hội còn chưa văn minh, nhà chức trách thường
nhân danh trật tự công cộng và đề cao ổn định xã hội
để dành cho mình độc quyền tìm hiểu mọi sự việc diễn ra
trong đời sống xã hội, gọi là "thực tế khách quan", qua đó
can thiệp vào các tương quan dân sự và pháp lý, bất chấp tự
do cá nhân của công dân có bị xâm phạm hay không.

Công cuộc tranh đấu cho tự do cá nhân trên toàn thế giới từ
thế kỷ XVII đến XX đã đưa đến kết quả thu hẹp đáng kể
quyền lực nhà nước, đồng thời xác lập nên những chuẩn
mực văn minh, thành văn và bất thành văn, trong việc cai trị
và quản lý xã hội, trong đó có sự công nhận quyền giữ bí
mật nghề nghiệp luật sư.

Văn phòng luật sư, cũng như phòng mạch của bác sĩ, được ví
như phòng xưng tội của nhà thờ, phải là nơi tuyệt đối an
toàn, mọi bí mật phó thác cho luật sư phải được luật pháp
bảo đảm để không bị tiết lộ dưới áp lực của bất kỳ
uy lực nào. Nói cách khác, sự bất khả xâm phạm của văn
phòng luật sư là nền tảng của quyền giữ bí mật nghề
nghiệp luật sư mà nhà chức trách ở quốc gia văn minh nào
cũng tuân thủ vô điều kiện.

Trong một số trường hợp giới hạn vì nhu cầu trật tự công
cộng và nhằm phục vụ tiến trình điều tra một vụ án nhất
định, nhà chức trách có thể khám xét văn phòng luật sư,
nhưng phải luôn tôn trọng quyền giữ bí mật nghề nghiệp
của luật sư. Hai vấn đề quan trọng sau đây cần lưu ý trong
khi tiến hành khám xét:

<div class="boxright300"><img
src="http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/03/090309110827_luatsu226.jpg"
/><div class="textholder">Luật sư Lê Trần Luật, tham gia bào chữa
cho giáo dân Thái Hà, gần đây nói ông bị sách
nhiễu</div></div>
Thứ nhất, thư từ trao đổi giữa luật sư và khách hàng hoặc
giữa các luật sư với nhau tuyệt đối không thể bị tịch thu
dù có thể liên quan đến vụ án. Đây là nguyên tắc không có
ngoại lệ bất kể nhà chức trách muốn tìm hiểu "sự thật
khách quan". Do vậy việc tịch thu máy tính hoặc phương tiện
mà luật sư sử dụng để soạn thảo và lưu trữ thư từ và
tài liệu khách hàng là hành vi không thể chấp nhận xét cả
về phương diện pháp lý lẫn văn minh tối thiểu.

Thứ hai, nhà chức trách muốn tịch thu tài liệu như tang vật
có trong văn phòng luật sư thì phải thông báo trước cho ban
chủ nhiệm đoàn luật sư nơi văn phòng luật sư tọa lạc,
để vị chủ nhiệm hoặc một thành viên ban chủ nhiệm khác
được ủy nhiệm đến chứng kiến. Trong mọi trường hợp
việc tịch thu tang vật phải được tiến hành với sự hiện
diện của luật sư có văn phòng bị khám xét. Đột nhập văn
phòng của luật sư khi vắng mặt họ là hành động phỉ báng
công lý nghiêm trọng.

Ở các nước, thủ tục thu thập chứng cứ từ hồ sơ của
văn phòng luật sư như nêu trên phải do công tố viên, chứ
không phải cảnh sát, thực hiện. Thủ tục ấy diễn ra theo
trình tự sau đây:

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Văn phòng luật sư phải
là nơi tuyệt đối an toàn, mọi bí mật phó thác cho luật sư
phải được luật pháp bảo đảm để không bị tiết lộ
dưới áp lực nào.<img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br
class="quoteclear"></div><div class="quoteauthor">» Luật sư Lê Công
Định</div></div>

Công tố viên phải chứng minh khả năng có chứng cứ trong một
hồ sơ cụ thể để chủ nhiệm đoàn luật sư xem xét và cân
nhắc về sự cần thiết trao cho nhà chức trách tài liệu liên
hệ. Chứng cứ đó phải liên quan trực tiếp đến một sự
việc cụ thể và việc cung cấp dứt khoát không làm tiết lộ
hồ sơ về vấn đề khác hoặc của khách hàng khác.

Chỉ khi nào phát hiện dấu hiệu vi phạm đạo đức nghề
nghiệp khi luật sư cố tình che giấu chứng cứ, thì chủ
nhiệm đoàn luật sư mới trao "chứng cứ" ấy cho công tố
viên, nhưng phải niêm phong và lập thành biên bản chặt chẽ.
Không ai có quyền tự ý lấy đi bất cứ hồ sơ nào từ văn
phòng luật sư mà không tuân thủ trình tự nêu trên.

Ngày nay, những điều sơ đẳng đó đã được chấp nhận
rộng rãi trên toàn thế giới, kể cả ở chế độ Việt Nam
Cộng Hòa trước 1975, bởi lẽ luật sư cũng là một định
chế, cùng với tòa án, công tố viện và cảnh sát, tạo nên
trụ cột tư pháp của ngôi nhà quyền lực nhà nước. Nếu
trụ cột này thiếu vắng các bộ phận vận hành đúng vai trò
và thực chất, thì nhà nước pháp quyền chỉ là một viễn
cảnh xa vời hoặc là mỹ từ để tuyên truyền mà thôi.

Tất nhiên, để đạt được sự công nhận các giá trị phổ
quát ấy, nhân loại đã phải tranh giành từng milimet tự do từ
tay các thể chế quân chủ và độc tài trong suốt lịch sử
lắm gian nan nhưng đầy vinh quang của mình hàng trăm năm qua,
để từng bước hình thành các chuẩn mực văn minh mà mọi
thể chế dân chủ pháp quyền hiện tại đều luôn tôn trọng.

<em>Ngày 09/03/2009</em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20120930/le-cong-dinh-chuan-muc-van-minh-can-ton-trong),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Các bài viết có liên quan của vụ án Cù Huy Hà Vũ được Dân Luận tập hợp tại đây: Hồ Sơ Cù Huy Hà Vũ, hoặc theo từ khóa "Cù Huy Hà Vũ".

Độc giả có thể truy cập Dân Luận an toàn hơn qua cổng HTTPS (HTTP có mã hóa bảo mật), bằng cách thêm https:// vào đằng trước địa chỉ danluan.org, hoặc bấm vào đây!
Bấm vào đây để đọc chuyên mục Góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992
Bấm vào đây để đọc cuốn Trần Huỳnh Duy Thức - Con Đường Nào Cho Việt Nam

Quỹ Dân Luận


Bấm nút Donate để ủng hộ tài chính cho Dân Luận qua Paypal. Thu chi quỹ Dân Luận: xem ở đây!

Hỗ trợ dân chủ

Bạn có thể chia sẻ tấm lòng của mình với các nhà hoạt động dân chủ trong nước và gia đình của họ, ngay cả khi bạn đang ở trong nước. Bạn chỉ cần ra bưu điện, hỏi về dịch vụ "chuyển tiền nhanh". Người ta sẽ cấp cho bạn một phiếu, trong đó có phần thông tin người gửi và người nhận. Phần người nhận bạn cần điền chi tiết và chính xác. Còn phần người gửi, bạn không cần điền chính xác. Phí chuyển tiền không đắt, hãy làm gì đó chứng tỏ xã hội đứng phía sau những công dân này!

Danh sách các nhà hoạt động dân chủ trong nước và địa chỉ của họ có thể được tìm thấy ở đây!

Dân Luận kêu gọi bài vở theo chủ đề: Nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động và xây dựng phong trào của Tổ chức Otpor (Phản Kháng) của Serbia. Đây là kinh nghiệm là các lực lượng đối kháng tại Tunisia và Ai Cập đã vận dụng để lật đổ độc tài tại các quốc gia này...

Bài mới trên Dân Luận

Archives