Đỗ Kim Thêm - Tinh thần thượng tôn luật pháp (2)

<h2>Các vi phạm luật pháp của nhà nước</h2>

Nếu cá nhân vi phạm luật pháp vì thiếu ý thức và đạo
đức, thì vi phạm luật pháp của chính quyền lại đến từ
hệ thống chính trị mà Hiến pháp là văn bản quy định cao
nhất, một lĩnh vực thuộc công pháp, không thuộc tội phạm
học. Do đó, các vấn đề tâm lý và trí thức không thể đặt
ra mà vi phạm Hiến pháp của nhà nước cần thảo luận.

Các thảo luận về thay đổi Hiến pháp thường dựa trên
nguyên tắc tam quyền phân lập của mô hình dân chủ phương
Tây, thường được coi là chuẩn mực hơn để đem lại niềm
tin của dân chúng vào sự vận hành cuả luật pháp. Thực ra,
không cần bàn đến các khái niệm này để so chiếu mà Hiến
pháp hiện nay có những nghịch lý nội tại, một thực trạng
không liên hệ đến các mô thức ngoại lai mà là do kỷ năng
lập hiến, tình thế và duy ý chí chuyên chính tạo ra. Những
đặc điểm này đã được nói nhiều nên chỉ tóm lựợc như
sau:

<h3>Đảng quyền và luật pháp</h3>

<em>Nghịch lý thứ nhất</em> là Hiến pháp quy định là mọi
hoạt động của Đảng phải nằm trong khuổn khổ cuả Hiến
pháp và luật pháp. Điều khoản này chỉ có giá trị tuyên bố
nhưng không đem lại ràng buộc pháp lý. Vì không có luật pháp
làm cơ sở nên hậu quả là Đảng có quyền lãnh đạo toàn
diện và tuyệt đối nhưng không chịu trách nhiệm pháp luật:
tất cả các nghị quyết của Đảng đứng ngoài và đứng trên
luật pháp, mọị sinh hoạt nội bộ của Đảng không theo
nguyên tắc dân chủ và mọi kỷ luật Đảng dựa trên đạo
đức cách mạng và lương tâm tập thể.

Có lập luận cho rằng quyền làm chủ cuả nhân dân sẽ được
phát huy khi Đảng chứng tỏ là người đầy tớ trung thành
của nhân dân. Mối quan hệ chủ tớ chỉ có trong thời phong
kiến, không còn thể hiện đúng được mối quan hệ chính trị
giửa người dân và nhà nước trong sinh hoạt dân chủ văn minh
hiện đại. Ngày nay, dân chúng chờ đợi Đảng cầm quyền làm
việc có hiệu năng kinh tế và trách nhiệm trước luật pháp;
mọi ràng buộc xã hội phải dựạ trên luật lệ, nhất là
nhân phẩm con phải được tôn trọng và người phục vụ cũng
có quyền lợi và nghiã vụ do luật lao động. Sự tái lập quan
hệ chủ tớ, dù chỉ trong phong cách văn hoá Việt, là đi
ngược trào lưu và không thuyết phục. Tinh thần công bộc và
những khái niệm khác như chuyên chính NNPQXHCN, lơị ích tổ
quốc và nhân dân, phản động và diển biến hoà bình là
những đặc thù trong văn hoá luật pháp cuả Việt Nam cần làm
rỏ để thay đổi tư duy.

Tạo ra một khuôn khổ pháp chế cho Đảng hoạt động và đề
ra mối quan hệ giữa Đảng trong vai trò lảnh đạo và chức
năng điều hành Nhà nước là một nhu cầu khách quan thời
đại, mà không nhất thiết dựa vào mô thức nào của phương
Tây.

<h3>Thẩm quyền lập hiến</h3>

<em>Nghịch lý thứ hai</em> là chủ quyền của nhân dân và vai
trò của Quốc hội. Tất cả quyền lực của Nhà nước đều
thuộc về nhân dân và Nhà nước bảo đảm và không ngừng
phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân. Nhưng làm
sao người dân thực hiện quyền này trong thực tế? Nhân dân
sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập
hiến và lập pháp và chỉ có Quốc hội mới quyền sửa đổi
Hiến pháp.

Hiến pháp đề cao chủ quyền cuả nhân dân, nhưng không minh
thị thẩm quyền lập hiến và phúc quyết hiến pháp, biểu
hiện sự thiếu nhất quán trong quy định quyền lực của nhân
dân. Hiến pháp mặc nhiên không phát huy đúng mức quyền làm
chủ của nhân dân vì cho phép Quốc hội không thực hiện trưng
cầu dân ý, đây là một lổi hệ thống.

Xác định thẩm quyền lập hiến và phúc quyết hiến pháp của
nhân dân qua các hình thức dân chủ trực tiếp, tổng tuyển
cử và trưng cầu dân ý chính là khởi điểm cải cách.

<h3>Kỹ năng lập pháp và lập quy</h3>

<em>Nghịch lý thứ ba</em> là nguyên tắc quyền lực nhà nước.
Trên lý thuyết, quyền này phải được thống nhất và do phân
công và phối hợp giửa các cơ quan nhà nước. Trong thực tế,
mức vi phạm của các văn bản quy phạm luật pháp đến mức
độ báo động vì các cơ quan ban hành không có kỹ năng và cơ
quan kiểm tra cũng không thể hoàn thành chức năng.

Lý giải chủ yếu là do nguyên tắc phân công nội bộ của
Đảng và không theo hệ thống hành chính tổng quát. Vấn đề
kiểm soát thẩm quyền lập hiến, lập pháp và lập quy không
được đặt ra đúng mức, nên trùng lấp thẩm quyền trong khi
ban hành các văn bản quy phạm luật pháp là chuyện thông
thường. Nhiều Nghị Định quy định các quyền tự do hiến
định của người dân mà không hề dựa vào Hiến pháp, chỉ
căn cứ vào Luật Tổ chức Chính phủ để ban hành, một vi
phạm trầm trọng về luật thủ tục, vì quá quen thuộc nên
không ai phản ứng.

Triển vọng cải cách lại khó khăn hơn vì nhiều lý do khác.
<em>Một</em> là, Việt Nam chưa có Toà Bảo Hiến để xét vấn
đề vi hiến hay vi luật của các quyết định hành chính trong
khi Toà án Hành chính hay Toà án Nhân dân lại không có thẩm
quyền. Quyền giải thích luật pháp thuộc về Uỷ ban Thường
Vụ Quốc hội, một cơ chế kiểm tra nhưng không bảo đảm
tính thống nhất cuả hệ thống luật pháp và một số Đại
Biểu Quốc Hội phải dồn sức trao dồi kỷ năng viết, đọc
và chất vấn.

<em>Hai</em> là các cảnh báo cuả Cục Kiểm tra thuộc Bộ Tư
Pháp về các văn bản vi phạm cũng không có tác dụng, vì cơ
quan vi phạm không có trách nhiệm giải trình trực tiếp theo
luật, mà giám sát nội bộ do Đảng ủy cơ sở chi phối, nên
mọi vi phạm phát hiện đều dể dải thông qua. Một văn bản
quy phạm luật pháp được coi là có chất lượng khi phù hợp
quan điểm chính trị của Đảng, một tiêu chí không bị luật
pháp ràng buộc. Nâng cao kỷ năng lập pháp và lập quy và phân
công và phân quyền rỏ ràng là giải pháp cho vấn đề, nhưng
nguyên tắc thống nhất quyền lực không cho phép, nghịch lý
sẽ kéo dài.

Do đó, phân biệt mục tiêu chính trị của Đảng, tính hợp
hiến, tính hợp pháp các văn bản phạm quy phạm luật pháp
trong tiến trỉnh lập quy là bước đầu để thay đổi.

<h3>Tôn trọng nhân quyền</h3>

<em>Nghịch lý thứ tư</em> liên hệ đến lập luận cho rằng
Việt Nam có những hoàn cảnh đặc thù mà giá trị phổ quát
của Bảng Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền không thể áp
dụng. Thực ra, Hiến pháp vi phạm nhân quyền do từ kỹ năng
lập hiến và duy ý chí chính trị, tự tạo ra khó khăn nội
tại và không liên hệ gì đến các cam kết quốc tế hay điều
kiện khả thi.

Hiến pháp không phân biệt dân quyền và nhân quyền, hai phạm
trù cần áp dụng riêng biệt. Hiến pháp công nhận nhân quyền
như một ban phát của nhà nước, không nằm trong ý nghĩa cao
cả cuả nhân quyền là một quyền tự nhiên nội tại, một
thành tựu văn minh chung của nhân loại và có giá trị phổ
quát. Hiến pháp công nhận tổng quát nhưng không liệt kê cụ
thể các nhân quyền căn bản để tuân thủ, không có một cơ
chế tranh tụng khi vi phạm, không công nhận tố quyền trực
tiếp của nạn nhân để khởi động và không có cơ quan theo
dỏi các vi phạm để cảnh báo khi cần thiết. Khái niệm tập
trung dân chủ và làm chủ tập thể không đem lại một cơ chế
tôn trọng nhân quyền mà quyền sở hữu toàn dân gây nhiều
thiệt haị kinh tế. Đây là một vi phạm nặng nề nhất.

Tựu chung, dân chủ tập trung và làm chủ tập thể không thể
hoà hợp để phát huy nhân quyền và dân quyền; Đảng và Nhà
nước dùng chính sách để quản lý thay cho pháp luật; luật
pháp là phương tiện chuyên chính dùng để kiểm soát các vi
phạm của dân chúng, nhưng không thể chế tài nhà nước và
quyền cá nhân phải hy sinh trước quyền lợi của tập thể,
một hình thức cưỡng chế ngoài phạm vi luật pháp. Trong khi
Hiến pháp chưa tu chỉnh thì nhà nước sẽ tiếp tục vi phạm
pháp luật, trật tự xã hội không được duy trì và tự do cá
nhân của người dân không được bảo vệ, nhưng người dân
có thể tin vào đạo đức nhà nước như là một lý do giải
trình cho các vi phạm này không?

<h2>Đạo đức nhà nước</h2>

Luật giới phưong Tây không quan tâm đạo đức nhà nước vì
theo quan điểm <em>Rule of Law</em> nhà nước cần phải có trách
nhiệm giải trình theo luật pháp, một loại trách nhiệm chính
trị không dựa theo quan điểm đạo đức. Ngược lại, các nhà
đạo đức đã tìm cách đề ra những phương thức ứng xử cho
từng loại vấn đề chuyên biệt thành một mô thức đạo
đức đồng thuận có giá trị hướng dẫn cho cá nhân (người
tiêu thụ), tổ chức (doanh nghiệp, ngân hàng), hay xã hội (bảo
vệ môi sinh).

Phương Tây hiện nay đang gặp nạn suy thoái kéo dài, tham nhũng
lan rộng, giá trị dân chủ và luật pháp bị lạm dụng. Ngoài
ra, các vấn đề như chống khủng bố, kiểm soát thị trường
tư bản tài chính và giải quyết nợ công cần những biện
pháp mạnh, hữu hiệu và nhanh chóng. Nhưng vì thủ tục phức
tạp, thảo luận bị chuyên môn hoá và giải pháp tìm ra lại
là thoả hiệp chính trị tạm thời trong một cơ chế ngắn
hạn, đôi khi quá chậm trể, nên không thể đem lại một căn
bản đạo đức nhà nước với giá trị phổ quát trong khi
đạo đức của Thiên Chúa giáo không còn chiếm ưu thế trong
sinh hoạt chính trị như trong quá khứ. Do đó, công luận đòi
hỏi nhà nước cần một trách nhiệm chung và tinh thần đạo
đức của một nhà nước thế tục, hơn là theo đạo đức tôn
giáo để đáp ứng tình thế. Nghịch lý vẫn còn là vấn đề
phải giải quyết.

Thực ra, một biện pháp nhanh chóng và không dân chủ không luôn
luôn có nghiả là hữu hiệu, đó là điều kiện cần nhưng
chưa đủ. Ngược lại, các nước chậm tiến không có cơ sở
nghiên cứu với kỷ năng chuyên môn cao độ và thiết chế hạ
tầng cần thiết, nên duy ý chí chính trị không thể đem lại
giải pháp tốt đẹp. So sánh mức độ tín nhiệm và đạo
đức của các vua quan thời phong kiến với hoàn cảnh hiện nay
là thiếu thực tế. Các nước Á Đông vừa không có kinh
nghiệm quản lý nhà nước hiện đại và không muốn áp dụng
trách nhiệm giải trình theo luật định mà thường dựa vào
truyền thống văn hoá và thành công trong lịch sử để lập
luận, mà trưòng hợp Việt Nam là một thí dụ.

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh là đạo đức nhà nước phong
kiến đã ăn sâu vào tâm khảm của dân chúng. Tinh thần đạo
đức của vua quan đã gây được lòng trung quân ái quốc của
dân chúng và là tấm gương sáng về đạo đức nhà nước. Tìm
sự đồng thuận để giải quyết vấn đề hệ trọng của
đất nước không quá phức tạp như ngày nay.

Qua thời gian và tình thế mà đạo đức nhà nước trở thành
đạo đức cách mạng. Người Việt cho rằng sự thay đổi khái
niệm này là cần thiết vì truyền thống luân thường Khổng
Mạnh phải phù hợp với tình huống đấu tranh giải phóng dân
tộc và giai cấp. Ý niệm cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư, công bộc cho dân, hy sinh vì đại cuộc rất dể thu phục
lòng người trong hoàn cảnh bấy giờ. Đạo đức cách mạng chi
phối triệt để đời sống Đảng viên, kể cả đến chuyện
lập gia đình và tổ chức lể cưới cũng phàỉ có ý kiến
của Đảng. Đến ngày nay, sự phân biệt đạo đức cá nhân
và cách mạng vẩn chưa rỏ ràng.

Thời kỳ toàn cầu hoá và sau ngày Đổi Mới, giá trị về
đạo đức cách mạng không còn phù hợp để làm một khuôn
khổ thảo luận về truyền thông đạo đức của đất nước.
Từ năm 2008 Việt Nam đã triển khai khái niệm đạo đức công
vụ trong sinh hoạt hành chính. Về nội dung, khái niệm này cũng
không thể mang luận chứng mới lạ, mà là tiếp nối tinh thần
công bộc xưa củ trong bối cảnh kinh tế thị trường. Thực
ra, đây là một giáo trình cho sinh viên, nên giá trị thuyết
phục trong công luận bị hạn chế. Giá trị đạo đức, cũng
như giá trị văn hoá khác, cần rầt nhiều thời gian để
được dân chúng công nhận và áp dụng. Đạo đức công vụ
chỉ là một khởi đầu nên chưa đi vào cuộc sống để trở
thành đạo đức nhà nước, mà trở ngại chính cho sư phát
triển này là quốc nạn tham nhũng đang hoành hành.

Trong hoàn cảnh hiện nay, dù có nhiều chiến dịch học tập
đaọ đức cách mạng để làm sống lại các giá trị đạo
đức nhà nước trước đây, nhung không thể là biện luận
thuyết phục cho các vi phạm pháp luật của Nhà nước ngày
càng trầm trọng.

<h2>Kết luận</h2>

Cá nhân và nhà nước phải tuân thủ luật pháp để duy trì
trật tự xã hội. Một nền văn hoá giáo dục trọng pháp sẽ
làm giảm đi vi phạm của cá nhân. Thay đổi hiến pháp, tôn
trọng chủ quyền nhân dân và cải thiện đạo đức nhà nước
sẽ đem lại niềm tin về giá trị của luật pháp. Đạo đức
cá nhân, tôn giáo, truyền thống giáo dục gia đình, trong chừng
mực nhất định, vẫn còn có thể tạo nên nền tảng cho sự
tuân thủ. Đó là những chủ đề đã thảo luận trong tiểu
luận này và chỉ là những lý giải thuần lý thuyết, hy vọng
sẽ có những công trình khác nghiên cứu nghiêm túc hơn và đem
lại nhiều thực chứng để bổ sung.

Tinh thần thượng tôn luật pháp của Việt Nam là tương lai
cuả một ảo ảnh hay là một hy vọng tìm thấy? Có thể là
cả hai. Triển vọng về một nền luật pháp nghiêm minh chỉ là
một ảo ảnh vì giáo dục đang xuống cấp và thành tựu cải
cách không thể tìm thấy trong một sớm một chiều. Trước
những biến chuyển liên tục của thời cuộc làm băng hoại
mọi giá trị tinh thần, một thiểu số ưu tư về tiền đồ
đất nước đang cố tìm ra trong truyền thống cao đẹp của
dân tộc những chân giá trị cần cứu vớt để bảo tồn và
phát huy. Can đảm chìm đắm trong thế giới viễn mơ này có
thể đem lại một cảm giác ấm áp về một thuở văn minh xa
xưa của đất nước thanh bình và hài hoà như là một giấc
mộng êm đềm. Đa số người Việt đều lạc quan và tự tin,
nhưng cũng cần thêm một chút lãng mạn để chúng ta cùng nhau
cứu vớt giấc mộng này, một hy vọng khởi đầu cho tương lai
huy hoàng về tinh thần thượng tôn luật pháp của Việt Nam./.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121003/do-kim-them-tinh-than-thuong-ton-phap-luat_2),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét