Vũ Quang Việt - Nợ công, nợ ngân hàng của Việt Nam được hé mở

<div class="boxleft320"><img
src="https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTcAfJcLHhCemlF7GpVFNK_96pVNR4CDEVQRn12LQhDC6q02qtU"
/></div>

Số liệu về nợ công và nợ qua hệ thống tín dụng ngân hàng
là những số liệu cần thiết để đánh giá nền kinh tế
Việt Nam. Nhưng số liệu này cho đến gần đây chỉ được
cung cấp nhỏ giọt và không đầy đủ cho các tổ chức quốc
tế như IMF và ADB và có thể việc cung cấp cho Quốc hội cũng
thế. Tuy nhiên mới đây Bộ Tài chính qua <a
href="http://doanhnhan.vneconomy.vn/20121115073522550P0C5/tong-no-cua-tap-doan-tong-cong-ty-nha-nuoc-la-bao-nhieu.htm">báo
cáo của ông Vương Đình Huệ với Quốc hội</a> đã công bố
nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), <a
href="http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Chinh-phu-bao-cao-Quoc-hoi-ve-no-cong/201211/153234.vgp">Chính
phủ cũng công bố nợ công</a>, và lần đầu tiên Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam công bố trên mạng của họ một vài số
liệu về tín dụng ngân hàng.

Những số liệu này chỉ có cho năm 2011 dù không đầy đủ và
lại không cập nhật hàng quý theo truyền thống quốc tế nhưng
cũng là dấu hiệu đáng mừng. Hình như Chính phủ muốn minh
bạch hơn một chút. Chính sự thiếu minh bạch này đã làm cho
các bàn thảo về chính sách thiếu cơ sở, thậm chí đưa đến
những hành động sai lầm.

Bài viết ngắn này chỉ nhằm trình bày một số thông tin về
nợ công, và nợ qua hệ thống tín dụng ngân hàng, dựa vào
số liệu vừa mới được cơ quan có trách nhiệm của nhà
nước cung cấp thay vì những số liệu mà người viết phải
nhặt nhạnh khắp nơi để tổng kết lại một cách không chính
thức.

<b>Nợ công </b>

Nợ công theo định nghĩa của Việt Nam chỉ bao gồm nợ của
Chính phủ (gồm cả chính quyền trung ương và địa phương)
hoặc nợ được Chính phủ bảo lãnh. Nợ bao gồm nợ vay ngân
hàng và nợ qua phát hành công trái, cũng như chi phí phải trả
mà chưa trả được.

Nợ công theo định nghĩa quốc tế bao gồm nợ theo định
nghĩa của Việt Nam và nợ của doanh nghiệp nhà nước. Nợ theo
định nghĩa quốc tế rõ ràng là phù hợp với tình hình Việt
Nam. Chính vì nhà nước làm sở hữu chủ của DNNN do đó mà
nhà nước không thể phủi tay để chủ nợ đòi bán tài sản
thu nợ theo đúng luật phá sán, như ta đã thấy là nợ của
Vinashin đã được chính quyền dồn cho các DNNN khác phải trả.

<b>Bảng 1. Nợ công của Việt Nam năm 2011</b>

<table border="1" ><tbody> <tr> <td> </td> <td> Tỷ đồng

</td> <td> Tỷ US

</td> <td> So với GDP

</td> </tr> <tr> <td> <b>Nợ công theo định nghĩa Việt Nam</b>

</td> <td> <b> 1,391,478 </b>

</td> <td> <b>66.8</b>

</td> <td> <b>55%</b>

</td> </tr> <tr> <td> Nợ của chính phủ

</td> <td> 1,085,353

</td> <td> 52.1

</td> <td> 43%

</td> </tr> <tr> <td> Nợ chính phủ bảo lãnh

</td> <td> 292,210

</td> <td> 14.0

</td> <td> 12%

</td> </tr> <tr> <td> Nợ chính quyền địa phương

</td> <td> 13,915

</td> <td> 0.7

</td> <td> 1%

</td> </tr> <tr> <td> <b>Nợ công theo định nghĩa quốc tế</b>

</td> <td> 2,683,878

</td> <td> <b>128.9</b>

</td> <td> <b>106%</b>

</td> </tr> <tr> <td> Nợ công theo định nghĩa Việt Nam

</td> <td> 1,391,478

</td> <td> 66.8

</td> <td> 55%

</td> </tr> <tr> <td> Nợ của DNNN (trong và ngoài nước)

</td> <td> 1,292,400

</td> <td> 62.1

</td> <td> 51%

</td> </tr> </tbody></table>

<i>Nguồn và chú thích: Vương Đình Huệ, Bộ Tài chính. Trong
nợ nước ngoài của DNN có thể có 1 phần do chính phủ bảo
lãnh cho nên tổng nợ có tính trùng, phải trừ đi khỏi nợ
DNNN, cao nhất là 14 tỷ.</i>

<i>Như vậy là tổng nợ công theo định nghĩa quốc tế vào
cuối năm 2011 đã là 128.9 tỷ USD bằng 106% GDP (121.7 tỷ USD),
cao hơn 90 tỷ USD mà trước đây tác giả ước tính ở mức
tối thiểu.</i>

<i>Tổng số nợ của DNNN là 62.1 tỷ USD bằng 55% GDP.</i>

Mức trần tỷ lệ nợ công trên GDP không quá 65% GDP vào năm
2015 mà Chính phủ đề nghị Quốc hội đã bị vượt qua từ
lâu rồi. Không ý thức được điều này thì chính sách trong
tương lai sẽ không thể phù hợp.

<b>Phân tích hệ quả của nợ công: áp lực trả nợ</b>

Theo ông Huệ, hệ số nợ trên tính trên vốn tự có là 1,77.
Thông thường, người có 1 đồng vốn có thể dễ dàng đi vay
thêm 1 đồng vốn nữa như vậy thì tỷ lệ trên là 1. Nếu tỷ
lệ càng cao thì mức rủi ro trong sản xuất càng lớn vì áp
lực phải trả lãi. Với hệ số nợ là 1,77, thì 64% là vốn
vay. Chúng ta có thể dễ dàng làm mô hình về khả năng phá
sản của công ty. Thí dụ nếu lãi suất trả nợ là 15% nhưng
lợi nhuận chỉ là 10% trên vốn đầu tư thì lợi nhuận (tính
theo doanh thu trừ chi phí phi tài chính) chỉ đủ trả lãi. Nếu
lợi nhuận thấp hơn 10% thì công ty lỗ, mất khả năng trả
nợ. Phải chăng đây là trường hợp của hầu hết DNNN và cả
DNTN hiện nay? Theo ông Huệ, có đến 30 tập đoàn, tổng công ty
hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần. Trong
đó có 8 đơn vị có hệ số trên 10 lần, 10 doanh nghiệp từ 5
- 10 lần, 12 tập đoàn, tổng công ty từ 3 - 5 lần. Như vậy có
lẽ 30 tập đoàn này đã mất khả năng trả nợ. Nếu không
giảm được lạm phát, qua đó giảm lãi suất thì doanh nghiệp
nói chung khó có khả năng sống còn.

<b>Bảng 2. Vốn tự có, nợ trong khu vực DNNN, 2011</b>

<table border="1" ><tbody> <tr> <td> </td> <td> Hệ số trên vốn tự
có của DNNN

</td> <td> Tỷ lệ

</td> </tr> <tr> <td> Vốn tự có

</td> <td> 1

</td> <td> 36%

</td> </tr> <tr> <td> Vốn vay

</td> <td> 1.77

</td> <td> 64%

</td> </tr> <tr> <td> Tổng vốn

</td> <td> 2.77

</td> <td> 100%

</td> </tr> </tbody></table>

<b>Phân tích hệ quả của nợ công: áp lực ngân sách</b>

Nếu 8.8% là nợ xấu thì tổng số nợ xấu trong nợ công sẽ
là 11.3 tỷ USD. So với tổng ngân sách thu của nhà nước năm
2011 là 33.8 tỷ USD bằng 28% GDP thì con số nợ xấu trên rất
lớn, vượt ngoài sức chịu đựng của ngân sách. Trong việc
giải quyết nợ công xấu, ai sẽ là người chịu thiệt? Không
lẽ ngân sách chỉ dùng để trả nợ xấu? Hay in tiền tạo
lạm phát?

<b>Nợ nước ngoài</b>

Hiện nay nợ nước ngoài vẫn chưa được Bộ Tài chính công
bố cho năm 2011. Con số năm 2010 ở bảng 3 là từ Bộ Tài
chính, nhưng con số năm 2011 là ước tính dùng tốc độ tăng
của năm trước. Nợ nước ngoài chưa phải là điều đáng lo
vì nó chỉ bằng 39.8% GDP. Tuy nhiên, nợ nước ngoài của khu
vực doanh nghiệp tăng mạnh những năm gần đây; điều này
mới là đáng lo ngại vì thường chúng là nợ trung hạn chứ
không phải nợ dài hạn của Chính phủ.

<b>Bảng 3. Vốn tự có, nợ trong khu vực DNNN, 2011</b>

<table border="1" ><tbody> <tr> <td> </td> <td> Năm 2010

</td> <td> Ước tính 2011 theo mức tăng 15% của năm trước

</td> </tr> <tr> <td> Tổng nợ nước ngoài

</td> <td> 42.2

</td> <td> 48.5

</td> </tr> <tr> <td> Nợ công theo định nghĩa VN

</td> <td> 32.2

</td> <td> 37.0

</td> </tr> <tr> <td> Nợ chính phủ

</td> <td> 27.6

</td> <td> 31.7

</td> </tr> <tr> <td> Nợ chính phủ bảo lãnh

</td> <td> 4.6

</td> <td> 5.3

</td> </tr> <tr> <td> Nợ doanh nghiệp

</td> <td> 10

</td> <td> 11.5

</td> </tr> <tr> <td> Tổng nợ công

</td> <td> </td> <td> 128.9

</td> </tr> </tbody></table>

<b>Nợ ngân hàng nội địa</b>

So với các nước trong khu vực, tín dụng từ nguồn hệ thống
tín dụng nội địa ở Việt Nam là rất cao; tỷ lệ tín dụng
lên tới 121% GDP, nhất là khi nền kinh tế Việt Nam còn ở mức
thấp (bảng 4). Dựa vào tín dụng thay vì vốn tự có để phát
triển kinh tế dễ đẩy nền kinh tế đến chỗ bong bóng. Tỷ
lệ tín dụng cao so với GDP và cụ thể hóa trong Bảng 2 ở tỷ
lệ vốn vay trên vốn tự có đã nói rõ lên điều này.

<b>Bảng 4. Tỷ lệ tổng dư nợ hệ thống tín dụng trên
GDP</b>

<table border="1" ><tbody> <tr> <td> </td> <td> Tổng dư nợ nội địa
trên GDP

</td> </tr> <tr> <td> Trung Quốc

</td> <td> 145.9

</td> </tr> <tr> <td> Ấn độ

</td> <td> 75.1

</td> </tr> <tr> <td> Indonesia

</td> <td> 38.5

</td> </tr> <tr> <td> Mã Lai

</td> <td> 132.1

</td> </tr> <tr> <td> Philippines

</td> <td> 51.8

</td> </tr> <tr> <td> Singapore

</td> <td> 93.6

</td> </tr> <tr> <td> Thái Lan

</td> <td> 150.0

</td> </tr> <tr> <td> Việt Nam

</td> <td> 120.9

</td> </tr> </tbody></table>

Nguồn: Asian Development Bank (ADB), Key Indicators for Asia and the
Pacific 2012

Tổng nợ của DNNN được tính là 62.1 tỷ USD (Bảng 1) trong khi
theo báo cáo của Việt Nam với Ngân hàng châu Á (ADB) và IMF,
DNNN chỉ vay từ hệ thống tín dụng là 24.5 tỷ USD (490.000 tỷ
đồng ở bảng 5). Vậy thì 37.6 tỷ phải là từ trái phiếu
hoặc nợ nước ngoài. Theo Bản tin số 7 của Bộ Tài chính,
nợ nước ngoài của DNNN cao nhất là 11.5 tỷ USD (vì con số
này gồm cả nợ của doanh nghiệp tư nhân). Vậy thì 26.5 tỷ
USD còn lại trong nợ của DNNN ở đâu mà ra. Có lẽ NHNN đã
tính sai nợ tín dụng DNNN vào nợ tư nhân không chừng? <b></b>

<b>Bảng 5. Dư nợ của hệ thống ngân hàng, 2011</b>

<table border="1" ><tbody> <tr> <td> </td> <td> Tỷ đồng

</td> <td> Tỷ US

</td> <td> Tỷ lệ

</td> </tr> <tr> <td> Tổng tín dụng của hệ thống ngân hàng

</td> <td> 3,063,000

</td> <td> 147.1

</td> <td> 100%

</td> </tr> <tr> <td> Chính phủ vay

</td> <td> 232,000

</td> <td> 11.1

</td> <td> 8%

</td> </tr> <tr> <td> DNNN vay

</td> <td> 490,000

</td> <td> 23.5

</td> <td> 16%

</td> </tr> <tr> <td> DN tư nhân&amp; hộ gia đình vay

</td> <td> 2,341,000

</td> <td> 112.4

</td> <td> 76%

</td> </tr> </tbody></table>

Nguồn: ADB Asian Development Bank (ADB), Key Indicators for Asia and the
Pacific 2012

<b>Phân phối tín dụng trong hệ thống ngân hàng </b>

Có thể dựa vào số liệu từ NHNN và Tổng cục Thống kê
để thấy rằng, phân phối tín dụng trong hệ thống không
phản ánh hoạt động chung của nền kinh tế. Nông nghiệp,
thủy sản, lâm sản chỉ được hưởng tỷ lệ tín dụng bằng
gần ½ tỷ lệ đóng góp vào nền kinh tế. Ngược lại xây
dựng được gần gấp đôi. Nhưng hầu hết tín dụng (67%) là
chui vào khu vực thương mại và dịch vụ, gấp gần gấp hai
lần so với mức đóng góp của chúng vào nền kinh tế. Hình
như đây là lần đầu tiên NHNN công bố số liệu như thế
này. Thật ra chúng cần được công bố thường xuyên vì vấn
đề được đặt ra là hệ thống ngân hàng phục vụ ai trong
nền kinh tế.

<b>Bảng 6. Phân phối dư nợ tín tụng trong nền kinh tế, tháng
7 năm 2012 </b>

<table border="1" ><tbody> <tr> <td> </td> <td> Tỷ đồng

</td> <td> Tỷ lệ

</td> <td> Tỷ lệ hoạt động kinh tế trên GDP

</td> </tr> <tr> <td> Tổng tiền gửi

</td> <td> 2,693,667

</td> <td> </td> <td> </td> </tr> <tr> <td> Dư nợ trên tổng tiền
gửi

</td> <td> </td> <td> 81%

</td> <td> </td> </tr> <tr> <td> <b>Dư nợ cho hoạt động kinh
tế</b>

</td> <td> <b> 2,176,073 </b>

</td> <td> <b>100%</b>

</td> <td> 100%

</td> </tr> <tr> <td> Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

</td> <td> 257,829

</td> <td> 12%

</td> <td> 21%

</td> </tr> <tr> <td> Công nghiệp, xây dựng

</td> <td> 1,160,634

</td> <td> 53%

</td> <td> 42%

</td> </tr> <tr> <td> Công nghiệp

</td> <td> 894,013

</td> <td> 41%

</td> <td> 35%

</td> </tr> <tr> <td> Xây dựng

</td> <td> 266,621

</td> <td> 12%

</td> <td> 7%

</td> </tr> <tr> <td> Thương mại, vận tải, viễn thông

</td> <td> 757,610

</td> <td> 35%

</td> <td> 19%

</td> </tr> <tr> <td> Thương mại

</td> <td> 610,184

</td> <td> 28%

</td> <td> 14%

</td> </tr> <tr> <td> Vận tải, viễn thông

</td> <td> 147,426

</td> <td> 7%

</td> <td> 4%

</td> </tr> <tr> <td> Dịch vụ khác

</td> <td> 703,989

</td> <td> 32%

</td> <td> 19%

</td> </tr> </tbody></table>

Nguồn: <a
href="http://sbv.gov.vn/wps/portal/%21ut/p/c5/lY9BDoIwEEXP4gn6i6XAEootxQYkQkQ2hIUxGAEXxvMLMXFhFHVm-fLmzycVGbdvbu2xubZD35xJSSpeM8E8R9oMSlgSOiwyJwpWFAEf-Z7XQvkRcwyQRqEH7cZrk9PNUlr4y1ZxJqBVvHVZQAHYv9hPngaGjlxIk7gekH_L3k1d59Mnjg_j48V_033uvssffOb_JBq6A7l0RVGi1SfmL-5_dy">Ngân
hàng Nhà nước</a>

Để kết luận, có thể tóm tắt vài điều nhận xét sau:

a) Kinh tế Việt Nam phát triển bong bóng vì chủ yếu dựa vào
tín dụng ngân hàng, bằng cách bơm tiền quá lố. Điều này
đưa đến lạm phát và ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả
năng chi trả của doanh nghiệp khi bắt buộc phải thực hiện
chính sách chống lạm phát.

b) Tín dụng của hệ thống ngân hàng được phân phối chủ
yếu (67%) vào những hoạt động dịch vụ không rõ ràng. Những
hoạt động này có thể là những hoạt động đầy rủi ro như
chứng khoán, mua địa ốc (khác hoàn toàn với hoạt động xây
dựng tạo ra việc làm), lập ngân hàng, v.v. Có thể nói dường
như hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động không nhằm phục
vụ sản xuất.

c) Để có thể cải cách và bốc thuốc đúng lúc, các cơ quan
quản lý nhà nước cần minh bạch số liệu thường xuyên,
không thể để tình trạng như hiện nay như đã vào cuối năm
2012 mà chỉ mới biết số liệu năm 2011, thậm chí năm 2010.
Số liệu tài chính tín dụng cần được xuất bản hàng quý
cho mọi người sử dụng.

17-11-12

<b>V.Q.V.</b>

Nguồn: <a
href="http://www.diendan.org/viet-nam/no-cong-no-ngan-hang-cua-viet-nam-duoc-he-mo">diendan.org</a>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20121123/vu-quang-viet-no-cong-no-ngan-hang-cua-viet-nam-duoc-he-mo),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét