Từ Khanh – Nước Mắt Anh Hùng Lau Chả Ráo

Tôi đến vàm Nhựt Tảo thuộc tỉnh Long An vào một ngày tháng
chạp. Từ Sài Gòn, tôi chạy xe máy xuống Tân An (thủ phủ
của Long An) mất gần hai tiếng dù đoạn đường chỉ hơn 50
cây số. Tân An là điểm đầu tiên cho mọi tuyến xe từ Sài
Gòn xuống miền Tây, tôi đã qua đây không biết bao nhiêu lần
nhưng đây là lần đầu lon ton chạy honda vào thị xã. Đường
phố sạch và khá rộng, cứ thấy đường là chạy chứ chẳng
biết phương hướng gì, thời may chạy tới một ngã tư thì
thấy một quán cà phê vườn rất lớn, trước quán có một
cây sung sai trái và một bụi tre la ngà màu vàng. Thật mát mẻ
và lý tưởng để nghỉ chân vì lúc đó đã gần giữa trưa.

Trong cuốn du ký Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Nguyễn Hiến
Lê mô tả Tân An là một châu thành sầm uất, một trong các
điểm giáp ranh của Đồng Tháp Mười, gồm các địa danh Mộc
Hóa (cũng thuộc Long An), Hồng Ngự và Cao Lãnh (tỉnh Đồng
Tháp), Cái Bè (Tiền Giang). Tôi học thuộc lòng tấm bản đồ
vẽ tay trong cuốn sách của ông, so sánh bản đồ hiện nay thì
không khác mấy, và dự tính sẽ chạy xe theo lộ trình mà
Nguyễn Hiến Lê đã đi từ 70 năm trước.

Theo chỉ dẫn tìm trên mạng, ở Long An có một khu bảo tồn
vùng trũng Đồng Tháp Mười là Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn
Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười thuộc xã Bình Phong
Thạnh, huyện Mộc Hóa, cách Tân An khoảng 60 cây số. Trung Tâm
này có trên 800 ha rừng nguyên sinh. Theo quốc lộ 62 từ Tân An
lên Mộc Hóa, ngang cầu Quảng Dài thì xuống ghe đi chừng 45
phút nữa sẽ tới Trung Tâm. Cách mô tả rất hấp dẫn, hứa
hẹn một chút gì sót lại từ vùng đất hoang sơ vào thời
Nguyễn Hiến Lê du khảo Đồng Tháp Mười.

Ra khỏi Tân An trên 10 cây số, hai bên đường đã khá thưa
vắng, các hàng cây bạch đàn thẳng tắp xì xạc trong tiết
trời mát dịu của những ngày áp xuân. Thỉnh thoảng những
vùng nước trũng hiện ra phấp phới, những đám hoa rau muống
tươi trắng, hoa lục bình (bèo) tím lơ, hoa lau trắng lắt lơ,
hoa phượng vàng mơ và không khí thoang thoảng hương thơm. Đến
cầu Quảng Dài như chỉ dẫn hỏi nhà dân nhưng không ai biết
đường vào Trung Tâm, chạy thêm một khúc nữa thì qua cầu
Quảng Cụt, thêm 10 cây số nữa đến Mộc Hóa, đánh một vào
huyện lỵ buồn tênh giữa trưa vắng, hỏi các ông xe ôm thì
họ chỉ ngược lại đoạn đường mới đi qua. Tôi chạy trở
lui, ghé vào hai bến đò nhưng không ai biết. Thế là mất hy
vọng ngủ đêm giữa Đồng Tháp Mười, hết hy vọng qua một
đêm giữa rừng trên quê hương Nguyễn Trung Trực, nơi ông
từng ngang dọc đánh Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, trên vàm
Nhựt Tảo, và chắc còn nhiều chỗ khác mà chính sử không ghi.

<center>* * *</center>

Chiều hôm sau, lúc đó đã gần 5 giờ, tôi hỏi đường lên
vàm Nhựt Tảo và "cái tàu ông Nguyễn Trung Trực đốt của
tụi Tây". Bác xe ôm ở một góc đường thị xã Tân An có
vẻ rành, bác chỉ qua cầu Tân An (bắc ngang sông Vàm Cỏ Tây),
qua cầu Bến Lức (sông Vàm Cỏ Đông), đến ngã tư Tân Trụ
rẻ phải rồi "cứ vừa đi vừa hỏi".

Theo hướng bác chỉ đến ngã tư Tân Trụ rẻ phải, chạy thêm
chừng năm cây số thì gặp một ngả ba đường đất đỏ.
Không biết đường mà gặp ngả ba thường rất là phiền. Thôi
cứ liều chạy thẳng. Đường xấu và bụi, nhưng rồi nhà dân
dần thưa thớt, hai bên đồng ruộng không bát ngát lắm nhưng
đủ để phóng tầm mắt một cách thoải mái, màu xanh của lúa
rủ hết bụi bặm đô thành.

Người miền quê có một khái niệm về đường dài rất… nhà
quê. Theo kinh nghiệm hỏi đường thì khi họ nói "chút nữa
là tới" thì có nghĩa phải đi cả năm hay bảy cây số nữa
cũng chưa biết chừng. Tôi vừa chạy vừa hỏi, không ai biết
con tàu bị đắm nhưng Nhựt Tảo thì họ biết. Có một chị
dắt con đi nói "đằng kia kìa kia kìa chốc nữa là có bến
đò đó".
Con đường đất đỏ có đoạn ôm tròn một vòng cung ruộng
lúa xanh rì rất đỗi thanh bình trong ánh chiều tà. Lại đến
một ngả ba. Ở đây người ta cắm một cái bảng lớn vẽ các
khu vực qui hoạch, nhìn kỹ không thấy có sân golf trên đó
(thật may, tưởng tượng đồng ruộng lần lượt nhường chỗ
cho sân gôn thì nông dân biết về đâu).

Lại chạy tiếp, đường càng lúc càng xấu và bắt đầu
thấy nản. Nhưng khi chạy ngang một cái cầu trên trên con sông
nhỏ thì chợt nhìn bên trái, tôi thấy một ngôi đền đang xây
dựng dở dang khuất sau những đám sậy, linh tính báo tôi quay
lại, dựng xe, hỏi một chị đang chờ phà.

- Chị ơi vàm Nhựt Tảo ở đâu vậy?
- Đây này! Cô gái chỉ ngay dòng sông trước mặt.
- Vậy cái phà này đi đâu?
- Đi qua Cần Đước.

Mon men hỏi một người đàn ông trung niên đang ngồi tựa ở
dốc cầu treo, ông nói khá rành rọt. Ông nội của ông năm nay
100 tuổi có kể rằng thời còn trẻ có thấy một ống khói
tàu nằm ở ngả ba sông kia kìa (người đàn ông đưa tay chỉ
ra ngả ba sông), nhưng bây giờ thì không có gì, có thời
người ta lặn xuống đáy sông mò được một vài món đồ cổ
gì đó.

Vậy ra là tôi đang đứng ngay ngả ba sông, nơi Nguyễn
Trung Trực đánh đắm chiến thuyền Espérance của Pháp năm 1861.
Trong Tập san Sử Địa số 12 (1968) xuất bản ở Sài Gòn để
kỷ niệm 100 năm ngày mất Nguyễn Trung Trực, có ghi lại trận
đánh này theo tài liệu của Pháp, như sau:

"Ấy là ngày 10 tháng 12 năm 1861 (thứ Ba mồng 9 tháng 11 Tân
Dậu).

"Hồi ấy lúc 12 giờ trưa, sĩ quan chỉ huy chiếc lorcha
l'Espérance đi lên bờ theo đuổi một lũ đầu trộm đuôi
cướp cách tàu lối hai dặm. Bốn hay năm chiếc ghe có mui thả
theo bìa tàu; thủy thủ đoàn đang nghỉ từng trên của tàu
không hề nghi kỵ chi hết; viên hạ sĩ quan đóng vai tuồng
trưởng-phó nghiêng mình ra khỏi cửa sổ tàu tưởng là người
buôn bán muốn ghé xin nhận giấy phép lưu thông, viên hạ sĩ
quan vô phước kia bị một mũi giáo vô ngực và một đám đông
người từ các mui ghe của tên công kích tàu và la thật lớn.

Trong vài sao đồng hồ, hơn một trăm năm mươi người An nam tay
cầm giáo, cầm gươm và cầm đuốc, tràn ngập cả từng trên
tàu và một cuộc xáp-lá-cà không tương xứng xảy ra. Trong vài
phút đồng hồ sau, lửa táp vào nóc lá của tàu và cháy mau
lẹ. Bị nóng quá, đôi bên nhảy đùng xuống sông hay tuột
xuống ghe.

Năm thủy thủ trong số đó có hai Pháp và ba Tagals (người bổn
xứ ở Ma-Ni) phóng xuống một ghe nhỏ, không súng ống chi cả
và ràng sức chèo. Ở xa, năm thủy thủ này thấy chiếc
l'Espérance nổ tung, các mảnh tàu văng xa đến hai bờ sông,
mười bảy người Pháp hay Ma-Ni đều chết đắm trong cuộc tai
biến này."

Cũng theo tài liệu của Pháp sau đó "[N]hững thường dân ở
làng Nhựt Tảo hùa theo những kẻ đốt tàu đều bị đốt nhà
hết vì tàu đậu ngay làng ấy."

Tôi đi loanh quanh trên con đường đất nhỏ, nơi mà
gần một thế kỷ rưỡi trước nhà cửa bị Tây đốt sạch.
Đi sâu vào trong khuôn viên ngôi đền Nguyễn Trung Trực đang
xây dựng chỉ thấy cỏ lau um tùm, không biết có phải vì đã
chiều nên công nhân về hết hay công trình đang bị bỏ dở,
chỉ thấy trong khuôn viên ngay ngả ba sông một màu hoang vắng,
dăm ba đứa con nít đang chơi đá banh trên bãi đất trống, lau
sậy um sùm từng bụi che khuất đó đây, ngôi đền lớn đang
xây nằm chính giữa khu đất (xem hình 1) có một vẻ uy nghi
nhưng cô độc. Tôi băng qua sân rộng đến sát mép sông, thấy
một cái miếu nhỏ bé, cửa miếu hướng ra bờ sông. Vòng ra
mặt trước miếu nhìn vào mới biết đó là miếu ngũ hành,
cả gian miếu âm u chập chờn. Tôi bước vào miếu, tự dưng
xương sống lạnh buốt như đang bước vào một nơi nhiều âm
khí dù trời chưa tối hẵn. Không gian trong ngôi miếu nhỏ
tịch mịch quá, tưởng như nghe được tiếng sông chảy bên
ngoài. Bên góc phải bàn thờ ngũ hành có một hộc bàn thấp
lè tè, trên để tấm hình Nguyễn Trung Trực chít khăn đen, bên
dưới ghi:

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub03/image001_1.jpg"
width="217" height="299" alt="image001_1.jpg" /></center>

<center><em>ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC
(1838-1868)</em></center>

Nguyễn Đình Chiểu viết "Nước mắt anh hùng lau chẳng
ráo." Thật là nao lòng quá. Một dũng tướng ngang dọc từ
Tân An đến Rạch Giá, lập những chiến công "oanh thiên
địa" và "khấp quỷ thần" trong lứa tuổi 20, ngay nơi
chiến tích của ông cách đây 146 năm, nay chỉ có một ngôi
đền xây dang dở, và một bức hình nhỏ trên một bệ thờ
thấp, nằm ké trong cái miếu ngũ hành tàn tạ âm u vôi lở sơn
tróc hương tàn bàn lạnh.

Đôi mắt ông thao thiết nhìn ra sông, rất lặng lẽ. Trong Tập
san Sử Địa số đã dẫn, nhà biên khảo Trương Bá Phát có
thuật lại chuyện ông gặp nhà văn Sơn Nam ở thư viện S.E.I
trong Sở Thú khi đi tìm tài liệu về Nguyễn Trung Trực. Ông
Sơn Nam kể: "Trên Sài Gòn đây, chúng ta thấy toàn là ghe có
cặp mắt tròn dài, tròng trắng ở ngoài, tròng đen ở giữa,
còn ghe Rạch Giá có cặp mắt tròn vo, vành ngoài sơn xanh, màu
đen ở trong. Người ta nói hồi 1868, sau khi rút lui khỏi Rạch
Giá, Trực ra đảo Phú Quốc. Muốn đi biển Trực ngồi trước
mũi ghe, gặp sóng lớn Trực trợn cặp mắt là sóng bớt ngay.
Dân đi ghe bắt chước theo cặp mắt Trực, sơn hai bên mũi ghe,
hai con mắt in như cặp nhãn của Trực vậy."

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub03/image002.jpg"
width="200" height="299" alt="image002.jpg" /></center>
<center><em>Miếu Ngũ Hành ở Tân An, nơi có để hình thờ (ké)
của cụ Nguyễn Trung Trực. (Ảnh Từ Khanh)</em></center>

Tôi ra đứng trước cửa miếu nhìn ngả ba sông Nhựt Tảo qua
những cây hoang um sùm. Dòng sông trong vắt và êm đềm, thỉnh
thoảng một chiếc phà nhỏ chở khách ngang qua. Trời đã chập
choạng và một tiếng chim chợt kêu. Ở quán nước sát mé
sông, tôi hỏi bà chủ quán:

- Chị ạ, chắc tấm hình ông Nguyễn Trung Trực người ta thờ
tạm hả chị, chờ khi cái đền lớn xây xong?

- Đâu có, cái miếu nhỏ đó hổng phải thờ ông Nguyễn Trung
Trực. Mấy bữa trước có một bà dưới Rạch Giá đem hình
ổng lên để thờ ké trong miếu đó!

Người ở rạch Giá đem ảnh lên thì đúng rồi. Ở Rạch
Giá, đền ông Nguyễn rất trang nghiêm (người dân kiêng tên,
chỉ gọi là 'ông Nguyễn'). Từ đền ông Nguyễn trên
đường Nguyễn Công Trứ thuộc thành phố Rạch Giá nhìn ra có
mặt sông, phía phải là cửa biển có rất nhiều tàu đánh cá
neo đậu. Trước sân đền có tượng ông đang tuốt kiếm.
(Trước đây pho tượng này màu đen, bằng đồng, trước đây
dựng trước chợ Rạch Giá, không hiểu sao bây giờ người ta
'trùng tu' thành màu đỏ nâu.)

Tôi chưa từng thấy một ngôi đền nào thờ phụng trang nghiêm
như ngồi đền này. Điện chính gồm năm gian, mỗi gian có hình
và hương án, các hàng giá dựng cờ và gươm giáo, hai bên
đều có lộng đỏ, hạc chầu, và câu đối thếp vàng bằng
chữ Hán, riêng gian trong cùng có ảnh thờ lớn nhất, hai bên
có hai cây đèn cầy cao 3.25 mét, nặng 360 ký. Hương đèn thắp
sáng dù không phải ngày lễ, không khí toát lên một vẻ trang
nghiêm kính cẩn.

Thờ ké trong miếu! Phải, cái bàn thờ ông thấp và bé hơn bàn
thờ năm tượng ngũ hành nhiều lần, bên di ảnh ông có một
chai nhựa khô nước (hay rượu), trước có một con ngựa nhỏ
màu trắng. Có lẽ cái bệ thờ này để thờ bạch mã – như
trong nhiều miếu ở miền quê thường có thờ "Bạch Mã Thái
Giám" tức con ngựa trắng để đỡ chân cho thành hoàng của
làng xã – rồi người đàn bà Rạch Giá tội nghiệp kia đem
hình ông lên không biết đặt đâu nên để 'ké' vào bệ
thờ con ngựa trắng, trước hình ông là một bình hoa giả, hai
chén nước nhỏ, một bát nhang lạnh.

Vậy thôi!

Đúng một trăm bốn mươi năm trước Nguyễn Trung Trực đánh
trận cuối, đuổi sạch Tây ra khỏi Rạch Giá. Và cũng 140 năm
trước ông bị Tây xử chém ở chợ Rạch Giá. Lúc đó ông 30
tuổi.

Chiều đã vàng rịm, trên ngã ba sông có một cánh bèo trôi
lẳng lạnh.
Ba tuần sau tôi lại đi Nhật Tảo. Lần trước là tháng Chạp
trước tết, lần này là mồng 5 tết Kỷ Sửu. Sáng sớm rủ
một người bạn ở nước ngoài về "xuống Long An uống cà
phê rồi trưa về", thì nhận được tin nhắn một chữ ngắn
ngủi: "mèn". Coi như là một lời từ chối ớn lạnh, thôi
thì xách xe lên đường solo.

Tới ngã tư Tân Trụ cách Sài Gòn non 50 cây số, thay vì rẻ
trái vô Nhật Tảo tôi rẻ phải theo bảng chỉ đường đi
hướng Thủ Thừa. Trong cuốn Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười,
ông Nguyễn Hiến Lê vẽ bản đồ giải thích thủy triều lên
xuống ở miền Tây khác ngoài Bắc như thế nào, rồi phán:
"Thủy triều ở biển tiến vào sông Vàm Cỏ Lớn rồi chia
làm hai luồng vào hai sông Vàm Cỏ Đông và Tây, sau cùng một
mặt đổ vào Kinh Mới, một mặt đổ vào Thủ Thừa: Thủ
Thừa thành một chỗ giáp nước."

Theo ông chỗ giáp nước là nơi ghe thuyền neo đậu chờ đổi
con nước nên thường có chợ. Cái khám phá này thực thú vị
nên khi chạy về hướng Thủ Thừa, tôi cứ tẩn mẩn nghĩ
không biết con đường trơn láng này ngày xưa Nguyễn Hiến Lê
đã đi qua chưa. Ai dè con đường láng này chỉ có cái bề
ngoài, mới chạy một khúc thì hết đường nhựa mà toàn
đường đất bụi mù mịt. Nhìn con đường lồi lõm thấy rất
nản, hai bên lúa vừa lên nhưng đường đi càng lúc càng nhỏ
và xấu.

Nông dân kéo ống nước từ ruộng này băng qua đường đến
ruộng kìa đổ tèm lem cả mặt khúc đường, xe chạy ngang
nước văng lên ướt tới mông. Chạy riết cũng không thấy gì
cả trừ đất bụi mù mịt. Không dám mạo hiểm vì xăng sắp
hết, tôi quay ngược chạy về hướng Nhật Tảo sau khi đã vào
một quán cốc bên đường làm một ly cà phê đá ngon tuyệt
trần ai. (Điềm) may hơn nữa là đang ngồi thì một trái sung
rơi vô túi áo, đầu năm xuất hành mà được sung rụng kiểu
này chắc năm này khấm khá rồi.

Con đường đất nhỏ cũng như ba tuần trước, chỉ khác bây
giờ đã gần trưa. Tôi chạy một vèo tới Vàm Nhật Tảo, vô
thẳng ngôi đền ông Nguyễn Trung Trực đang xây cất dở dang,
chụp một vài tấm hình (lần trước không đem theo máy), xong
chạy ra cầu treo chờ phà qua Cần Đước.

Đứng trên phà nhìn ngược lên mỏn đất cất đền rất đã
vì có thể hình dung nghĩa quân núp trên bờ tràn ngập lau sậy,
giữa sông chiếc Espérance neo đậu. Rồi một chiếc ghe đám
cưới rề tới trình việc đi rước dâu cho quan Tây. Chú rể
khúm núm dâng lễ vật cho quan Tây rồi bất thần, chú rể
chính – Nguyễn Trung Trực – rút búa xán lên đầu viên xếp,
mọi người hô to "Xáp chiến"!

Đó là buổi trưa 148 năm trước. Nhưng đúng lúc chiếc phà ra
giữa sông thì từ hướng Tây, một con tàu sắt nước ngoài
rất lớn tiến lại. Chiếc phà đi chậm mà tàu sắt tuy thấy
chạy chậm nhưng phút chốc đã sát bên hông, nó né chiếc phà
nhỏ và ngẫu nhiên cái mũi tàu khồng lồ của nó in hình song
song với ngôi đền ông Nguyễn Trung Trực ở bờ bên kia. Bên
hông tàu có hàng chữ Vitamin Gas, còn trước bong tàu có một
hàng chữ Trung Hoa. Ngày xưa là tàu Espérance (Hy Vọng), bây giờ
là Vitamin Gas (trên tàu chở một thùng phuy khí hóa lỏng (LPG)
rất to). Nói có bến phà làm chứng lỡ dại mà con tàu này…
tự nhiên bốc cháy thì cũng đã lắm chứ chẳng phải chơi!

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121028/tu-khanh-nuoc-mat-anh-hung-lau-cha-rao),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét