<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhM2DxOGlmWOXmWnsCawmj2r56O_Bx72RK7TdVaDWxWa4pmB40DUrmFJZOs8TqQ0mVpBFHo4WHj5L639ROmm8vzN9hKgTaFzfYtKDZpxhKng-o3eniEHQmDY_5iiBVmyty-QVbu9DhjBDc/s640/13.jpg"
/></center>
<div class="special_quote"><strong>Tin liên quan:</strong>
<ul>
<li><a
href="http://danoan2012.blogspot.dk/2012/10/tin-nong-hon-500-nong-dan-van-giang-va.html">Tin
nóng - hơn 500 nông dân Văn Giang và Dương nội bao vây 46 Tràng
thi - trụ sở của Trung ương MTTQ!</a></li>
</ul></div>
<center>CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—-***—–</center>
<div class="rightalign"><i> Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2012</i></div>
<center><h2 >BẢN Ý KIẾN CỦA LUẬT SƯ TRẦN VŨ HẢI</h2></center>
<center><b><i>Về Bản giải đáp của Bộ Tài nguyên và Môi
trường liên quan đến Kiến nghị của một số công dân huyện
Văn Giang – Hưng Yên *</i></b></center>
<b><i>Kính gửi</i></b><b>: Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi
trường (Bộ TN-MT)</b>
Chúng tôi – những luật sư đang trợ giúp pháp lý cho những
hộ dân tại Văn Giang – Hưng Yên do việc họ bị thu hồi
đất, liên quan đến dự án Ecopark – đã nhận được Công
văn số 3458/BTNMT-TCQLĐĐ <i>v/v một số nội dung liên quan đến
kiến nghị của một số công dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng
Yên vào ngày 03/10/2012</i>, kèm theo Bản giải đáp. Chúng tôi
đánh giá cao thiện chí của Bộ TN-MT, tuy nhiên chúng tôi nhận
thấy những nội dung giải đáp của Quý Bộ chưa rõ ràng, chưa
đúng pháp luật, có phần lẩn tránh trách nhiệm và chưa cung
cấp đủ tài liệu theo yêu cầu của các hộ dân. Trước khi
có những ý kiến về từng vấn đề trong nội dung Bản giải
đáp, chúng tôi xin nhấn mạnh những nội dung sau:
<ol >
<li><b><i>1. </i></b><b><i>Các quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg
năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến Dự án
Ecopark được ban hành không đúng thẩm quyền, có nhiều nội
dung trái pháp luật đất đai.</i></b></li>
<li><b><i>2. </i></b><b><i>Bộ TN-MT chịu trách nhiệm chính trong
việc tham mưu sai cho Thủ tướng trong việc ban hành 02 quyết
định trên, đã làm trái chức năng, nhiệm vụ của mình
được quy định tại NĐ 91/2002/NĐ-CP, khi thẩm tra đã không
phát hiện UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện trái trình tự Điều
23 Nghị định 04/2000/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo
Điều 10 của Nghị định 66/2000/NĐ-CP).</i></b></li>
<li><b><i>3. </i></b><b><i>Hai dự án liên quan tại Văn Giang không
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của
pháp luật và Quy hoạch đã được duyệt tại thời điểm năm
2004 (UBND tỉnh Hưng Yên chưa đủ thẩm quyền phê duyệt 02 dự
án này). </i></b></li>
<li><b><i>4. </i></b><b><i>Người dân không có trách nhiệm phải thi
hành một quyết định thu hồi đất mà không ghi tên họ, diện
tích đất của họ bị thu hồi, và không được giao cho
họ.</i></b></li>
<li><b><i>5. </i></b><b><i>Việc cưỡng chế và hỗ trợ thi công
của Chính quyền địa phương tại Hưng Yên rõ ràng trái pháp
luật.</i></b></li>
</ol>
Sau đây là những bình luận về từng phần giải đáp của Bộ
TN-MT:
<i>Câu hỏi 1: Toàn văn Tờ trình số 14/TTr-BTMMT ngày 12/3/2004 và
Tờ trình số 99/TTr-BTNMT ngày 29/06/2004 gửi Thủ tướng Chính
phủ (liên quan đến các Quyết định 303/QĐ–TTg ngày 30/03/2004
và Quyết định số 742/QĐ – TTg ngày 30/06/2004 của Thủ
tướng Chính phủ)</i>
<b><i>Trả lời: Bộ TN-MT sao toàn văn nội dung 02 Tờ trình số
14/TTr.BTNMT ngày 12/03/2004 và số 99/TTr.BTNMT ngày 29/06/2004 gửi
đến Văn phòng luật sư đại diện cho các hộ dân.</i></b>
<b>Bình luận: </b>
<ol >
<li><b>a. </b>Văn phòng Bộ TN-MT đã đóng dấu xác nhận sao y vào
trang cuối của từng bản sao từ 02 Tờ trình này, nhưng không
xác nhận sao y vào các trang đầu của từng bản sao, khiến
đại diện những hộ dân Văn Giang nghi ngờ về tính xác thực
của bản sao 02 Tờ trình (có dấu hiệu bị sửa chữa). </li>
<li><b><i>b. </i></b><b>Về nội dung 02 Tờ trình này, đại diện
những hộ dân Văn Giang cho biết sẽ gửi dự thảo đơn tố
cáo ông Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng Bộ TN-MT đã
thiếu trách nhiệm, làm sai khi ký vào những Tờ trình
này</b>.</li>
</ol>
<i>Câu hỏi 2: Tại sao Bộ TN–MT trình Thủ tướng Chính phủ
Tờ trình số 99/TTr-BTNMT ngày 29/06/2004 ngay trước khi Luật
Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung những năm 1998, 2001)
hết hiệu lực? Việc trình này có theo đúng thủ tục hành
chính hay được rút ngắn công đoạn để có lợi cho chủ
đầu tư (đề nghị Quý Bộ kiểm tra văn thư việc đi đến
của công văn liên quan từ UBND tỉnh Hưng Yên đến Quý Bộ và
tờ trình của Quý Bộ đến Thủ tướng Chính phủ)?</i>
<b><i>Trả lời: Việc Bộ TN-MT thực hiện xử lý hồ sơ và có
Tờ trình số 99/ TTr.BTNMT ngày 29/06/2004 trình Thủ tướng Chính
phủ có quá trình từ tháng 10/2003 đến tháng 06/2004, đảm bảo
theo đúng quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ
tướng Chính phủ, cụ thể như sau:</i></b>
<b><i> + Dự án xây dựng tuyến đường từ cầu Thanh Trì đi
thị xã Hưng Yên đoạn từ huyện Văn Giang đến Dân Tiến –
Khoái Châu đã được Thủ tướng Chính phủ cho chủ trương
tại Công văn số 1495/CP-NN ngày 31/10/2003 bằng phương thức sử
dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ
tầng;</i></b>
<b><i> + Về dự án sử dụng quỹ đất: Dự án Khu đô thị
Thương mại-du lịch Văn Giang đã được lập và trình duyệt
theo quy định của pháp luật: Bộ Xây dựng thỏa thuận về quy
hoạch xây dựng tại Công văn số 299/BXD-QH ngày 15/03/2004; Bộ
Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH&ĐT) góp ý Báo cáo nghiên cứu
khả thi dự án tại Công văn số 3796/BKH/TĐ&GSĐT ngày
18/06/2004; Bộ Tài chính có ý kiến tại Công văn số 4878/TC-QLCS
ngày 10/05/2004 về việc xác định giá đất giao cho nhà đầu
tư khi thực hiện dự án; UBND tỉnh Hưng Yên có Quyết định
số 632/QĐ-UB ngày 25/03/2004 về việc phê duyệt Quy hoạch chung
xây dựng KĐT Thương mại – Du lịch Văn Giang đến năm
2020.</i></b>
<b><i> Việc thực hiện của Bộ Tài nguyên và Môi trường
đúng trình tự, thủ tục hành chính.</i></b>
<b>Bình luận: </b>
<ol >
<li>Chưa bao giờ, doanh nghiệp và nhân dân thấy Bộ TN-MT thực
hiện thủ tục thẩm định với tốc độ chóng mặt như vậy
(ngày 28/06/2004 nhận Tờ trình của UBND tỉnh Hưng Yên, ngày
29/06/2004 Thứ trưởng Đặng Hùng Võ ký Tờ trình gửi Thủ
tướng, ngày 30/06/2004 Thủ tướng ký Quyết định
742/QĐ-TTg).</li>
<li>Trong khi bản Kiến nghị kèm theo 12 câu hỏi của luật sư
và những đại diện hộ dân Văn Giang gửi Bộ TN-MT từ ngày
20/06/2012, qua đối thoại 21/08/2012 đến 26/09/2012 Thứ trưởng
Bộ TN-MT ký văn Bản giải đáp và VPLS Trần Vũ Hải nhận văn
bản này vào ngày 03/10/2012.</li>
<li> Nội dung Tờ trình số 99/TTr.BTNMT ngày 29/06/2004 có rất
nhiều điểm trái và không phù hợp pháp luật tại thời điểm
đó (chúng tôi sẽ phân tích dưới đây, ngoài ra đề nghị xem
nội dung dự thảo đơn tố cáo của đại diện những hộ dân
Văn Giang). Việc làm trên không thể coi là thực hiện đúng
trình tự thủ tục hành chính, mà cần phải coi là cố ý làm
ẩu, làm gấp để tránh Luật đất đai 2003 (có hiệu lực từ
01/7/2004) phục vụ lợi ích của Chủ đầu tư, vì theo Luật
đất đai 2003 không còn quy định về<i> đổi đất lấy hạ
tầng.</i></li>
</ol>
<i>Câu hỏi 3: Tại sao Bộ TN–MT không đệ trình và tham mưu
Chính phủ thông qua những vấn đề nêu tại Quyết định
303/QĐ – TTg ngày 30/03/2004 và Quyết định số 742/QĐ – TTg
ngày 30/06/2004? Vì theo quy định của Luật Đất đai 1993
(được sửa đổi, bổ sung những năm 1998, 2001), những nội
dung này thuộc thẩm quyền của Chính phủ, không thuộc thẩm
quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ.</i>
<b><i>Trả lời: Bộ TN-MT trình Thủ tướng Chính phủ là căn
cứ vào Quy chế hoạt động của Chính phủ</i></b>
<b>Bình luận: </b>
<ol >
<li><b>a. </b>Chúng tôi không thấy có văn bản nào ở Việt Nam
có tên gọi <b><i>Quy chế hoạt động của Chính phủ.
</i></b>Nếu Bộ TN-MT khẳng định có, cho biết văn bản đó số
bao nhiêu và được ban hành ngày tháng năm nào? Nếu không có
văn bản này,<b> yêu cầu Bộ TN-MT xin lỗi Chính phủ và những
hộ dân Văn Giang vì đã sáng tác ra văn bản này.</b></li>
<li><b><i>b. </i></b>Tại thời điểm năm 2004, có <b><i>Quy chế làm
việc của Chính phủ </i></b>đang có hiệu lực được ban hành
kèm theo Nghị định số 23/2003/NĐ-CP ngày 12/03/2003 của Chính
phủ, chúng tôi đã nêu trong các tài liệu gửi Bộ TN-MT.</li>
<li><b><i>c. </i></b>Tại điều 2 của Quy chế này quy định:</li>
</ol>
<b><i>" 1. Trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm được pháp
luật quy định, Chính phủ quyết nghị tập thể những công
việc sau đây</i></b>: ….<i>l) Những vấn đề khác mà pháp
luật quy định thuộc thẩm quyền của Chính phủ…".</i>
Quy định tại Điều 6 của Quy chế này – <b><i>Phạm vi giải
quyết công việc của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính</i></b><b><i> phủ:</i></b>
<b><i>"1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ giải quyết các công việc sau
đây:</i></b>
<b><i> …b. Giải quyết hoặc xem xét để trình Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ giải quyết theo thẩm quyền những đề nghị
của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân… về những vấn
đề thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý nhà nước của
mình…" </i></b>
Như vậy, Bộ trưởng Bộ TN-MT khi xem xét soạn thảo các tờ
trình phải xác định thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ đối với nội dung cần giải quyết. Đây là 02
định chế khác nhau, các quan chức cao cấp không thể nhầm
lẫn được.
<ol >
<li><b><i>d. </i></b>Về thẩm quyền quyết định nêu tại 02
Quyết định nêu trên:</li>
</ol>
(i) Quyết định 303/QĐ-TTg ngày 30/03/2004 có nội dung phê duyệt
điều chỉnh bổ sung kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm
(2001-2005) tỉnh Hưng Yên. Theo Điều 18 Khoản 2 Luật đất đai
1993 (được sửa đổi, bổ sung những năm 1998, 2001) quy định:
"<i>Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đai của
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: kế
hoạch sử dụng đất đai 5 năm và kế hoạch điều chỉnh, bổ
sung hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương…"</i> . <b><i>Như vậy, Luật quy định thẩm quyền
phê duyệt này thuộc Chính phủ, không thuộc Thủ tướng Chính
phủ.</i></b>
(ii) Quyết định 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 về việc giao đất
để thực hiện dự án xây dựng đường từ cầu Thanh Trì đi
thị xã Hưng Yên đoạn từ huyện Văn Giang đến xã Dân Tiến,
huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng
quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Theo Điều
23 khoản 1 điểm a Luật Đất đai trên ghi: "<i>Chính phủ
quyết định giao đất trong các trường hợp sau đây:</i>
<i>a) </i><i>Giao đất có thu tiền sử dụng đất để tạo vốn
xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án" </i>
<b><i>Như vậy, Chính phủ có thẩm quyền quyết định giao đất
trong trường hợp này, Thủ tướng Chính phủ không có thẩm
quyền này.</i></b>
<ol >
<li><b><i>e. </i></b>Trong buổi đối thoại ngày 21/08/2012, đại
diện Bộ TN-MT có nêu Nghị định 04/2000/NĐ-CP về hướng dẫn
Luật (ban hành năm 1998) sửa đổi, bổ sung Luật đất đai 1993,
để xác định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Chúng
tôi đã nêu Nghị định 66/2001/NĐ-CP sửa đổi Nghị định
04/2000 nêu trên và hướng dẫn Luật (ban hành năm 2001) sửa
đổi, bổ sung Luật đất đai 1993, trong đó đã sửa đổi
những thẩm quyền trên thuộc Chính phủ, không còn thuộc thẩm
quyền Thủ tướng Chính phủ. <b><i>Lẽ ra Bộ TN-MT phải nhận
thức rõ điều này, để nhận trách nhiệm đã tham mưu sai cho
Thủ tướng Chính phủ khi ký những Tờ trình trên đến Thủ
tướng Chính phủ. Đúng ra, Bộ TN-MT phải xác định những
nội dung này thuộc thẩm quyền của Chính phủ và phải gửi
Tờ trình đến Chính phủ.</i></b></li>
<li>Chúng tôi xin lưu ý thêm, theo NĐ 91/2002/NĐ-CP quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN-MT
có hiệu lực từ ngày 11/11/2002, Bộ TN-MT không có nhiệm vụ
trình Thủ tướng Chính phủ những quyết định có nội dung
như 02 quyết định trên. Nghị định này quy định rõ tại
Điều 2 khoản 5 điểm b, c:</li>
</ol>
<b><i>"…..</i></b><i>b) <b>Thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai</b> của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai vào mục
đích quốc phòng, an ninh của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an
<b>trình Chính phủ xét duyệt</b>;</i>
<i>c) <b>Trình Chính phủ quyết định giao đất, thu hồi đất
trong các trường hợp thuộc thẩm quyền của Chính
phủ;…."</b></i>
<br />
<i>Câu hỏi 4: Dựa vào quy hoạch nào và được cơ quan có thẩm
quyền nào phê duyệt, Bộ TN–MT tham mưu cho Thủ tướng Chính
phủ ban hành 02 quyết định nêu trên? Nếu có quy hoạch đó,
đề nghị Bộ TN–MT cung cấp. Nếu không có quy hoạch nào,
đề nghị Quý Bộ giải thích.</i>
<b><i>Trả lời:</i></b>
<b><i>Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại
Công văn số 1495/CP-NN ngày 31/10/2003 của Chính phủ, UBND tỉnh
Hưng Yên đã phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng KĐT Thương
mại – Du lịch Văn Giang đến năm 2020 tại Quyết định số
632/QĐ-UB ngày 25/03/2004; Bộ TN-MT trình Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định 303/QĐ-TTg ngày 30/03/2004 về việc phê
duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất đai 5
năm (2001-2005) tỉnh Hưng Yên phù hợp với quỹ đất đã xác
định trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của tỉnh
Hưng Yên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định 438/QĐ-TTg ngày 04/06/2002.</i></b>
<b><i>Trên cơ sở đề nghị của UBND tỉnh Hưng Yên, Bộ TN-MT
đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 phù hợp với điều chỉnh, bổ sung kế
hoạch sử dụng đất đai 5 năm (2001-2005) tỉnh Hưng Yên; đồng
thời căn cứ chủ trương đã được Thủ tướng Chính phủ
chấp thuận tại Công văn số 1495/CP-NN ngày 31/10/2003, Quy hoạch
chung xây dựng KĐT Thương mại – Du lịch Văn Giang đến năm
2020 đã được UBND tỉnh Hưng Yên phê duyệt tại Quyết định
số 632/QĐ-UB ngày 25/03/2004 (có bản sao quyết định gửi kèm
theo).</i></b>
<b><i>Bình luận:</i></b>
<b><i>a. </i></b><b>Đối với quyết định 303/QĐ-TTg</b>
<b>(i) </b>Theo Bộ TN-MT, dựa trên Quy hoạch chung xây dựng KĐT
Thương mại – du lịch Văn Giang do UBND tỉnh Hưng Yên phê
duyệt, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 303/QĐ-TTg.
Rõ ràng, Bộ TN-MT đã nhầm lẫn giữa Quy hoạch sử dụng đất
đai và Quy hoạch xây dựng
<b><i>(ii) </i></b>Bộ TN-MT cho rằng Quy hoạch chung xây dựng trên
phù hợp với quỹ đất đã xác định trong quy hoạch sử dụng
đất đến năm 2010 của tỉnh Hưng Yên được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 438/QĐ-TTg ngày 04/06/2002.
Tuy nhiên, trong Tờ trình số 14/TTr-BTNMT không khẳng định như
vậy, mà cho rằng <i>các dự án nêu trên chưa có trong Kế
hoạch sử dụng đất 5 năm (2001-2005) tỉnh Hưng Yên đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 858/QĐ-TTg
ngày 27/09/2002.</i>
<b><i>(iii) </i></b>Mặc dù chúng tôi yêu cầu Bộ TN-MT cung cấp
văn bản về Quy hoạch theo Quyết định 438/QĐ-TTg, nhưng Bộ
TN-MT đã không cung cấp văn bản này. Theo Nghị định
68/2001/NĐ-CP về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phải
có <i>Bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai, bản đồ quy
hoạch sử dụng đất đai, bản đồ kế hoạch sử dụng đất
đai 5 năm và các bản đồ chuyên đề </i>khi xét duyệt Quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. <b>Theo chúng tôi <i>Bản
đồ quy hoạch sử dụng đất đai </i>kèm theo Quy hoạch sử
dụng đất đai tỉnh Hưng Yên được ban hành theo Quyết định
438/QĐ-TTg sẽ làm rõ KĐT Thương mại – du lịch Văn Giang có
được quy hoạch thành đất đô thị hay không?</b>
<b><i>(iv) </i></b>Các hộ dân Văn Giang đều khẳng định vào
thời điểm 2002-2003, họ được khuyến khích chuyển từ đất
trồng lúa sang trồng cây cảnh có giá trị cao. Trong Quyết
định của UBND tỉnh Hưng Yên số 1613/QĐ-UB ngày 21/08/2003 v/v
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội
huyện Văn Giang giai đoạn 2001-2010 và định hướng đến năm
2020 không có nội dung hình thành một khu đô thị có quy mô
tới 500 ha như KĐT Thương mại – Du lịch Văn Giang.
<b><i>(v) </i></b>Điều 2 phần IV Thông tư 1842/2001/TT-TCĐC hướng
dẫn Nghị định 68/2001/NĐ-CP nêu trên quy định:
<i>"2. Nội dung thẩm định kế hoạch sử dụng đất đai.</i>
<i>a. Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất đai với
quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương:</i>
<i>b. Mức độ phù hợp giữa kế hoạch sử dụng đất đai
với quy hoạch sử dụng đất đai."</i>
Bộ TN-MT trong Tờ trình số 14/TTr.BTNMT nêu trên đã không thẩm
định 02 vấn đề trên, không nêu Quy hoạch sử dụng đất đai
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định
438/QĐ-TTg.
<b><i>(vi) </i></b>Tóm lại, <b><i>quyết định 303/QĐ-TTg thực tế
không nêu căn cứ quy hoạch nào và có nội dung không phù hợp
với quy hoạch sử dụng đất đai và quy hoạch phát triển kinh
tế – xã hội đã được phê duyệt trước đó</i></b>. Bộ
TN-MT phải chịu trách nhiệm về việc đã tham mưu sai và cẩu
thả này cho Thủ tướng Chính phủ.
b. <b>Đối với Quyết định 742/QĐ-TTg</b>
(i) Tương tự như vậy, QĐ 742/QĐ-TTg không nêu căn cứ Quy
hoạch sử dụng đất tỉnh Hưng Yên đến năm 2010 (đã được
phê duyệt tại Quyết định 438/QĐ-TTg ngày 04/06/2002).
<i>(ii) </i>Không thể chấp nhận quyết định giao đất của
Thủ tướng Chính phủ dựa trên Quy hoạch về xây dựng do cấp
tỉnh ban hành (mà quy hoạch đó cũng không dựa trên Quy hoạch
sử dụng đất đai đã phê duyệt).
<i>(iii) </i>Đối với tuyến đường từ cầu Thanh Trì đi thị
xã Hưng yên đoạn từ huyện Văn Giang đến xã Dân Tiến,
huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên không nằm trong quy hoạch phát
triển giao thông nêu tại <i>Quyết định số 162/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát
triển ngành giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định 2987/QĐ-UB
của UBND tỉnh Hưng Yên v/v phê duyệt quy hoạch tổng thể phát
triển giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên đến năm 2010.</i>
c. Mặc dù vậy, chúng tôi ghi nhận Bộ TN-MT bằng việc giải
đáp câu hỏi này đã thừa nhận không có việc những quyết
định trên được ban hành dựa vào <i>những quy hoạch phát
triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, quy hoạch vùng Thủ
đô và quy hoạch tổng thể tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang,
</i>như một số cơ quan, chính quyền, báo chí đưa tin, vì
<b>tại thời điểm ban hành không có những quy hoạch đó hoặc
dự án liên quan không phù hợp với những quy hoạch có hiệu
lực tại thời điểm đó.</b>
<i>Câu hỏi 5: Đề nghị Quý Bộ cho biết 02 Quyết định này
của Thủ tướng là quyết định hành chính hay văn bản quy
phạm pháp luật? Nếu là quyết định hành chính có giá trị
buộc thi hành đối với các hộ dân tại sao không được giao
trực tiếp cho họ ngay sau khi ban hành? Nếu là văn bản quy
phạm pháp luật tại sao lại không đăng tải trên công báo theo
quy định của pháp luật? (Nếu Quý Bộ không trả lời được
nội dung này, đề nghị tham khảo ý kiến của Văn phòng Chính
phủ và/hoặc ý kiến của Bộ Tư pháp).</i>
<b><i>Trả lời: Vấn đề này không thuộc chức năng, nhiệm vụ
của Bộ TN-MT, đề nghị VPLS chuyển câu hỏi đến Bộ Tư pháp
để được trả lời.</i></b>
<b><i>Bình luận: </i></b><b>Nghị định 36/2012/NĐ-CP ngày 18/04/2012
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của bộ, cơ quan ngang bộ, có hiệu lực từ ngày
15/06/2012, tại Điều 4 (về pháp luật) khoản 4 ghi rõ:
<i>"</i></b><i>Chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý
nhà nước của Bộ". </i>Hai quyết định nêu trên do Bộ TN-MT
tham mưu, liên quan đến việc thực thi pháp luật về đất đai,
đương nhiên thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ TN-MT.
<b><i>Như vậy, Bộ TN-MT có trách nhiệm phổ biến, giáo dục
pháp luật cũng có nghĩa giải thích cho nhân dân về pháp luật
liên quan đến 02 quyết định này</i></b>. Tuy nhiên, nếu <i>Bộ
TN-MT không có đủ nhân sự để hiểu biết về pháp luật
đất đai</i> (để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật về đất đai, trong đó có giải thích về những văn bản
liên quan đến đất đai), chúng tôi sẽ chuyển câu hỏi này
đến Bộ Tư pháp theo yêu cầu của Bộ TN-MT.
<i>Câu hỏi 6: Tại sao Bộ TN–MT tham mưu cho quyết định 303/QĐ
– TTg xác định quỹ đất để tạo vốn xây dựng công trình
cơ sở hạ tầng (1.650 ha, trong đó có 500 ha đất sau này
được coi là đất của dự án Ecopark) là đất chuyên dùng,
trong khi thực tế theo chủ đầu tư dự án Ecopark 30% của 500 ha
đất này được dùng làm đất ở (tức không phải đất
chuyên dùng)?</i>
<b><i>Trả lời: </i></b>
<b><i> Căn cứ Điều 18 Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày
11/02/2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Đất đai thì dự án đầu tư xây
dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê phải trong quy hoạch phát
triển khu dân cư, khu đô thị đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt.</i></b>
<b><i> Theo Quyết định số 303/QĐ-TTg ngày 30/03/2004 của Thủ
tướng Chính phủ đã xác định 500 ha là quỹ đất dùng để
tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị Văn Giang, việc
xác định cụ thể các loại đất như đất giao thông đô
thị, đất ở, đất cây xanh, đất thương mại,…. thực hiện
theo quyết định phê duyệt quy hoạch xây dựng đô thị Văn
Giang do UBND tỉnh Hưng Yên là cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt.</i></b>
<b>Bình luận: </b>
<ol >
<li><b>a. </b><b>Điều 62 Luật Đất đai 1993 (sửa đổi, bổ sung
những năm 1998, 2001) khẳng định: "</b><b><i>Đất chuyên dùng
là đất được xác định sử dụng vào mục đích không phải
là nông nghiệp, lâm nghiệp, làm nhà ở</i></b>….".</li>
<li><b><i>b. </i></b>Quyết định 303/QĐ-TTg xếp quỹ đất để
tạo vốn xây dựng công trình cơ sỏ hạ tầng (trong đó có 500
ha để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị Văn Giang)
vào <i>mục đất chuyên dùng (không vào mục đất ở)</i>. Như
vậy, theo Luật Đất đai trên, <b>không có phần diện tích nào
trong quỹ đất 500 ha này được xác định vào mục đích làm
nhà ở. </b>Trong khi theo <b>Chủ đầu tư 30% quỹ đất này
được sử dụng vào mục đích làm nhà ở.</b> Rõ ràng, hoặc
<i>Bộ TN-MT và UBND tỉnh Hưng Yên đã sai khi trình Thủ
tướng</i> hoặc <i>Chủ đầu tư đã sai khi sử dụng đất
chuyên dùng vào mục đích làm nhà ở .</i></li>
<li><b><i>c. </i></b>Theo QĐ 303/QĐ-TTg, có 500 ha để <b>tạo vốn
xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị</b> tại Văn Giang và 100 ha
tại các huyện Văn Giang và Khoái Châu để xây dựng đất giao
thông đường từ cầu Thanh Trì đi xã Dân Tiến. Thực tế, theo
QĐ 742/QĐ-TTg, Thủ tướng giao cho Chủ đầu tư đã bỏ vốn
xây dựng đường giao thông trên khoảng 500ha (không nói rõ sử
dụng 500 ha này vào mục đích gì), ngoài 55 ha đất ở Văn Giang
để xây dựng đường giao thông này. <b><i>Như vậy quyết
định 742/QĐ-TTg giao quỹ đất 500 ha ở Văn Giang để tạo vốn
xây dựng hạ tầng giao thông, không phải để tạo vốn xây
dựng hạ tầng đô thị (như kế hoạch theo Quyết định
303/QĐ-TTg).</i></b> Rõ ràng 02 quyết định này mâu thuẫn nhau,
Bộ TN-MT lẽ ra cần đề nghị Thủ tướng Chính phủ làm rõ
mâu thuẫn này, hủy bỏ 01 hoặc cả 02 quyết định trên.</li>
</ol>
<i>Câu hỏi 7: Tại sao tờ trình của UBND tỉnh Hưng Yên liên
quan đến quyết định 303/QĐ – TTg không được Hội đồng
nhân dân tỉnh Hưng Yên thông qua theo quy định của Luật Đất
đai nhưng vẫn được Bộ TN–MT bỏ qua, không báo cáo cho Thủ
tướng Chính phủ biết về thiếu sót này của UBND tỉnh Hưng
Yên?</i>
<b><i>Trả lời: </i></b>
<b><i>Chủ trương sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ
sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là chủ trương
lớn, đã được Chính phủ chấp thuận tại Công văn số
1495/CP-NN ngày 31/10/2003 và Ban thường vụ tỉnh Hưng Yên đã
thống nhất có ý kiến tại Thông báo số 435-TB/UB ngày
05/12/2003. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Hưng Yên có Tờ trình số
211/TT-UB ngày 25/02/2004 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét
duyệt điều chỉnh, bổ sung kết hoạch sử dụng đất năm
2004, 2005 tỉnh Hưng Yên.</i></b>
<b><i>Bình luận: </i></b>
<b>Ban Thường vụ tỉnh ủy Hưng Yên không thể làm thay chức
năng của Hội đồng nhân dân tỉnh Hưng Yên (Đảng không thể
làm thay việc của Cơ quan dân cử).</b>
<i>Câu hỏi 8: Dựa trên dự án khả thi nào đã được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (theo Điều 22 khoản 2
điểm a Luật Đất đai 1993 được sửa đổi, bổ sung những
năm 1998, 2001), Bộ TN-MT đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ
ban hành quyết định 742/QĐ-TTg?</i>
<b><i>Trả lời: </i></b>
<b><i>Về điều kiện để giao đất, Bộ TN-MT đã thực hiện
theo đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 22a Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998.
Thủ tướng Chính phủ đã giao UBND tỉnh Hưng Yên chỉ đạo
việc lập, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng: Dự án đầu
tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật KĐT Thương mại – Du lịch
Văn Giang đã được phê duyệt tại Quyết định số 1430/QĐ-UB
ngày 25/06/2004 của UBND tỉnh Hưng Yên và Dự án đầu tư xây
dựng tuyến đường liên tỉnh Hưng Yên – Hà Nội đã được
phê duyệt tại Quyết định số 1431/QĐ-UB ngày 25/6/2004 của
UBND tỉnh Hưng Yên.</i></b>
<b><i> Mặt khác, đây là dự án tạo vốn xây dựng cơ sở hạ
tầng, do đó cơ sở để tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004, Bộ TN-MT đã căn
cứ ý kiến của Bộ Tài chính tại Công văn 4878/TC-QLCS ngày
10/05/2004 về việc xác định giá đất giao cho nhà đầu tư khi
thực hiện dự án. Dự án đã được Bộ Kế hoạch và Đầu
tư góp ý Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án tại Công văn số
3796 BKH/TĐ&GSĐT ngày 18/06/2004.</i></b>
<b><i>Bình luận:</i></b>
<ol >
<li>Điều 22a Luật đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ
sung những năm 1998, 2001) quy định :</li>
</ol>
Khoản 1 điểm d "<i>… Giao đất có thu tiền sử dụng đất
đối với một số trường hợp để tạo vốn xây dựng cơ
sở hạ tầng theo dự án do Chính phủ quyết định."</i>
Khoản 2<i>: " Việc giao đất có thu tiền sử dụng đất quy
định tại điểm d khoản 1 Điều này phải bảo đảm các
điều kiện sau đây:</i>
<i>A) Người sử dụng đất phải có dự án khả thi đã được
<b>cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;</b></i>
<i>B) Sử dụng đất phải theo đúng quy hoạch;</i>
<i>C) Người sử dụng đất phải có điều kiện về vốn và
kỹ thuật…."</i>
b. Theo Bộ TN-MT, UBND tỉnh Hưng Yên là <b><i>cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền</i></b> phê duyệt 02 dự án <b><i>Dự án đầu tư
xây dựng hạ tầng kỹ thuật KĐT Thương mại – Du lịch Văn
Giang </i>và <i>Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường liên
tỉnh Hưng Yên – Hà Nội. </i></b>
c. Trong khi theo Bộ KH&ĐT tại công văn số
<b><i>3796</i></b>/<b><i>BKH/TĐ&GSĐT ngày 18/06/2004 </i></b> khẳng
định Dự án KĐT Thương mại – Du lịch Văn Giang (mà Dự án
đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật KĐT nêu trên chỉ là
một dự án thành phần trong Dự án này) thuộc thẩm quyền cho
phép đầu tư của Thủ tướng Chính phủ. Theo Bộ KH&ĐT,
hồ sơ dự án còn nhiều thiếu sót như:
<i>(i) </i><i>Thiếu tờ trình Thủ tướng của Chủ đầu tư về
việc cho phép đầu tư Dự án;</i>
<i>(ii) </i><i>Cần xác định phạm vi cụ thể của dự án và
hình thức kinh doanh thu hồi vốn của Chủ đầu tư;</i>
<i>(iii) </i><i>Chủ đầu tư cần lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ
1/500 trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;</i>
<i>(iv) </i><i>Dự án có tổng mức đầu tư gần 4.000 tỷ đồng,
nhưng trong hồ sơ dự án chưa thể hiện năng lực tài chính
của Chủ đầu tư – (</i>thực tế tại thời điểm này Chủ
đầu tư chỉ có Vốn điều lệ 70 tỷ đồng ). <i>Để có cơ
sở trình Thủ tướng Chính phủ xem xét đầu tư, UBND tỉnh
cần xem xét thêm năng lực tài chính của Chủ đầu tư để
đảm bảo tính khả thi của Dự án;</i>
<i>(v) </i><i>Cần bổ sung tính toán cụ thể phương án đền bù,
giải phóng mặt bằng nhằm đảm bảo tính khả thi khi triển
khai thực hiện Dự án;</i>
<i>(vi) </i><i>Ngoài ra, hồ sơ Dự án cần bổ sung Báo cáo đánh
giá tác động môi trường được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt, phương án giải quyết nhu cầu mai táng do dự kiến dân
số đến trên 4 vạn người vào năm 2020, làm rõ phương án xử
lý nước thải, chất thải.</i>
<i>(vii) </i><i>Làm rõ việc xác định giá đất để tính tiền
đất trả cho nhà đầu tư.</i>
Bộ KH&ĐT đề nghị UBND tỉnh Hưng Yên hoàn thiện hồ sơ
Dự án này theo những ý kiên trên để trình Thủ tướng Chính
phủ cho phép đầu tư.
d. Như vậy, Bộ KH&ĐT đã xác định theo quy định pháp
luật tại thời điểm tháng 6/2004, Thủ tướng Chính phủ là
người có thẩm quyền phê duyệt Dự án KĐT Thương mại – Du
lịch Văn Giang (bao gồm Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ
thuật KĐT – là một dự án thành phần trong Dự án này ),
không phải là UBND tỉnh Hưng Yên theo như cách hiểu của Bộ
TN-MT. Cho đến 30/06/2004 và cả đến nay, chưa thấy có văn bản
nào của Thủ tướng Chính phủ cho phép Chủ đầu tư thực
hiện Dự án này. Quyết định 742/QĐ-TTg không có nội dung nào
về Dự án KĐT này, và do đó không phải là văn bản cho phép
Chủ đầu tư thực hiện Dự án này hoặc
ủy quyền cho UBND tỉnh Hưng Yên phê duyệt Dự án này.
e. Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường liên tỉnh Hưng Yên
– Hà Nội là dự án xây dựng Quốc lộ, theo pháp luật về
Giao thông đường bộ (tại thời điểm 2004 cũng như hiện
nay),<b> cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Dự án là
Bộ Giao thông vận tải (Bộ GTVT) hoặc Thủ tướng Chính
phủ</b>. UBND cấp tỉnh không có quyền phê duyệt Dự án xây
đường Quốc lộ.
f. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, trong các hồ sơ tài
liệu hiện có về <i>quy hoạch sử dụng đất đai tại thời
điểm 2004</i>, không có tài liệu nào xác định 500 ha đất
trên được quy hoạch để sử dụng vào mục đích đất đô
thị.
g. Một doanh nghiệp vừa mới được thành lập 8 tháng (Chủ
đầu tư đăng ký kinh doanh từ 08/2003), có vốn điều lệ 70
tỷ đồng rõ ràng <b>không đáp ứng đủ điều kiện về vốn
và kỹ thuật </b>cho 02 Dự án có tổng mức đầu tư ước tính
4500 tỷ đồng.
h. Tóm lại, <b>Chủ đầu tư và Dự án đều không đáp ứng
cả 03 điều kiện của khoản 2 Điều 22a Luật Đất đai nêu
trên. Bộ TN-MT lẽ ra phải thẩm định những điều kiện đó
và phải nhận thấy không thể giao vội vã 500 ha đất cho một
Chủ đầu tư như Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển
Việt Hưng tại thời điểm tháng 06/2004.</b>
<i>Câu hỏi 9: Tại sao trong quyết định giao đất 742/QĐ-TTg
không ghi rõ tên, địa chỉ người hoặc đơn vị được giao
đất mà lại ghi chung chung là chủ đầu tư và giao cho UBND
tỉnh Hưng Yên lựa chọn và quyết định Chủ đầu tư tức
người được giao đất,<b> thực chất là ủy quyền cho cấp
dưới lựa chọn người được giao đất</b>?Phải chăng Bộ
TN-MT đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết
định trái điều 25 Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ
sung những năm 1998, 2001) "Cơ quan có thẩm quyền giao đất…
không được ủy quyền cho cấp dưới"?</i>
<b><i>Trả lời:</i></b>
<b><i>Thực hiện Luật Đất đai năm 1993, Bộ TN-MT đã có Tờ
trình số 99/TTr.BTNMT ngày 29/06/2004 trình Thủ tướng Chính phủ
về việc giao đất để xây dựng tuyến đường liên tỉnh
Hưng Yên – Hà Nội (đoạn từ huyện Văn Giang đến xã Dân
Tiến, huyện Khoái Châu) và xây dựng KĐT Thương mại – Du
lịch Văn Giang tại tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng
quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó
đã nêu rõ theo đề nghị của UBND tỉnh Hưng Yên trình Thủ
tướng Chính phủ giao 5.540.712 m2 đất cho Công ty cổ phần
Đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng để xây dựng
tuyến đường liên tỉnh Hưng Yên – Hà Nội (541.133 m2), xây
dựng mương thuỷ lợi (8.873m2) và xây dựng hạ tầng kỹ
thuật KĐT Thương mại – Du lịch Văn Giang (4.990.706 m2). Tại
khoản 2 Công văn số 1495/CP-NN ngày 31/10/2003 của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo: "Việc xác định chủ đầu
tư để thực hiện các công trình cơ sở hạ tầng trên bằng
phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ
sở hạ tầng do UBND tỉnh Hưng Yên lựa chọn, quyết định và
chịu trách nhiệm".</i></b>
<b><i>Bình luận: </i></b>
<ol >
<li>Bộ TN-MT đã không trả lời thẳng câu hỏi:<i>Phải chăng
Bộ TN-MT đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết
định trái điều 25 Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ
sung những năm 1998, 2001) "Cơ quan có thẩm quyền giao đất…
không được ủy quyền cho cấp dưới"?.</i></li>
<li><b>b. </b>Theo Luật Đất đai (trước đây cũng như hiện nay),
quyết định giao đất phải ghi rõ tên cá nhân, đơn vị
được nhận giao đất.Trong quyết định 742/QĐ-TTg không ghi rõ
tên Chủ đầu tư nhận giao đất rõ ràng có vấn đề, lẽ ra
Bộ TN-MT phải phát hiện và đề nghị Thủ tướng điều
chỉnh lại.</li>
<li><b>c. </b>Tuy nhiên, theo chúng tôi UBND tỉnh Hưng Yên và Bộ
TN-MT đã làm sai quy trình theo Nghị định 66/2001/NĐ-CP sửa
đổi, bổ sung Nghị định 04/2000/NĐ-CP hướng dẫn Luật sửa
đổi, bổ sung Luật đất đai. Điều 10 của Nghị định
66/2001/NĐ-CP quy định sửa đổi điểm c và điểm e Khoản 1
Điều 23 Nghị định 04/2000/NĐ-CP – Điều 23 này quy định về
<i>Trình tự thực hiện dự án sử dụng quỹ đất để tạo
vốn xây dựng cơ sở hạ tầng</i>.</li>
<li><b>d. </b>Điều 23 Nghị định 04/2000/NĐ-CP sau khi sửa đổi 2
điểm trên có nội dung như sau:</li>
</ol>
<i>Điều 23: </i><b><i>Trình tự thực hiện dự án sử dụng quỹ
đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng</i></b><i>.</i>
<i>1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: </i>
<i>a) Chỉ đạo việc lập và trình cấp có thẩm quyền phê
duyệt dự án xây dựng công trình cơ sở hạ tầng đã được
Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện;</i>
<i>b) Tổ chức đấu thầu để chọn chủ đầu tư thực hiện
dự án nếu có nhiều đơn vị tham gia, trường hợp chỉ có
một đơn vị xin thực hiện dự án, thì được phép chỉ
định thầu;</i>
<b><i>c) Trình Chính phủ giao đất để xây dựng công trình cơ
sở hạ tầng, thực hiện dự án đầu tư dùng quỹ đất để
tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng; </i></b>
<i>d) Tổ chức nghiệm thu và xác định giá trị đầu tư xây
dựng công trình cơ sở hạ tầng theo quy định của pháp
luật;</i>
<i>đ) Định giá khu đất sẽ trả cho chủ đầu tư đã bỏ
vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo quy định của pháp
luật;</i>
<b><i>e) Hướng dẫn việc lập dự án đầu tư trên khu đất
trả cho nhà đầu tư theo quy hoạch được duyệt và trình Chính
phủ giao đất cho chủ đầu tư". </i></b>
<i>2. Tiền thu được từ việc giao đất, tiền xây dựng công
trình phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách nhà
nước theo quy định của pháp luật về ngân sách.</i>
<b><i>e. Với quy định như trên, UBND tỉnh Hưng Yên đã không
làm đúng theo trình tự, đã nhập 02 trình tự theo điểm c và
điểm e khoản 1 Điều 23 thành 1 trình tự, bỏ qua trình tự
theo điểm b, điểm d, điểm đ. Trong khi trình tự theo điểm a
cũng không thực hiện đúng</i></b> (tự mình phê duyệt không có
ý kiến thẩm định của Bộ Giao thông vận tại – Bộ GTVT
trong khi thẩm quyền phê duyệt Dự án công trình hạ tầng giao
thông đường Quốc lộ như đường Quốc lộ liên tỉnh Hà
Nội – Hưng Yên thuộc Thủ tướng Chính phủ và/hoặc Bộ
GTVT).
f. Bộ TN-MT có trách nhiệm thẩm định cho Thủ tướng và/hoặc
Chính phủ xét xem UBND tỉnh đã thực hiện đúng trình tự
không. Nếu lãnh đạo Bộ TN-MT có tinh thần trách nhiệm đã
thấy UBND tỉnh Hưng Yên đã không làm đúng theo các trình tự
nêu trên và <b><i>Bộ TN-MT có trách nhiệm không đồng ý với
việc UBND tỉnh Hưng Yên bỏ qua các trình tự theo khoản 1
Điều 23 trên để thực hiện ngay trình tự cuối cùng của
điều khoản này ( trình Thủ tướng/Chính phủ giao đất cho
Chủ đầu tư). </i></b>Nói cách khác, Bộ TN-MT chịu trách nhiệm
chính trong việc thẩm tra vội vàng, cẩu thả Tờ trình của
UBND tỉnh và đã tham mưu sai cho Thủ tướng Chính phủ ban hành
quyết định 742/QĐ-TTg, trái thẩm quyền và có nhiều nội dung
trái Luật đất đai.
<i>Câu hỏi 10: Quyết định 742/QĐ- TTg đồng thời là quyết
định thu hồi đất. Đề nghị Bộ TN-MT cho biết trường hợp
thu hồi đất này được áp dụng theo điều khoản nào của
Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung những năm 1998,
2001)?</i>
<b><i>Trả lời: </i></b>
<b><i>Việc thu hồi đất tại Quyết định số 742/QĐ-TTG căn
cứ theo quy định tại Điều 27 Luật Đất đai 1993.</i></b>
<b><i>Bình luận:</i></b>
Điều 27 Luật đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung những
năm 1998, 2001) có 03 khoản. Bộ TN-MT chưa trả lời rõ khoản
nào của điều này. Đề nghị Bộ TN-MT trả lời rõ hơn và
nói rõ thuộc trường hợp thu hồi nào và vì sao?
<i>Câu hỏi 11: Hiện những hộ dân vẫn giữ Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (sổ đỏ) liên quan đến nhà đất bị
thu hồi. Vậy giấy tờ này có giá trị không? Tại sao không có
quyết định thu hồi đất đến từng hộ dân? (Đề nghị
trích rõ điều khoản văn bản pháp luật được áp dụng).</i>
<b><i>Trả lời:</i></b>
<b><i>Theo quy định tại điểm e, mục 4, chương 4, Thông tư
1990/2001/TT- TCĐC ngày 30 tháng 11 năm 2001 của Tổng cục Địa
chính hướng dẫn đăng kí đất đai, lập hồ sơ địa chính
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ quyết
định thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và biên
bản thu hồi đất ngoài thực địa, cơ quan địa chính thuộc
Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất chịu trách nhiệm thu hồi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp để chỉnh lí hoặc huỷ
bỏ, chỉnh lý hồ sơ địa chính và thông báo cho cơ quan quản
lí hồ sơ địa chính các cấp để chỉnh lí hồ sơ địa
chính. Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
cấp cho phần diện tích đất đã bị thu hồi thì không còn
giá trị.</i></b>
<b><i>Việc ban hành quyết định thu hồi đất đến từng hộ
gia đình, cá nhân chỉ áp dụng theo quy định của Luật Đất
Đai năm 2003 và Nghị Định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10
năm 2004 của Chính Phủ về thi hành Luật đất đai năm
2003.</i></b>
<b><i>Bình luận:</i></b>
<ol >
<li>Thông tư 1990/2001/TT- TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa
chính đã hết hiệu lực vào ngày 05/01/2005 và được thay thế
bởi Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT do Bộ TN-MT ban hành ngày
01/11/2004.</li>
<li>Thực tế, không có <b><i>biên bản thu hồi đất ngoài thực
địa</i></b> nào được thực hiện trước ngày 05/01/2005. Chính
quyền Văn Giang đã cưỡng chế trái pháp luật để thu hồi
đất của nhiều hộ dân Văn Giang vào tháng 01/2009 và tháng
04/2012. Như vậy, trong mọi trường hợp không thể áp dụng
Thông tư 1990 đã hết hiệu lực nêu trên để xác định Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân bị thu hồi
đất (nhưng không giao cho họ quyết định thu hồi đất, không
có tên và đất của họ trong quyết định này) có còn giá
trị hay không?</li>
<li>Theo quan điểm trên của Bộ TN-MT, không có việc áp dụng
ban hành quyết định thu hồi đất đến từng hộ gia đình, cá
nhân theo quy định của Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi,
bổ sung những năm 1998, 2001). Quan điểm này trái với chính
những nội dung luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung
những năm 1998, 2001), cụ thể như sau:</li>
</ol>
Khoản 1 Điều 3: <i>"</i><i>Nhà nước bảo hộ quyền và lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất."</i>
Điều 21<i>: "Việc quyết định giao đất đang có người sử
dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết
định thu hồi đất đó."</i>
Đoạn đầu Điều 28<i>: "Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất
đó…".</i>
Ví dụ: Hộ ông Nguyễn Văn A ở Văn Giang có 360m2 đất nông
nghiệp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện
cấp, chính quyền địa phương muốn giao cho Chủ đầu tư
Ecopark 360 m2 này theo Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ
sung những năm 1998, 2001). Theo các quy định trên, UBND huyện Văn
Giang (có thẩm quyền giao đất nông nghiệp cho hộ ông A) phải
có quyết định thu hồi 360 m2 đất nông nghiệp này của ông
Nguyễn Văn A, nói cách khác, không thể sử dụng quyết định
742/QĐ-TTg để làm căn cứ trực tiếp thu hồi đất của hộ
ông A (vì quyết định này không nêu tên ông A và diện tích
đất của ông A). Chúng tôi được biết, thực tế có những
quyết định thu hồi đất đến từng cá nhân, tổ chức hoặc
có ghi tên người bị thu hồi đất, diện tích đất bị thu
hồi của họ trong danh sách kèm theo quyết đinh thu hồi đất
khi thu hồi đất theo Luật đất đai 1993.
<ol >
<li>Ngoài ra, Chính quyền địa phương ở Hưng Yên đã áp dụng
các quy định của Luật Đất đai 2003 (và các nghị định
hướng dẫn luật này) khi tiến hành các bước liên quan đến
việc thu hồi đất của những hộ dân Văn Giang. Do đó, không
có lý do gì không áp dụng Luật đất đai 2003 để ban hành
quyết định thu hồi đất đến từng hộ dân liên quan, nêu
như Chính quyền các cấp cho rằng quyết định 742/QĐ-TTg là
đúng theo quy định của pháp luật.</li>
<li><i>e. </i>Giả thiết, các cơ quan chức năng cho rằng không
cần ban hành quyết định thu hồi đất đến từng hộ dân.
Nếu như vậy, Chính quyền địa phương sẽ không có căn cứ
để cưỡng chế họ nếu họ không đồng ý việc giao
đất.</li>
</ol>
Việc cưỡng chế (nếu có) đương nhiên phải áp dụng theo
Luật Đất đai 2003 được quy định tại đoạn cuối khoản 3
Điều 39: <i>"….Trường hợp người bị thu hồi đất không
chấp hành quyết định thu hồi đất thì Uỷ ban nhân dân cấp
có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định
cưỡng chế. Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp
hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại."
</i><b> </b>Do không có UBND nào (tỉnh, huyện) ra quyết định thu
hồi đất, nên không UBND nào được ra quyết định cưỡng
chế. Mọi quyết định cưỡng chế (nếu có) đều trái pháp
luật.
<i>Câu hỏi 12: Đề nghị Bộ TN-MT cho biết việc cưỡng chế
thu hồi đất đai và hỗ trợ thi công của tỉnh Hưng Yên tại
Văn Giang có đúng quy định của Luật Đất đai không? (Nếu
đúng, ghi rõ điều khoản văn bản pháp luật được áp
dụng).</i>
<b><i>Trả lời:</i></b>
<b><i>Theo quy định của pháp luật, trường hợp công dân không
đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính
trong việc cưỡng chế thu hồi đất thì có quyền khởi kiện
tại Toà án nhân dân, việc cưỡng chế đúng hay sai sẽ do Toà
án phán quyết.</i></b>
<b><i>Bình luận:</i></b>
<ol >
<li><b>a. </b>Đáng tiếc Bộ TN-MT đã không thực hiện đúng
chức năng tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về
Đất đai (như chúng tôi đã trích dẫn trên theo Nghị định
36/2012/NĐ-CP)<b>.</b></li>
<li><b>b. </b>Thực tế, theo thông tin báo chí, đại diện Bộ
TN<b>-MT đã tham gia các cuộc họp với chính quyền địa phương
Hưng Yên trước khi cưỡng chế tại Văn Giang vào ngày 28/04/2012
và do đó phải có quan điểm về việc cưỡng chế này trước
khi được thực hiện.</b></li>
<li><b>c. </b><b>Trong vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng – Hải
Phòng, chính Bộ TN-MT đã có văn bản tham mưu cho Thủ tướng
Chính phủ xác định Chính quyền địa phương Yên Lãng đã vi
phạm Luật đất đai mà bỏ qua phán quyết của Tòa án.</b></li>
<li><b>d. </b><b>Chúng tôi xin nhắc lại: Vụ cưỡng chế năm 2009
không có quyết định cưỡng chế nào; vụ cưỡng chế năm 2012
có quyết định cưỡng chế để thi hành một quyết định xử
phạt hành chính, không phải là quyết định cưỡng chế để
thực hiện quyết định thu hồi đất. Rõ ràng Chính quyền
địa phương Hưng Yên đã sai, đã cưỡng chế không theo Luật
đất đai, Bộ TN-MT phải biết rõ điều đó và có trách nhiệm
( như vụ Tiên Lãng – Hải Phòng) xác định việc vi phạm
Luật đất đai (có hay không) của các cấp Chính quyền địa
phương.</b></li>
</ol>
Trên đây là ý kiến của chúng tôi về Bản giải đáp của
Bộ TN-MT đối với những nội dung Kiến nghị số 02 của
những luật sư và đại diện những hộ dân Văn Giang bị thu
hồi đất. Chúng tôi đề nghị Bộ TN-MT tổ chức một cuộc
họp với quy mô nhỏ hơn buổi đối thoại 21/08/2012 để làm
rõ những vấn đề đã nêu ra, đặc biệt là những nội dung
chúng tôi đã nêu tại phần đầu của bản ý kiến này.
<b>Trân trọng/.</b>
<br />
<b><i>Thay mặt những luật sư đang trợ giúp pháp lý cho những
hộ dân bị thu hồi đất liên quan đến dự án Ecopark – Văn
Giang – Hưng Yên.</i></b>
<b>Luật sư Trần Vũ Hải</b>
<b>Địa chỉ liên hệ</b>: số 81 phố chùa Láng, phường Láng
Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Điện thoại: 04 3775 4788.
<b>Nơi gửi:</b>
- Như trên
- Đại diện những hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang –
Hưng Yên yêu cầu luật sư trợ giúp pháp lý.
<center><img src="http://anhbasam.files.wordpress.com/2012/10/chu-ky.jpg"
/></center>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121010/vu-van-giang-y-kien-cua-ls-tran-vu-hai-ve-giai-dap-cua-bo-tai-nguyen-moi-truong),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét