Việt Nam là nước đi sau về khoa học và công nghệ (KH-CN). Ta
du nhập cách làm KH-CN, ban đầu từ các nước xã hội chủ
nghĩa Liên Xô và Đông Âu (ở miền Bắc), gần đây từ các
nước tư bản Âu-Mỹ. Ý thức hệ và thiết chế của hai hệ
thống hoàn toàn khác nhau, song tư duy và cách nghiên cứu khoa
học lại khá giống nhau. Học họ, nhưng ta chẳng giống ai, có
chăng chỉ là những bề nổi bên ngoài, như các danh hiệu giáo
sư, tiến sỹ, còn cốt lõi bên trong thì theo cách tư duy của
mình.
<h2>Từ chối chuẩn mực phổ quát trong nghiên cứu khoa học</h2>
Ở nước ngoài, chức danh tiến sỹ khẳng định anh đã vượt
qua những đòi hỏi gắt gao về học thuật để có thể bắt
đầu theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, hoặc giảng
dạy đại học. Ở ta, thiếu tấm bằng tiến sỹ chẳng những
không vênh vang được với thiên hạ mà không thể chen chân vào
nhiều chức quan. Có nơi còn quy định 50% cán bộ thuộc thành
ủy quản lý phải có bằng tiến sỹ (TuanVietnam.net, 29/10/2012).
Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, đến năm 2020 Việt Nam phải có
sáu vạn tiến sỹ để đáp ứng quy mô mở rộng hệ thống
đại học với 450 sinh viên trên một vạn dân, không cần biết
hiện có bao nhiêu người hướng dẫn và phòng thí nghiệm đáp
ứng yêu cầu. Cách quy hoạch ngược đời này đang lạm phát
ồ ạt bằng tiến sỹ, thực học không cần, chuẩn mực khoa
học bị gạt bỏ, chưa kể bằng dởm, viết luận án thuê,
đang tràn lan (ANTĐ, 28/10/2012).
Ở nước ngoài, giáo sư phải là người sáng tạo ra tri thức
mới qua hàng loạt công trình được đồng nghiệp khắp nơi
trên thế giới trích dẫn và sử dụng. Ở ta, trong Quy chế bổ
nhiệm giáo sư mới sửa đổi gần đây để tiến gần hơn
đến thông lệ quốc tế vẫn chưa có điểm sàng tối thiểu,
chẳng hạn yêu cầu giáo sư phải có một vài bài báo quốc
tế. Giáo sư ở ta được tính điểm khoa học chủ yếu dựa
trên 900 ấn phẩm nội địa, nhưng chưa có tạp chí nào trong
số này, kể cả những tạp chí tiếng Anh, lọt vào Web of
Knowledge của Thomson Reuter (ISI). Đây là cơ sở dữ liệu chứa
những thông tin cơ bản về các công trình khoa học có phản
biện quốc tế đăng trên một vạn tạp chí hàng đầu, bao
quát mọi ngành khoa học, kỹ thuật, xã hội, nhân văn và nghệ
thuật.
Tuy không đâu quy định chính thức, song ISI được giới khoa
học khắp nơi xem như chuẩn mực, một bộ lọc bảo đảm
chất lượng đội ngũ nghiên cứu khoa học, qua đây khẳng
định chỗ đứng của nhà khoa học trên mặt tiền thế giới.
Các tổ chức quốc tế cũng dựa vào số bài báo có phản
biện quốc tế và số bằng sáng chế để xếp hạng đại
học, trình độ khoa học và năng lực cạnh tranh của các quốc
gia. Cách làm này chưa thể xem là tuyệt hảo, song tương tự
như GDP, tuy còn khiếm khuyết vẫn được dùng làm thước đo
sức mạnh của nền kinh tế. Cho nên né tránh các diễn đàn
khoa học quốc tế chẳng khác nào vận động viên cấp quốc
gia chê đấu trường Olympic.
Mãi gần đây, công bố quốc tế mới được dùng làm căn cứ
để đánh giá các đề tài khoa học cơ bản. Nhưng công bố
quốc tế lại không đòi hỏi đối với các nghiên cứu ứng
dụng, kỹ thuật, xã hội, nhân văn chiếm hầu hết ngân sách
và nguồn nhân lực khoa học của đất nước, lại có tác
động trực tiếp đến quốc kế dân sinh. Các ngành xã hội
nhân văn chiếm ba phần tư số ấn phẩm khoa học nội địa
hầu như không có mặt trên các tạp chí quốc tế. Các kết
quả nghiên cứu này đúng sai đến đâu, rất khó biết. Trong
nhiều thập kỷ gần đây diện mạo khoa học xã hội nhân văn
trên thế giới đã thay đổi hoàn toàn nhờ có sự xâm nhập
của toán học và các khoa học tự nhiên. Nhiều hướng nghiên
cứu đa ngành xuất hiện, khoa học tự nhiên và xã hội đan xen
nhau, không thấy đâu phân chia riêng rẻ như ở ta. Khoa học xã
hội nhân văn của ta đang lạc lỏng khỏi thế giới.
Vì sao cho đến nay các diễn đàn khoa học quốc tế không
được chấp nhận? Trong số các giáo sư được bổ nhiệm mấy
năm gần đây chỉ những người làm Toán và Vật lý có 4-5 bài
báo quốc tế trở lên, đa số những giáo sư nghiên cứu ứng
dụng, kỹ thuật và xã hội, nhân văn chỉ công bố công trình
trong nước. Nhiều người trong số này lập luận rằng nghiên
cứu ứng dụng cốt mang lại lợi ích kinh tế thiết thực,
cần gì những mục tiêu hàn lâm. Lập luận này phù hợp với
quan điểm nhiều người trong giới quản lý và các cơ quan cấp
kinh phí, nên có tác động đến chính sách.
Trên thực tế rất khó đánh giá một công trình nghiên cứu
mang lại "lợi ích kinh tế thiết thực" bằng cách nào (xem
phần sau). Vả lai, trong số hàng triệu công trình nghiên cứu
hàng năm trên thế giới chỉ một số rất ít có tiềm năng
trực tiếp tạo ra những ứng dụng nào đó. Trong khi đó,
nghiên cứu khoa học có sứ mạng tìm ra tri thức mới, mà cái
mới lại rất dễ khẳng định qua bài báo có phản biện quốc
tế. Những khám phá trong khoa học cơ bản là tri thức mới đã
đành, những quy luật tự nhiên, xã hội ở Việt Nam mà thế
giới chưa biết, những phiên bản ứng dụng có thêm phát hiện
mới trong điều kiện cụ thể ở nước ta … vẫn cứ rất
mới với thế giới, miễn là nhà khoa học phải am tường mọi
kết quả nghiên cứu và phương pháp luận hiện đại nhất,
từ đó tìm được chỗ đứng dành cho kết quả nghiên cứu
của mình trên mặt tiền khoa học.
Cũng phải thừa nhận rất khó tìm được chỗ đứng trên mặt
tiền khoa học nếu không có thiết bị nghiên cứu, phòng thí
nghiệm và hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Chính khó khăn này
giải thích tại sao công bố quốc tế của Việt Nam nghiêng
hẳn về Toán và các môn lý thuyết. Số bài báo quốc tế về
khoa học thực nghiệm, ứng dụng và kỹ thuật quá ít, không
tương xứng với quy mô nhân lực và đầu tư, và ít hơn hẳn
các nước xung quanh như Thái Lan, Malaysia.
<h2>Bước đột phá trong chiến lược KH-CN 2011-2020</h2>
Gần đây lãnh đạo Bộ KHCN đã tạo ra bước đột phá rất
đáng mừng, chính thức khẳng định công bố quốc tế là
thước đo năng lực nghiên cứu khoa học của đất nước.
Chiến lược KH-CN 2011-2020 (sau đây gọi tắt là Chiến lược)
nêu rõ mục tiêu (thứ hai) tăng số lượng công bố quốc tế
từ các đề tài sử dụng ngân sách nhà nước trung bình
15-20%/năm. Mục tiêu thứ năm lại ghi rõ đến năm 2020 hình
thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình
độ khu vực và thế giớí.
Tăng số lượng công bố quốc tế 15-20%/năm là mục tiêu hoàn
toàn khả thi, Ngay trong mười năm 2000-2009 chúng ta đã đạt
tốc độ 15-16%/năm, ngang với Thái Lan và Malaysia, chỉ kém Trung
Quốc (20%/năm), nhưng nhanh hơn Philippine và Indonesia (5,7%/năm).
Song số lượng công bố quốc tế chưa phản ảnh đầy đủ
năng lực nghiên cứu và hiệu quả đầu tư cho khoa học của
một quốc gia. Phân tích các công bố quốc tế của Việt Nam
và 11 nước Đông Á cho thấy chất lượng các bài báo (dựa
trên chỉ số trích dẫn trung bình) của Việt Nam còn thấp,
nhiều ngành trực tiếp liên quan đến quốc kế dân sinh chưa
có công bố quốc tế, và phần lớn đồng tác giả Việt Nam
không đóng vai trò chính trong các công trình. Số công trình do
nội lực chỉ chiếm 30%, vào loại thấp nhất khu vực, so với
90% ở Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan (xem bài "A comparative study
of research capability of East Asian countries and implication for Vietnam"
đăng trên Higher Education, Vol. 60, trang 615-625, bản dịch tiếng
Việt trên Tia Sáng, 22/06/2010).
Bước đột phá trong "Chiến lược" sẽ đưa chúng ta thoát
khỏi tình trạng lạc lỏng bấy lâu nay để sớm sánh vai với
các nước, nhanh chóng tiếp cận mặt tiền khoa học. Song muốn
đạt được các mục tiêu trong "Chiến lược" cần có
những đột phá mới để khoa học Việt Nam khỏi bị mắc kẹt
trong những tư duy, cơ chế và cơ cấu tổ chức bất cập hiện
nay.
<h2>Hành chính hóa hoạt động nghiên cứu khoa học </h2>
Chỉ bám vào nguồn kinh phí duy nhất từ ngân sách nhà nước,
lại thiếu chuẩn mực nghiêm túc, hoạt động nghiên cứu khoa
học rơi vào tình trạng hành chính hóa, do các quan chức hành
chính cầm cân nẩy mực. Họ là những người chưa hề nghiên
cứu khoa học, hoặc nếu xuất thân từ giới khoa học, họ sẽ
ném ngay "hòn gạch gõ cửa" sau khi lọt vào chốn quan
trường (Lỗ Tấn, Khổng Phu tử ở Trung Quốc đời nay, bản
dịch Phan Khôi). Đối với nhiều người trong số họ, khoa học
giờ đây chỉ còn là chiếc áo khoác bên ngoài, bên trong là
danh, quyền và tiền, những cạm bẫy rất ít ai thoát khỏi.
Hành chính hóa nghiên cứu khoa học đặt ra luật chơi hành
chính. Đề tài các cấp vận hành theo kiểu hợp đồng kinh tế
như ra đầu bài, đấu thầu, tuyển chon, kiểm tra tiến độ
v.v…Kinh phí được quyết toán dựa trên số ngày công khai báo
cho từng thành viên tham gia, số trang dịch thuật, tiền thuê
mướn nhân công, vật tư, hóa chất tiêu hao v.v… Sản phẩm
phải mục sở thị như quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn nhà
nước, phần mềm, số cơ sở sử dụng các kết quả v.v….
Để được nghiệm thu lại phải có đầy đủ các chứng từ,
hóa đơn thanh toán hợp "lệ". Chỉ có bài báo quốc tế là
không đòi hỏi.
Bởi bài báo quốc tế yêu cầu cao hơn hẳn. Đó là phát hiện
mới (new findings), tính độc đáo (originality), góp phần đẩy
hướng nghiên cứu lên phía trước (significant advances in field)
và phương pháp luận hiện đại (state-of- the art approach). Không
cần hội đồng đông người, chỉ một trong hai phản biện
lắc đầu, bài báo sẽ bị từ chối. Rõ ràng từ đề tài
được Bộ KH-CN nghiệm thu đến bài báo quốc tế được chấp
nhận là một khoảng cách rất xa, đầy thách thức, nhiều
người đành bỏ cuộc vì không còn kinh phí và thời gian, họ
phải lao tiếp vào đề tài mới để tồn tại.
Song những đề tài, luận án nói trên lại được dùng làm căn
cứ bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư. Theo Quy chế, giáo sư phải
hướng dẫn chính ít nhất hai nghiên cứu sinh đã bảo vệ
thành công luận án tiến sĩ, chủ trì ít nhất một đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ hoặc đề tài cấp cao hơn đã
nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên. Các tân
giáo sư sẽ được phân vai mới trong hệ thống hành chính,
chủ trì các đề tài, dự án, chương trình nhà nước, có
tiếng nói nặng cân hơn trong các hội đồng xét duyệt và
nghiệm thu. Cuộc chơi trên sân nhà có thêm vai diễn mới, không
thấy hồi kết.
Hành chính hóa nghiên cứu khoa học bộc lộ nhiều lỗ hổng
làm nơi ẩn chứa cơ chế xin cho, ban phát, vốn là sản phẩm
của thời bao cấp. Thời nay, mỗi đề tài, dự án cấp Bộ
trở lên thường được cấp từ hàng trăm triệu đến hàng
chục tỷ đồng, nên không còn ai ban phát vô tư nữa, kẻ cho
người nhận đều phải biết hành xử theo "luật thị
trường". Có hội đồng khoa học để xét duyệt và nghiệm
thu, nhưng hội đồng lại do chính bộ máy hành chính lập ra
để dễ dàng hợp thức hóa các ý định của mình. Hội đồng
chỉ bàn về học thuật không tham gia xét duyệt kinh phí cho
đề tài, việc này thường được dàn xếp giữa người ban
phát và người nhận. Tiếng nói chính trực thường là thiểu
số và sẽ không có cơ hội trong các lần sau.
Dễ hiểu tại sao nạn gian dối – điều tối kỵ nhất trong
khoa học – lại lên ngôi trong những năm gần đây. Khai gian,
khai khống các khoản chi là chuyện thường tình. Mọi người
đều gian dối nên không ai phải xấu hổ. Bịa số liệu, đạo
văn, thuê viết luận án …, ngày càng phổ biến. Nhóm lợi ích
hình thành qua các đề tài dự án, che chắn nhau rút ruột kinh
phí nhà nước. Phi chuẩn mực và hành chính hóa làm cho môi
trường học thuật ở nước ta ngày một tù mù, vàng thau lẫn
lộn, nghiên cứu khoa học trở nên tùy tiện, đề tài nào,
công trình nào cũng xem là nghiên cứu, hội thảo nào cũng có
thể gán thêm mác khoa học. Báo chí và xã hội không phân biệt
được thực và giả, nhà khoa học đích thực với những
người khoác áo khoa học.
Từ môi trường học thuật này không thể xuất hiện đỉnh cao
mà chỉ có số đông làng nhàng, thiếu chuyên nghiệp. Lao vào
quan trường là con đường tiến thân độc đạo, số người
theo đuổi học thuật đến cùng hiếm dần, thành phần ưu tú
ngày càng vắng bóng trong lãnh đạo các viện nghiên cứu,
trường đại học và ngay ở những cơ quan đầu não về KH-CN.
Rất đông tài năng trẻ được đào tạo bài bản ở nước
ngoài không tìm thấy đất dụng võ khi trở về nước. Thực
trạng này liệu các nhà lãnh đạo có biết?
<h2>Không thành công trong nội địa hóa công nghệ</h2>
Nhà nước có chủ trương nội địa hóa công nghệ, nhưng
thiếu quyết sách. Hàng điện tử và công nghệ cao là mủi
nhọn xuất khẩu, dự kiến đến 2020 kim ngạch lên đến 45%
để minh chứng cho mục tiêu công nghiệp hóa theo hướng hiện
đại của đất nước. Riêng chín tháng đầu năm 2012 kim ngạch
xuất khẩu lên đến 15 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch. Song
phần lớn là sản phẩm từ các doanh nghiệp nước ngoài, và
đằng sau những con số ấn tượng trên là một sự thật ê
chề: "trong mặt hàng này các doanh nghiệp Việt Nam nhập 100%
linh kiện nước ngoài…, phần nội địa hóa chỉ là vỏ
nhựa, thùng các tôn và xốp" (SGGP, 25/9/2012).
Về cơ khí, nội địa hóa công nghiệp ô tô trong hơn hai thập
kỷ qua chỉ đạt vài phần trăm (Vneconomy, 03/07/2012), xem như
thất bại. Công bằng mà nói, thành tích nội địa hóa công
nghệ ấn tượng nhất chính là mấy con tàu trọng tải 50 nghìn
tấn được VINASHIN cho hạ thủy và xuất khẩu. Nhưng VINASHIN
vỡ nợ, gây hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Các học
giả có dịp ném đá vào đống đổ nát mà ít ai quan tâm nhặt
ra từ đó bài học nội địa hóa công nghệ thành công hay
thất bại.
Có nhiều lợi thế hơn VINASHIN, nhưng TKV và EVN cũng không chịu
nội địa hóa công nghệ. Theo Quyết định 167/2007/QĐ- TTg, hàng
chục nhà máy chế biến alumina sẽ được xây dựng từ năm
2007 dến 2025 trên Tây Nguyên, nhưng không có từ ngữ nào nhắc
đến lộ trình nội địa hóa công nghệ, trong khi Việt Nam sở
hữu một tiềm năng bô xít lớn thứ năm thế giới. Chính phủ
cũng không yêu cầu TKV hứa hẹn đến bao giờ sẽ có công
nghệ Việt Nam. Mẻ alumina đầu tiên đang chậm tiến độ hơn
hai năm, và trên thực tế cả đại dự án bô xit đang gặp bế
tắc, chính phủ phải rút quy mô chỉ còn hai nhà máy thí
điểm. Một kết quả nhãn tiền, bởi không chỉ công nghệ, mà
cả khoa học cũng đứng ngoài. Bao nhiêu bài toán kinh tế, kỹ
thuật, môi trường, xã hội … chưa được nghiên cứu thấu
đáo trước khi ra Quyết định.
Hàng chục nhà máy điện chạy than được EVN xây dựng trên
khắp cả nước đều rơi vào tay nhà thầu nước ngoài. Không
biết đến bao giờ mới thấy tua bin và máy phát điện do
người Việt tự chế tạo. Trong khi đó, EVN đi tắt đến
thẳng điện hạt nhân, đề xuất đưa vào vận hành hàng chục
lò phản ứng từ 2020 đến 2030. Nhiều ý kiến phản bác hoặc
đề nghị đình hoãn kế hoạch mạo hiểm này sau khi xảy ra
thảm họa Fukushima. Nhưng chúng đều lọt thỏm trong luồng dư
luận phải làm điện hạt nhân mới có quốc phòng mạnh, mới
có nước Việt Nam hiện đại vào năm 2020.
Thành ra hiện đại hay không là ở người tiêu dùng. Nói nôm
na, với chiếc iphone 5S bên tay lái Mercedes ngày một phổ biến
trên các xa lộ nước ta, người Việt cũng hiện đại không
kém người Mỹ, người Đức. Đó là nhờ ta biết đi tắt đón
đầu, đúng như lời một vị Bộ trưởng dõng dạc thuyết
phục Quốc Hội trước đây ba năm: "xây dựng đường sắt
cao tốc Bắc –Nam chính là phương án đi tắt đón đầu lên
thẳng hiện đại".
<h2>Không có bằng sáng chế</h2>
Không có sản phẩm từ công nghệ Việt Nam, bằng sáng chế
cũng không có nốt. Việt Nam hầu như không có bằng sáng chế
đăng ký ở Mỹ (US Patent and Trademark Office, US PTO). Trong khi đó,
năm 2011 Indonesia và Philippines sở hữu hàng chục bằng, Thái
Lan, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc còn nhiều hơn gấp bội. Báo
chí đổ lỗi cho 9000 giáo sư/ phó giáo sư (VietnamNet, 5/11/2012)
khiến mọi người có dịp mang các vị ra đàm tiếu mà không
biết rằng nghiên cứu khoa học khác nghiên cứu công nghệ.
Sản phẩm nghiên cứu khoa học là tài sản chung cho mọi người
cùng sử dụng, bằng sáng chế là bí quyết công nghệ của
doanh nghiệp được bảo vệ và mua bán thông qua cơ quan đăng
ký. Chính doanh nghiệp, chứ không phải tác giả, phải bỏ
tiền ra để đăng ký bằng sáng chế và hưởng lợi từ việc
mua bán nầy.
Đâu phải làm thơ, nhà khoa học lấy đâu ra bằng sáng chế khi
doanh nghiệp không yêu cầu. Thiếu bằng sáng chế chứng tỏ
trình độ quá thấp của nền công nghiệp nước nhà. Chúng ta
chỉ du nhập công nghệ từ nước ngoài để sản xuất, mà
không nội địa hóa để có công nghệ của mình. Nếu cần thay
thế công nghệ, doanh nghiệp sẽ đi mua, hơn là đầu tư nghiên
cứu.
<h2>Tư duy ăn xổi </h2>
Dù sao, thiếu bằng sáng chế cũng đặt ra dấu hỏi về tính
thiết thực và hiệu quả của nghiên cứu khoa học. Ở Việt
Nam hai thuật ngữ khoa học và công nghệ luôn gắn với nhau,
thậm chí đồng nhất với nhau trong cùng một khái niệm như
thị trường khoa học công nghệ, hội chợ khoa học công nghệ
v.v… Chính sự nhập nhằng này trong tư duy làm cho nghiên cứu
công nghệ đích thực vẫn là bãi đất trống. Đây là hệ
quả của tư duy ăn xổi, muốn nghiên cứu khoa học phải cho ra
ngay sản phẩm trên thị trường.
Khoa học và công nghệ hỗ trợ lẫn nhau, nghiên cứu khoa học
tạo ra mảnh đất cho công nghệ phát triển, và ngước lại.
Tuy nhiên ngay trong số hàng triệu bài báo khoa học công bố
hàng năm trên thế giới, rất ít công trình có tiềm năng tạo
ra công nghệ hay dịch vụ. Nếu có, còn phải trải qua nhiều
khâu, đòi hỏi thời gian, công sức và kinh phí. Kết quả
nghiên cứu phải được kiểm nghiệm và củng cố bằng nhiều
nghiên cứu mới tiếp theo, bảo đảm chất lượng (QA),
prototype, quy mô pilot, thử sai (trial by error) nhiều lần trước
khi đưa ra ứng dụng. Tư duy ăn xổi bỏ qua các khâu quan trọng
này, nên nghiên cứu khoa học sinh ra những đứa trẻ đẻ non,
chết yểu, làm thất thoát nguồn kinh phí lớn của nhà nước.
Bao nhiêu đề tài chế tạo thiết bị với tính năng "chẳng
kém nước ngoài", nhưng chỉ là đơn chiếc mang trưng bày ở
triển lãm, hội chợ, sau vài năm mất hút. Số trẻ đẻ non,
chết yểu này nhiều lắm, cứ chọn ra một số đề tài, dự
án lớn được Bộ KHCN nghiệm thu từ 5 đến 10 năm trước
đây sẽ thấy ngay.
Tư duy ăn xổi không thể tạo ra những đỉnh cao khoa học,
những hướng nghiên cứu mũi nhọn có thể sớm bứt phá lên
mặt tiền khoa học thế giới. Các quan chức muốn thấy thành
tích ngay trong nhiệm kỳ của mình, lại phải ban phát, rải
đều quả thực cho mọi người, năm nay anh có đề tài, sang
năm đến lượt anh khác, người làm khoa học giống như dân du
canh, không chuyên sâu vào một hướng nhất định. Trong khi đó,
khoa học phát triển được nhờ tích lũy và kế thừa, công
trình đẻ ra công trình, thành công lẫn thất bại trong công
trình trước đều để lại dấu ấn trong các công trình sau.
Biết tích lũy và kế thừa, tri thức sẽ tăng tốc theo cấp
số nhân, được lưu lại trong đầu con người qua các thế
hệ, trở thành một dạng chứng khoán (stock) của các doanh
nghiệp, thành truyền thống của phòng thí nghiệm và hình hài
của nền khoa học.
Qua cơ chế tích lũy và kế thừa, người tài mới xuất hiện,
người khác đứng trên vai họ (stand on the shoulder of giants) để
nhìn rõ chân trời phía trước. Nhờ đó các nhóm nghiên cứu
mạnh được hình thành và phát triển, các thế hệ khoa học
sinh ra và trưởng thành nối tiếp nhau. Theo "Chiến lược",
năm 2020 nước ta sẽ có 60 nhóm nghiên cứu mạnh. Hy vọng họ,
và những người lãnh đạo của họ, sẽ làm nên hình hài nền
khoa học nước nhà. Thế giới sẽ biết khoa học Việt Nam qua
họ. Các thế hệ tương lai sẽ nhớ đến thế hệ hiện nay qua
các công trình khoa học của họ.
<h2>Mấy bước đột phá thay lời kết</h2>
Chỉ cần cố gắng làm giống như các nước khác, KH-CN Việt
Nam sẽ thoát ra khỏi tình trạng hiện nay. Nghiên cứu khoa học
chỉ được xem là đích thực khi tìm ra tri thức mới. Những
người cầm quân, như giáo sư, chỉ được bổ nhiệm khi có
chỗ đứng nhất định trên mặt tiền khoa học. Công bố quốc
tế phải được dùng làm thước đo thay cho các chuẩn mực
hành chính. Làm được những việc này sẽ tạo ra bước đột
phá lớn đẩy lùi tệ nạn xin cho, ban phát và những tiêu cực
trong môi trường học thuật hiện nay.
Sản phẩm nghiên cứu khoa học là đỉnh cao văn hóa, làm tăng
vốn tri thức của đất nước, tác động đến chính sách và
nâng cao mặt bằng dân trí, từ đó tạo nên sức mạnh tác
động đến phát triển kinh tế xã hội. Trường đại học là
nơi gánh vác tốt nhất sứ mạng này. Từ trường đại học
tri thức khoa học lan tỏa ra cộng đồng, do đó phải tạo
điều kiện tốt nhất để sinh viên – những người lan tỏa
tri thức – được tiếp thu tri thức mới trực tiếp từ
những nhà khoa học có chỗ đứng trên mặt tiền khoa học.
Nghĩa là phải ưu tiên tập trung nghiên cứu khoa học về các
trường đại học và xây dựng lên tại đây những nhóm nghiên
cứu mạnh. Chúng ta đã bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội rồi, giờ
đây không được chậm trễ nữa.
Nghiên cứu công nghệ khác với nghiên cứu khoa học và cần có
chỗ đứng trong phát triển kinh tế. Nên cho qua đi niềm tự
hào Việt Nam là nơi thu hút vốn FDI, ODA nhiều nhất, thị
trường bán lẻ hấp dẫn nhất…. Không thể mãi mãi làm
người tiêu thụ mà phải bước lên bục cao hơn của những
người tạo ra tiện ích cho xã hội. Con đường duy nhất là
nội địa hóa công nghệ, sau đó tiến lên đổi mới để
cạnh tranh. Cho nên rất cần một quyết sách từ phía nhà
nước, đừng để doanh nghiệp mãi chạy theo lợi nhuận trước
mắt mà quên lợi ích lâu dài của dân tộc. Và sau quyết sách
là tầm nhìn và trách nhiệm của những nhà lãnh đạo KH-CN.
Bởi tìm ra cách đi hợp lý trước trăm bề ngổn ngang hiện
nay, thật không dễ chút nào.
P.D.H.
___________________
[*] Mời đọc thêm: – <a title="Nguy cơ thiếu điện nghiêm
trọng sau 2020 là lý do cơ bản khiến Quốc Hội phải cấp tốc
phê duyệt dự án xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân (ĐHN)
tổng công suất 4000 MW do Bộ Công thương trình lên hồi tháng
11 năm 2009. Theo Bộ Công thương, vào năm 2020 sau khi đã khai
thác hết các nguồn cổ điển như than, dầu, khí và thủy
điện, chúng ta sẽ thiếu 115 tỷ kWh, một sản lượng điện
rất lớn, tương đương với khả năng cung ứng của toàn bộ
hệ thống hiện nay. Mà đây là phương án phụ tải cơ bản.
Với phương án phụ tải cao cũng được trình lên Quốc Hội
xem xét lúc bấy giờ, con số thiếu hụt còn lên đến 226 tỷ
kWh."
href="https://anhbasam.wordpress.com/2012/05/23/1023-quoc-hoi-phai-lam-gi-khi-ra-nghi-quyet-dua-tren-nhung-bang-chung-khong-dung/"
target="_blank" rel="bookmark">1023. Quốc Hội phải làm gì khi ra
nghị quyết dựa trên những bằng chứng không đúng</a>;
– <a title="Gần đây, trả lời phỏng vấn báo
Người Lao động, ông Đào Văn Hưng -Tổng Giám đốc Tổng cục
Điện lực (EVN) cho biết năm 2020 Việt Nam phải cần đến 200
tỷ kWh điện, nhưng các nguồn nội địa truyền thống chỉ có
thể cung cấp được 150 tỷ. Chỗ thiếu hụt 50 tỷ kWh đã
được một số người trong nước và các công ty nước ngoài
ra sức thuyết phục dân ta dùng giải pháp điện hạt nhân
(ĐHN), mặc dù trong bài phỏng vấn của mình, người đứng
đầu EVN lại không nhắc gì đến giải pháp này. Phải chăng
một quyết sách tối hệ trọng và đầy nhạy cảm như ĐHN
(trong khi bao nhiêu nước phải bỏ cuộc giữa chừng!) lại có
thể căn cứ trên những con số dự báo khá bất định đó!
Vả lại, EVN đã dự báo một nhu cầu điện năng quá cao. Thật
rất khó hiểu tại sao so với các nước trên thế giới dân
Việt Nam ta lại xài quá nhiều điện đến thế? Mà xài nhiều
điện đâu phải là văn minh! "
href="http://tailieu.tapchithoidai.org/PDHien_2020VN.htm"
target="_blank">Năm 2020 Việt Nam chỉ cần 100 tỉ kWh
điện!</a> (TC Thời đại/TBKTSG, 8/7/2004). - <a
title="Nhắc đến vụ Chernobyl, đôi mắt GS Phạm Duy Hiển
đượm buồn. Còn nhớ, ông đã từng nói trên một tờ báo
mạng, thảm họa Chernobyl là một nỗi ám ảnh nặng nề. Nó là
đêm hôm trước của một thể chế sụp đổ vì để cho xã
hội xuống cấp khiến kỷ cương trong một ngành công nghiệp
như điện hạt nhân không còn được đặt lên vị trí hàng
đầu. "
href="http://www.baomoi.com/Home/TheGioi/bee.net.vn/GS-Pham-Duy-Hien-noi-ve-dien-hat-nhan/3448075.epi"
target="_blank">GS Phạm Duy Hiển nói về điện hạt
nhân</a> (Bee, 5/11/2009). - <a title=""Trong điều
kiện Việt Nam chưa có bất cứ lợi thế nào để làm Điện
hạt nhân (ĐHN), nên lùi thời điểm bắt đầu xây dựng nhà
máy ĐHN 10 năm để tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng về
nhân lực, tài chính, cơ sở hạ tầng về công nghiệp" – GS
Phạm Duy Hiển trả lời phóng vấn báo Văn nghệ Trẻ."
href="http://bee.net.vn/channel/2981/201106/GS-Pham-duy-Hien-Nen-lui-thoi-diem-lam-dHN-10-nam-1801472/"
target="_blank">GS Phạm Duy Hiển: <strong>Nên lùi thời điểm
làm ĐHN 10 năm</strong></a> (Bee, 6/6/2011). – <a title="LTS:
Nhận 100 ngày Fukushima và 100 năm khoa học hạt nhân, GS chuyên
ngành hạt nhân Phạm Duy Hiển đã có thư ngỏ gửi Thủ tướng
Naoto Kan. Bee.net.vn xin đăng tải toàn bộ nội dung bức thư
này."
href="http://bee.net.vn/channel/2981/201106/Thu-ngo-cua-GS-Pham-duy-Hien-gui-Thu-tuong-Naoto-Kan-1803163/"
target="_blank">Thư ngỏ của GS Phạm Duy Hiển gửi Thủ tướng
Naoto Kan</a> (Bee, 23/6/2011). – <a title="GS Phạm Duy Hiển
"Tôi chờ họ bắt tôi ".wmv "
href="http://www.youtube.com/watch?v=HHz9AHX_dcU" target="_blank">GS Phạm
Duy Hiển "Tôi chờ họ bắt tôi "</a> (Mr.LeCongNhan/YouTube,
19/7/2011). - <a title="Ta phải xuống đường vì không còn
cách nào khác để biểu thị thái độ của mình trong cái thế
chông chênh hiện nay của đất nước. Xuống đường để phản
đối những hành động gây hấn trên biển Đông, cũng là để
tri ân những người đã và đang bám biển, bám đảo vì từng
tấc đất thiêng do cha ông để lại. "
href="http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/gs-pham-duy-hien-ta-chi-yeu-nuoc-khi.html"
target="_blank">GS PHẠM DUY HIỂN: TA CHỈ YÊU NƯỚC KHI CHỊU HY
SINH CHO ĐẤT NƯỚC</a> (Nguyễn Xuân Diện, 25/7/2011).
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20121120/pham-duy-hien-khoa-hoc-viet-nam-mac-ket-trong-phi-chuan-muc-hanh-chinh-hoa-va-tu),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét