<h2>Vấn đề</h2>
Luật pháp là một hệ thống quy định trật tự xã hội, mà
cụ thể là giải quyết các tranh chấp, đề ra các hoạt động
hợp pháp, hợp pháp hoá về hình thức và nội dung các quyết
định của cơ quan nhà nước, tạo những kế hoạch chung cho
mọi sinh hoạt và trừng phạt những vi phạm luật pháp. Nếu
mọi người cùng ý thức tuân thủ và chính quyền thực hiện
tốt được các chức năng kiểm soát thì luật pháp trở thành
phương tiện đem lại hội nhập và bình an cho xã hội. Đây là
một khái niệm mà cũng là lý tưởng mà mọi người mơ ước.
Luật pháp tại Việt Nam là một thực trạng bi quan, vì luật
đã ban hành quá nhiều, nhưng chính quyền không gương mẩu áp
dụng, dân chúng không quan tâm tìm hiểu, kể cả luật giới
cũng không nắm bắt được vì chuyên môn hoá cao độ và chồng
chéo nhau. Nếu giáo dục xuống cấp, đạo đức suy đồi và vô
cảm lan rộng là nguyên nhân thì tội phạm lại tăng cao và
trật tự xã hội không thể duy trì là hậu quả.
Với một lạc quan rất dè dặt chúng ta tin là có một thiểu
số người đang và sẽ không vi phạm pháp luật, vì họ được
thụ hưởng đạo đức tôn giáo và giáo dục gia đình và mối
quan hệ giửa đạo đức cá nhân và xã hội này vẫn còn nằm
truyền thống văn hoá của người Việt. Ý thức chấp pháp
của một thiểu số đáng vinh danh này cũng là khởi điểm để
chúng ta cùng suy luận về một cho tương lai: Nếu cá nhân ý
thức giá trị của luật pháp và phát triển thành một loại
văn hoá để tuân thủ, thì hiệu ứng lan toả sẽ tạo thành
tinh thần thượng tôn luật pháp cho xã hội.
Vậy tinh thần thượng tôn luật pháp là gì, nó đến từ cá
nhân hay xã hội, và ai có thể tác động làm phát triển và
trong những điều kiện nào, đó là những chủ đề sẽ được
thảo luận sau đây.
<h2>Thuật ngữ</h2>
Khoa luật có ba phạm vi chủ yếu. <em>Thứ nhất</em> liên hệ
đến các phạm trù triết học, bàn tổng quát về lý thuyết,
thí dụ như khái niệm công bình, dân chủ, nhân quyền, tự do
và phân phối. Phương cách tiếp cận này nhằm đề ra mục
tiêu theo đuổi và lý giải tại sao phải làm luật mà không đi
sâu vào chi tiết kỷ thuật lập pháp.
<em>Thứ hai</em> là thực hiện chính sách lập pháp. Làm luật
là nhằm đề ra những quy phạm để áp dụng trong xã hội, đó
là các luật mang hình thức và nội dung cấm đoán. Luật pháp
được soạn thảo theo trình tự và kỷ thuật quy định thành
văn bản ghi rỏ thủ tục và nội dung để giải quyết vấn
đề cụ thể.
<em>Thứ ba</em> là mô tả và giải thích tác dụng cuả luật
pháp trong thực tại xã hội, mà người Việt có thói quen diễn
đạt là đưa luật pháp đi vào cuộc sống, một khiá cạnh
nghiên cứu thuộc về xã hội học luật pháp, công việc chủ
yếu của các nhà tội phạm học, tâm lý trị liệu và tâm lý
xã hội học. Qua phương cách tiếp cận này thì tìm hiểu về
hiệu năng cuả luật pháp dựa trên kinh nghiệm chấp pháp là
mục tiêu và tinh thần thượng tôn luật pháp là phương tiện.
Tinh thần thượng tôn luật pháp là một thuật ngữ được sử
dụng rộng rải trong luật giới miền Nam trước đây và không
liên hệ đến nhà nước pháp quyền, một khái niệm chỉ có
sau ngày Đổi Mới và đang gây nhiều tranh luận hiện nay mà có
hai chủ điểm là nội dung và dịch thuật cần phân biệt.
Về <em>nội dung</em> thì nhà nước pháp quyền
(<em>Rechtsstaatsbegriff</em>) là một học thuyết thuộc luật hiến
pháp của Đức nhằm đề cao tính cách tối thượng của hiến
pháp và luật pháp mà chính nhà nước cũng phải tuân thủ.
Liên Xô đã vận dụng và dịch thành <em>Pravovoe gosudarstvo</em>.
Việt Nam khi đổi mới đã du nhập cuả Liên Xô và cải biên
thành <em>nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa</em> (NNPQXHCN),
vì vẫn kiên định tiếp tục theo đuổi con đường XHCN. Do
bối cảnh này mà thành hình khái niệm.
Trên <em>lý thuyết</em>, Đảng xây dựng nhà nước chuyên chính
của liên minh công nông và tầng lớp trí thức, quản lý và
phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Pháp chế XHCN là một công cụ mà Đảng dùng để lãnh đạo
toàn diện và tuyệt đối nhà nước và tam quyền phân lập
chỉ là phối hợp và phân công trong nội bộ. Trong <em>thực
tế</em>, Đảng đặc biệt tôn trọng vai trò doanh giới do tư
bản thân tộc vây quanh và tạo thành nhóm lợi ích chi phối
toàn bộ các hoạt động kinh tế, một hình thức tư bản nhà
nước. Nghịch lý này còn kéo dài trong khi lý thuyết chuyên
chính NNPQXHCN vẫn chưa hoàn chỉnh.
Khi dịch thuật NNPQXHCN, Việt Nam lại dùng <em>Rule of Law</em>
của Anh ngữ để diễn đạt, một khái niệm nằm trong một
bối cảnh văn hoá, lịch sử và truyền thống khác hẳn.
<em>Rule of Law</em> là một học thuyết trong luật học, không
phải là một quy phạm luật pháp cụ thể, không có định
hướng ý thức hệ chính trị hay là một công cụ cho nhà
nước, mà là phương tiện kiểm soát và phải được tất cả
tôn trọng, kể cả Đảng cầm quyền. Dịch <em>Rule of Law</em>
là NNPQXHCN là một sai lầm mà có thể tạm dịch là <em>tinh
thần thượng tôn pháp luật</em>. Thuật ngữ này có hai phạm vi
riêng biệt, một thuộc luật hiến pháp và hai thuộc xã hội
học luật pháp.
Để tìm hiểu vấn đề tinh thần trọng pháp, tiểu luận này
sẽ thảo luận về mức độ vi phạm luật pháp cuả cá nhân
qua khảo hướng xã hội học luật pháp và mức độ vi phạm
cuả nhà nước qua luật hiến pháp.
<h2>Các mức độ vi phạm của cá nhân</h2>
Mỗi xã hội đều có những cấu trúc khác nhau và tạo ra một
loại giá trị hay mục tiêu chung. Luật pháp là một loại giá
trị văn hoá nằm trong khuôn khổ chung của xã hội và sự phát
triển nhân cách cá nhân là do giáo dục gia đình và xã hội
tạo thành. Tùy theo từng giai đoạn phát triển xã hội mà cá
nhân đề ra những giá trị khác nhau và coi là mục tiêu riêng
để theo đuổi. Luật pháp là giá trị chung vừa là phương
tiện thực hiện riêng, nên mục tiêu và phương tiện phải
nằm trong khuôn khổ mà xã hội cho phép, nghiả là phải hợp
pháp.
Muốn thành công, bất kỳ loại thành công nào và trong bất kỳ
trong xã hội nào, người ta cần phải xác định mục tiêu trong
hoàn cảnh nhất định, tìm ra phương tiện thích hợp nhưng
hợp pháp và nổ lực thực hiện. Nếu thành công hay thất baị
là một tiêu chuẩn đánh giá cho xã hội và cá nhân, thì kết
quả này đều có quan hệ mật thiết đến luật pháp,vì luật
pháp cho phép và tạo phương tiện. Do đó, các nhà tội phạm
học bàn đến một số thái độ đặc trưng về tinh thần
trọng pháp của cá nhân.
Một người sinh ra trong một gia đình có quyền thế trong xã
hội, được học hành đầy đủ, có đủ thông minh và quen
biết nên mọi thăng tiến cá nhân, nghề nghiệp, gia đình và
xã hội đều dể dàng. Thành công sẽ giúp cho cá nhân chấp
nhận mọi giá trị xã hội trong đó có khuynh hướng tôn trọng
luật pháp vì họ không có lý do bất mãn xã hội và cá nhân.
Trong hoàn cảnh ngược lại, người thất bại sinh ra oán trách
thân phận và bất mãn xã hội. Chuyện tuân thủ luật pháp có
phần phức tạp hơn vì tùy theo mức độ cảm nhận mà sẽ có
bốn loại phản ứng khác nhau:
<em>Một</em> là một số người thất bại có thể lập luận
cứu cánh biện minh phương tiện, dùng mọi phương cách, kể
cả vô đạo đức và phạm pháp để đạt mục tiêu cuả mình.
Khuynh hướng của giới này cho là tuân thủ luật pháp sẽ
không đạt mục tiêu. Giết người đoạt của làm phương tiện
hưởng thụ và mua bằng và chạy chức để đạt danh vọng là
thí dụ quen thuộc.
<em>Hai</em> là khi chấp nhận thất bại, một số khác lại từ
bỏ mục tiêu theo đuổi và cố tìm một phương thức thích nghi
nào đó cho riêng mình dù là giả tạo hay tạm thời. Không
phạm pháp để mưu tìm thành công, nhưng khi họ tuân hành luật
pháp, nếu có, chỉ là một vấn đề hình thức, vì không đến
từ thực tâm nhận chân giá trị cao cả của luật pháp.
<em>Ba</em> là một số khác lại có thái độ chống đối giá
trị xã hội, một phản ứng nhằm từ bỏ mọi ràng buộc trong
thực tại và tìm quên trong những phương thức khác mà người
nghiện rượu và ma túy là thí dụ. Đối với họ, luật pháp
không có giá trị thiết thực cho cuộc sống.
<em>Bốn</em> là loại thái độ đối nghịch với ba thái độ
trên. Dù bị thất bại, nhưng với nghị lực, một số người
có thái độ chống đối và có ước mơ làm cách mạng để
thay đổi cá nhân và xã hội. Họ bất mãn thường trực chính
quyền và đòi hỏi thay đổi chính sách hay luật lệ. Hình
thức nổi loạn bạo động hay biểu tình chống đối ôn hoà
là những biểu hiện thường thấy.
Tựu chung, tinh thần thượng tôn luật pháp là phản ứng phức
tạp của từng cá nhân và diễn biến khác nhau trong từng giai
đoạn, tùy thuộc vào mức độ thành công hay thất bại, nhưng
quan trọng nhất làm khởi điểm cho tinh thần này là sự thay
đổi tâm lý và trí thức.
<h2>Điều kiện tâm lý cá nhân</h2>
Ý thức về giá trị luật pháp là một cảm nhận cá nhân mà
ba điều kiện cần thiết cho sự hình thành như sau.
<h3>Tránh hậu quả trừng phạt </h3>
Nếu không chấp hành luật giao thông thì chết và bị thương
là hậu quả có thể xãy ra và không đóng thuế đầy đủ và
đúng lúc thì khi bị phát hiện sẽ bị tiền nộp phạt nặng
hơn. Thí dụ này cho thấy ý thức về mức độ thiệt hại khi
vi phạm luật pháp là chính, tránh hậu quả cuả trừng phạt
là chuyện mà không ai muốn xãy ra. Cá nhân tuân thủ luật pháp
là một quyết định thuần lý theo quan điểm kinh tế, một sự
cân nhắc lợi hại cụ thể và không quan tâm về giá trị cao
cả trong luật pháp.
<h3>Tuân theo thái độ tập thể</h3>
Thái độ đa số sẽ ảnh hưởng đến quyết định cá nhân,
kể cả tuân thủ pháp luật. Một vấn đề quen thuộc trong gia
đình, trường học hay tập thể là con người có thói quen bắt
chước người khác. Làm không giống ai sẽ gây nhiều ngờ vực
và khó chịu, một điều cấm kỵ và không muốn mình bị cô
lập trong sinh hoạt chung. Không hẳn theo quyết định kinh tế,
nhưng người ta bắt chước người khác vì theo quán tính, môi
trường, noi gương theo tập thể hay để duy trì mối quan hệ
với tập thể. Trưởng thành trong xã hội đen thì cá nhân
không có gương tốt nào để tuân thủ luật pháp và vấn
đề giá trị luật pháp không thể đặt ra.
<h3>Cảm nhận giá trị.</h3>
Cảm nhận luật pháp có một nội dung đúng đắn và phương
tiện chính đáng cho riêng mình và là giá trị cao cả chung cho
xã hội có thể là một ý thức cá nhân mang thái độ độc
lập. Theo quan điểm này, tuân thủ luật pháp không vì sợ bị
trừng phạt, theo quyền lợi phe nhóm, thành công hay thất bại,
không đến từ áp lực, tăng uy tín hay giảm thiệt hại cá
nhân, mà cảm nhận giá trị là khởi điểm cho ý thức.
<h2>Điều kiện trí thức cá nhân</h2>
Tránh hậu quả bị thiệt hại kinh tế, tùng phục giá trị
của tập thể và cảm nhận giá trị là những thái độ tâm
lý nội tại, ngoài ra cá nhân còn cần đến điều kiện trí
thức như là kiến thức, ý thức và đạo đức về luật pháp
để thể hiện tinh thần trọng pháp.
<h3>Kiến thức về luật pháp.</h3>
Kiến thức là khởi điểm cho ý thức và có kiến thức về
luật pháp thì mới ý thức để tuân thủ luật pháp. Trình
độ dân trí và quan trí đã được thảo luận nhiều, nhưng có
ba lý giải cho sự tụt hậu hiện nay.
<em>Một</em> là do kết quả của giáo dục từ nhiều thế hệ.
Luật giới là hạt nhân để giới thiệu giá trị của luật
pháp, nhưng lại bị đảo thải bởi tình thế và thời gian.
Với quan điểm chuyên chính vô sản và trường Đảng quan
trọng hơn trường Luật nên miền Bắc không đào tạo luật
giới trong suốt thời kỳ chiến tranh và sử dụng luật giới
do thực dân để lại để phục vụ chế độ. Đến khi hoà
bình tái lập, luật giới miền Nam không thể phát huy kỷ năng
vì muốn được yên thân và đóng cửa trường Luật là một
nhu cầu để xây dựng XHCN cho cả nước.
Từ ngày Đổi Mới, mở rộng thị trường là chuyện cải cách
sinh tử, thay đổi luật pháp không là nổ lực ưu tiên để
tìm ra giá trị nội tại của luật pháp, mà nhằm đáp ứng nhu
cầu của tình thế và chủ yếu là theo nguyện vọng của doanh
giới và các định chế tài trợ, một sư gieo cấy gấp rút
các mô hình luật pháp ngoại lai và là giai đoạn khởi đầu
trong công cuộc xây dựng. Đến nay, các công trình nghiên cứu
về NNPQXHXN chỉ là một giáo trình dành cho sinh viên, không hơn
và không kém, do nhu cầu nghiên cứu không được quan tâm đúng
mức và thành quả không có hiệu ứng lan toả.
Suốt nhiều thế hệ hệ thống giáo dục không có một tinh
thần trọng pháp và không đào tạo những nhà văn hoá và nhà
luật học có tầm vóc quốc gia và quốc tế, nên tụt hậu
kiến thức luật pháp của toàn xã hội là tất yếu.
<em>Hai</em> là đặc điểm của luật học, một lĩnh vực ngày
càng phức tạp và chi phối mọi sinh hoạt xã hội. Tình trạng
này các nước đều gặp phải và Việt Nam cũng không thể khác
hơn. Lập luận chung đều công nhận là luật pháp có nhiều
nhưng không ai hiểu rỏ, nên việc tìm hiểu một lĩnh vực
chuyên đề là không cần thiết, kể cả luật giới.
<em>Ba</em> là mất niềm tin về giá trị cuả luật pháp là một
thực tế trầm trọng hơn. Đa số cho là luật pháp không cần
thiết để giải quyết tranh chấp mà quyền lực, thân tộc và
tiền cuả có thể mua luật và làm luật có lợi cho mình, một
phương tiện nhanh nhất khi hữu sự. Do đó, nâng cao kiến thức
luật pháp của cá nhân không được quan tâm.
Dù có những chiến dịch đề cao „Sống và làm việc theo pháp
luật" và nổ lực phổ biến những tin tức mới về sự thay
đổi luật pháp, thực tế thì chỉ là phong trào nhất thời,
một hình thức để đưa Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc
sống, nên nó không đem lại ý thức sâu xa về giá trị tự
tại cuả luật pháp. Một nền giáo dục tự do, nhân bản và
khai phóng sẽ mang lại kiến thức này và thành quả phải
được tính bằng nổ lực cuả nhiều thế hệ để trở thành
ý thức.
<h3>Ý thức về luật pháp.</h3>
Các nhà tâm lý học phân biệt có hai khái niệm khác nhau trong
đời sống tâm lý con người: ý thức và cảm giác. Các luận
điểm này cũng được các nhà xã hội học luật pháp áp dụng
để lý giải về tinh thần thuợng tôn pháp luật.
Ý thức luật pháp là một diễn trình tâm lý, do đào tạo quy
mô mà ra, có tính thuần lý vì do lý trí hướng dẩn và được
đãi lọc qua thời gian. Học vấn và kinh nghiệm giúp nâng cao
trình độ lý luận và khả năng phán đoán về tính hợp pháp
của vấn đề. Kinh nghiệm về văn hoá luật pháp sẽ tạo một
loại trực giác bén nhạy để tìm ra một lý giải ban đầu cho
vấn đề và ý thức là phương tiện rà soát lại trực giác
nhầm tìm ra giải pháp đúng đắn hơn. Qua thời gian, ý thức
về luật pháp sẽ tạo nên một thái độ chung đối với pháp
luật, một loại trách nhiệm cá nhân đối với xã hội, đôi
khi được gọi là đạo đức. Cũng có trường hợp người
hiểu luật nhưng không để tuân thủ mà tìm phương cách né
tránh hậu quả vì tư lợi.
Ngược lại, cảm giác hay trực giác là những đột biến trong
tư duy, có thể do phong trào hay biến cố tác động, nhưng cần
kiểm chứng vì có thể không thuần lý. Tinh thần thượng tôn
luật pháp đến từ ý thức về luật pháp hay bức xúc trước
các bất công xã hội?
Bức xúc do cảm xúc từ lương tâm, một loại trực giác, một
tâm trạng vừa bất bình về hiện tình và lại là hy vọng về
một sự thay đổi trong tương lai. Đối với nhà tâm lý học
đây là một phản ứng nhất thời, nhưng đối với luật giới
lại là một tình huống làm cơ sở để so sánh và tìm cách
thay đổi qua các quy phạm luật pháp mới.
Thực ra, tinh thần thượng tôn luật pháp là một tổng hợp
của suy luận trí thức và trực giác, cả hai tác động vào
nhau trong một thực tế xã hội sinh động và không ai có thể
lường trước được kết quả. Cảm xúc nhất thời dù là
biểu hiện giai đoạn, nhưng lại là khởi đầu cần thiết, có
thể gây vang động và đôi khi thắng thế hơn ý thức về
luật pháp. Theo lý thuyết thì hai bất công xã hội quan trọng
nhất gây nhiều tranh luận là công bình trong phân phối và trao
đổi. Nhưng hiện nay học giới phương Tây có khuynh hướng cổ
vũ cho công bình trong cơ hội và công bình trong thủ tục, hình
thức tối thiểu để thực thi công bình trong thực tế.
Hegel minh chứng là ý thức về luật pháp là một lối diễn
đạt về tinh thần lý trí khách quan và bức xúc theo công lý
tự nhiên khó kiểm chứng bằng lập luận. Luật giới lập
luận rằng phản ứng trước bất công là cần thiết nhưng
chưa đủ và ý thức luật pháp với luận chứng khoa học khách
quan sẽ thuyết phục hơn. Điều kiện để ý thức này thành
hình và phát triển chỉ có ở các nước có dân chủ thực
sự, vì đó chính là nơi mà các quyền đóng góp ý kiến về
thay đổi luật pháp của người dân được tôn trọng. Ý kiến
đa số này định hướng cho học giới và chính giới thực
hiện lập pháp. Từ đó mà người dân có khuynh hướng tuân
theo luật pháp vì mình là tác giả.
Phức tạp hơn khi đặt ý thức luật pháp trong mối quan hệ
với tinh thần dân tộc. Đa số có khuynh hướng theo quy luật
tự nhiên, một cảm xúc chung và mơ hồ, để chống bất công
hơn là một ý thức luật pháp theo tinh thần thuần lý. Luật
giới dè dặt hơn khi lập luận là cảm xúc bất công dể bị
nhà cầm quyền lợi dụng, nên cần rà soát xem ai có đủ
quyền thế để huy động các bức xúc được thể hiện trong
thực tế để nhận xét. Phản ứng của xã hội đen và thờ ơ
của chính quyền cho thấy là bức xúc tự phát không thể tạo
giá trị lâu dài cho luật pháp mà chỉ mang đến bất ổn
thường trực cho xã hội. Do đó, hy vọng còn lại cho sự phát
huy tinh thần trọng pháp là do đạo đức cá nhân.
<h3>Đạo đức về luật pháp.</h3>
Một số nhà đạo đức học phương Tây cho là với tinh thần
đạo đức tổng quát về luật pháp là đủ, không cần kiến
thức chuyên môn và ý thức luật pháp. Cụ thể hơn, người
dân coi hệ thống luật pháp như một máy vận hành mà công
nhân sử dụng trong công nghiệp, có nghiả là chỉ biết sử
dụng máy khi cần và kêu cứu sửa chứa khi máy không chạy.
Tùy theo trình độ tuổi tác, giáo dục vả mức độ thông tin
người ta có thể sử dụng máy một cách khác nhau, mức độ
áp dụng về cách vận hành của guồng máy luật pháp cũng
tương tự. Điều kiện tiên quyết là dân chúng tin máy sẽ
chạy, một giá trị chung cho sinh hoạt xã hội và phù hợp với
công lý mà trong Anh ngữ gọi chung là genreal sense of justice.
Khái niệm tổng quát về công lý này khá mơ hồ nhưng là một
khởi điểm cho hy vọng. Khi tìm đến xã hội thì mổi cá nhân
đều có cảm xúc riêng, xem mình là một cá thể yếu đuối
trong xã hội, một loại tự ti mặc cảm, luôn cần đến xã
hội. Xã hội là một chổ dựa mà công bình là một hy vọng
cuả tất cả mọi người về sự chung sống hài hoà. Ngoài
cảm xúc còn có lương tâm. Lương tâm cá nhân hiểu đơn giản
là một loại tiếng lòng trước vấn đề đạo đức mà mặc
cảm tội lỗi là một thí dụ điển hình vì sự trừng phạt
không đến từ luật pháp hay dư luận.Tự kiểm là tư phê bình
là một thước đo quen thuộc của người Việt trong sinh hoạt
tập thể, nó giúp cá nhân tự thể hiện mình trong sinh hoạt
xã hội và tạo thành lương tâm chung.
Có hai đề tài công bình được ngưòi Việt thảo luận sôi
nổi, một là những người đóng góp xương máu trong chiến
tranh không được đãi ngộ xứng đáng trong thời bình và hai
là nhiều thành tựu trong sự nghiệp Đổi Mới không được
phân bổ tương xứng theo nổ lực đóng góp. Còn tự kiểm thì
ai cũng biết là một hình thức tha thứ cho nhau trong tinh thần
chín bỏ làm mười cuả nội bộ và không đủ giá trị để
trở thành lương tâm tập thể.
Tại phương Tây các lập luận về đạo đức cá nhân khó
thuyết phục được luật giới. Họ phê bình là đạo đức
là do sự phát triển nhân cách, thuộc về lĩnh vực đạo đức
học, giáo dục và tâm lý xã hội học hơn là luật học. Do
đó, các kiểm nghiệm không thể là cơ sở khách quan để đề
ra chính sách luật pháp thích hợp. Gần đây, những khám phá
mới thuộc hoạt động nảo bộ cuả các nhà thần kinh bệnh
học và tâm lý trị liệu đã làm thay đổi về chính sách về
hình sự, đặc biệt xét lại khung hình phạt đối với các
phạm nhân mang trọng tội.
Điều này khác hẳn với bối cảnh văn hoá Việt Nam, nơi mà
đạo đức và luật pháp không có một biên giới rỏ rệt mà
sự phân biệt chỉ dành cho học giới nhiều hơn trong công
luận. Văn hoá, tôn giáo, truyền thống phương Đông, đạo lý
ở đời và bổn phận là một loại văn hoá tổng hợp góp
phần quan chính trong việc phát triển nhân cách, tư duy, kể cả
nghiã vụ đối với pháp luật. Người Việt coi ý thức trách
nhiệm của cá nhân đối với gia đình và xã hội như một
phạm vi tổng hợp trong một tinh thần liên đới, một loại ý
thức cộng đồng và gia đình mạnh hơn quyền lợi cá nhân.
Trách nhiệm đối với luật pháp và hy sinh của cá nhân trước
lợi ích tập thể trở thành truyền thống. Khi đặt vấn đề
tinh thần này nằm trong phạm vi đạo đức cá nhân và xã hội
thì được người Việt dể dàng chấp nhận hơn người phương
Tây. Do đó, đạo đức cá nhân, trong chừng mực nhất định,
sẽ nâng cao tinh thần trọng pháp.
(còn tiếp)
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121002/do-kim-them-tinh-than-thuong-ton-phap-luat_1),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét