Nguyễn Đình Chú - Một thoáng cung chiêm đệ nhất minh triết Trần Nhân Tông

Sách <em>"Tự điển bách khoa Nho – Phật – Đạo"</em> của
Lão Tử – Thịnh Lê (chủ biên) đã giới thiệu khái niệm minh
triết trong thành ngữ "minh triết bảo thân" (minh triết giữ
mình) rằng: <em>"Thái độ xử thế của Nho gia. Minh triết:
hiểu biết gọi là minh triết (Thượng Thư – Duyệt mệnh
thượng) tức người hiểu biết sâu sắc về sự lý. "Ký minh
thả triết, dĩ bảo kỳ thân" (Thi – Đại Nhã – Chưng dân)
ý nói người thông hiểu sự lý thì biết đến chỗ yên ổn,
tránh chỗ nguy hiểm, giỏi về việc bảo tồn thân mình. Khổng
Tử: "Thiên hạ có đạo thì ra giúp đời, vô đạo thì đi ở
ẩn" (Thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắc ẩn)
(Luận ngữ – Thái Bá) cũng với ý "minh triết bảo thân".
Sau trở thành thành ngữ, ý nói giữ gìn đạo trung dung, việc
không liên quan đến mình thì gác bỏ để bảo toàn tính mệnh
và lợi ích của mình"</em>(1).

Riêng về chữ <em>"triết"</em>, sách <em>"Tìm về cội
nguồn chữ Hán"</em> của Lý Lạc Nghị cũng định nghĩa:
<em>Triết</em>: nghĩa gốc là <em>"minh trí"</em>, mở rộng
thành <em>"người tài trí"</em>. <em>Thượng thư</em>: phải là
bậc triết (hiền tài) mới đánh giá người ta"(2).

Mặc dù đã có những lời giới thuyết về khái niệm
<em>"minh triết", "triết"</em> như thế, tôi vẫn muốn nói
đến <em>"minh triết"</em> với một nội hàm ít nhiều khác,
bởi lẽ minh triết đành là sự hiểu biết và từ đó dẫn
đến cách xử sự giữa cuộc đời nhưng phải là sự hiểu
biết ở độ tinh túy nhất, cao diệu nhất. Minh triết là trí
khôn nhưng không phải trí khôn thông thường, trí khôn của
mọi người, mà phải là trí khôn trên tầm mọi người, thậm
chí là trên mọi thời đại. Vì ở đây triết đi liền với
minh: minh triết, chứ không chỉ là triết. Ngay đến hai chữ
<em>"bảo thân"</em> trong mệnh đề <em>"minh triết bảo
thân"</em> thì cũng cần một chút hiểu khác về nội dung của
nó. Bảo thân là giữ mình để tránh nguy hiểm. Nhưng bảo thân
còn có thể hiểu là giữ mình, là tu thân, là đưa mình tới
độ cao khiết.

<center><img
src="http://trannhantong.net/wp-content/uploads/2012/10/clip_image001.jpg"
/></center>
<em><center>Lễ kỷ niệm 700 ngày Phật Hoàng Trần Nhân Tộng
nhập Niết Ban tại Quảng Ninh </center></em>

Rồi nữa, <em>"minh triết"</em> đã được chuyển dịch sang
tiếng Pháp là <em>"la sagesse"</em> mà <em>"Pháp Việt tự
điển"</em> của Đào Duy Anh đã dịch là "trí, tính khôn
ngoan, minh mẫn, trí tuệ, trí năng…". Nhưng tôi vẫn muốn
nghĩ rằng khái niệm <em>"minh triết"</em> và khái niệm
<em>"sagesse"</em> vẫn có mức độ tinh túy, cao diệu khác nhau
ít nhiều vì <em>"minh triết"</em> là sản phẩm của văn hóa
phương Đông cổ đại vốn có độ thăng hoa về tinh thần nổi
trội hơn <em>"sagesse"</em> là sản phẩm của văn hóa phương
Tây. Hiện nay, ở phương Tây có khuynh hướng tìm đến phương
Đông cổ đại chẳng phải là vì thế sao.

<center>***</center>

Từ những điều được nói trên đây có thể là rất chủ
quan, tôi xin được coi Trần Nhân Tông là đệ nhất minh triết
của Việt Nam ở thời trung đại, bởi thấy ở thời trung
đại này, không một nhân vật vĩ đại nào có được mấy
điểm sau đây:

1- Có đủ <em>"tam bất hủ"</em> (ba giá trị không bị mai
một: lập đức, lập công, lập ngôn). Đây là một bảng giá
nhân cách được nêu ở sách <em>Tả truyện</em> của Trung Hoa
và đã được Phan Bội Châu lý giải trong luận văn <em>"Vấn
đề giáo dục công dụng và giá trị của văn chương"</em>(3)
như sau:

<div class="special_quote"><em>"Tả truyện có mấy câu nói rằng:
"Thái thượng lập đức, kỳ thứ lập công, hựu kỳ thứ
lập ngôn". Dịch nghĩa: người ở đời cao thứ nhất là một
hạng người lập nên đạo đức; lại thứ hai nữa là hạng
người lập nên công nghiệp lớn; lại thứ xuống nữa thì
hạng người lập ngôn. Ba hạng người ấy, rặt là những
người có ích cho loài người; phải nhận cho là có giá
trị.</em>

<em>Lập đức là một hạng người gây dựng nên một nền
đạo đức. Tỷ như: Đức Phật Thích Ca, Đức Thánh Giêxu,
mỗi người có lập thành một khuôn đạo đức, mà giữa bản
thân các Ngài ấy, vẫn cũng đáng làm một cái gương đạo
đức cho trong đời. Đức Thích Ca thì cốt cái chủ nghĩa Phật
với chúng sinh bằng một lớp "Phật sinh bình đẳng". Đức
Giêxu thì cốt cái chủ nghĩa yêu người như yêu mình "ái
nhân như kỷ", thật rõ ràng là một hạng người lập đức
mà ở trong loài người, không ai siêu việt hơn được nữa.
Còn thứ nữa là hạng người lập công. Lập công như thế
nào? Đụng gặp ở trong đời ấy, có đại tai đại nạn mà
nhờ người ấy cứu vớt xong; có đại lợi đại phúc mà vì
người ấy gây dựng nên. Tức như nước Tàu, nhờ có vua Hạng
Vũ mà trị được họa hồng thủy, nước Tây nhờ có ông Kha
Luân Bố mà phát hiện được Mỹ châu; nước ta nhờ có vua
Quang Trung mà đuổi được giặc Mãn Thanh. Những người ấy
chính là hạng người lập công, so với người lập đức, vẫn
không in nhau, cũng là hạng người có công lớn với đời và
người ta, cũng nhận cho là có giá trị nặng lắm. Còn thứ
xuống nữa là hạng người này: Kể về phần đức, chỉ là
đức thông thường, kể về phần công, không có công gì trác
việt, nhưng mà tấm lòng đau đời xót tục, đôi tay chữa cháy
vớt chìm, chẳng khác gì lập đức lập công đâu. Nhưng hoặc
vì thời thế gay go, hoặc vì chủ nghĩa trái tục, hoặc vì
năng lực còn kém, hoặc vì địa vị còn thua mà không thể làm
được những việc như các người trên kia nói, vạn bất
đắc dĩ, mới phải mượn ba tấc lưỡi làm bộ máy xoay đời,
cậy một ngòi lông làm khuôn lò nấu tục, mà các nhà lập
ngôn mới nảy ra Khổng Tử vì sao có lục kinh? Mạnh Kha vì sao
có thất thiên"</em>(4).</div>

Đối chiếu với những lý lẽ trên đây về <em>"tam bất
hủ"</em>, tôi thấy trong lịch sử Việt Nam trung đại, không
ai đáng được coi là đệ nhất minh triết bằng vua Trần Nhân
Tông. Trong cuộc đời của Ngài, ba thứ <em>"lập"</em> đó
vừa đan xen nhau vừa có trước có sau, và lập đức là nền
tảng. Nhưng ở đây, xin theo trình tự mà quan niệm <em>"tam
bất hủ"</em> đã nêu lên để nói một đôi điều.

- Trước hết là lập đức, thì đúng là Trần Nhân Tông chưa
có thành quả ngang tầm Đức Phật Thích Ca, Đức Thánh Giêxu,
nhưng trong giới hạn của lịch sử Việt Nam thì rõ ràng Ngài
xứng đáng là người lập đức. Đó chính là tư tưởng Phật
giáo có nguồn gốc Ấn Độ được du nhập vào Việt Nam ta từ
đầu Công nguyên, được thời đại Lý – Trần về sau đưa
lên vị trí quốc giáo và đã từng một thời góp phần làm
nên sự sống vàng son cho đất nước Việt Nam, trong đó có vai
trò quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm mà Đại thánh Trần
Nhân Tông là vị tổ thứ nhất (đệ nhất Tổ) do đã dân tộc
hóa được phần nào Phật giáo ngoại lai theo tinh thần
<em>"Tam giáo đồng nguyên"</em> và nhập thế dưới hình
thức xuất thế. Quả thật, đây là kho báu nhân văn cao đẹp
nhất trong lịch sử tư tưởng Việt Nam ở thời trung đại và
vẫn có giá trị lớn lao với thời hiện đại, kể cả tương
lai. Người Việt Nam có đại nhãn đại thức hôm nay hẳn là
phải cầu nguyện cho kho báu tâm linh này được phục hưng,
trỗi dậy hoằng dương hơn nữa trong hoàn cảnh hội nhập
quốc tế đang rất sôi động, rất rộn ràng chưa từng có
trên đất nước thân yêu, mà trong đó cái được cũng nhiều
nhưng cái mất cũng lắm, một khi mà chủ nghĩa thực dụng tầm
thường, chủ nghĩa <em>"Macmitit"</em> (chủ nghĩa cải niêu),
kể cả chủ nghĩa vô thần một cách dại dột đang là sự
thật gây nhiều bức xúc. Những tiến bộ trong chính sách tôn
giáo của nhà nước, trong đó có phần coi trọng Phật giáo là
điều rất đáng mừng cho đất nước. Cứ nhìn vào cảnh
tượng các thiện nam tín nữ, cả già lẫn trẻ, khách thập
phương ngày ngày trẩy hội Yên Tử, chùa Hương… đông vui
hơn; cứ nhìn vào việc tái thiết Tây Thiên Trúc Lâm thiền
viện tại Vĩnh Phúc; việc xây dựng khu tâm linh Phật giáo Bái
Đính ở Ninh Bình… cùng với việc khôi phục lại nhiều chùa
chiền ở nhiều nơi trên cả nước… ai mà không ấm lòng, ít
ra cũng thấy mảnh đất mà chân mình đi giữa cuộc đời này
chưa đến nỗi hẫng hụt. Và xin đừng quên điều này: chính
người lập đức là <em>Đại Thánh Trần triều Trúc Lâm Đầu
Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự cổ Phật Trần Nhân
Tông</em> đang hiện diện với đất nước hôm nay và chắc
chắn là cả mai sau.

- Về tư cách người lập công Trần Nhân Tông thì đã quá rõ.
Ngài là vị vua trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến
chống Nguyên – Mông lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (1287-1288)
thắng lợi mà sử sách bao đời nay đã tôn vinh. Vấn đề là
cần hình dung cho hết tầm vóc vĩ đại của công lao này bằng
cách nhìn rõ hơn nữa tương quan lực lượng giữa ta và địch,
cùng điều kiện đơn thương độc mã của dân tộc ta thuở
ấy vốn đất chưa rộng, dân chưa đông, thế mà tiếp theo
chiến thắng lần thứ nhất (1258) đã thêm hai lần chiến
thắng đế quốc Nguyên – Mông khổng lồ nhất của thế giới
trong thời trung đại. Lập công như thế, trong thời trung đại,
hỏi ai bằng?

- Rồi nữa là việc lập ngôn của Trần Nhân Tông thì các sách
văn học sử, các hợp tuyển thơ văn xưa nay cũng đã cho biết
phong phú là thế nào. Chỉ tiếc là phần còn lại so với
những gì đã có chẳng đáng là bao. Tuy vậy cũng đủ cho hậu
thế hình dung phần nào tầm vóc tư tưởng, nhân cách, tâm hồn
và tài năng của nhà văn hóa, nhà thơ Trần Nhân Tông.

2- Có hai điều nữa hoặc là nổi trội, hoặc là hiếm có trên
cương vị một bậc minh quân. Lịch sử trung đại Việt Nam
cũng không hiếm những bậc minh quân. Và đã là minh quân thì
tất nhiên ai cũng có những nét đẹp trong nhân cách, trong sự
nghiệp, trong cuộc đời. Nhưng quả thật chưa thấy có vị minh
quân nào có được một điều nổi trội và một điều hiếm
thấy lạ như vị minh quân Trần Nhân Tông.

a) Điều nổi trội là khả năng gây dựng khối đoàn kết trong
nội bộ vương triều và quan trọng hơn là với cả cộng
đồng dân tộc. Điều này, sử sách cũng đã nói nhiều, tôi
chỉ xin nói lại một hành động của Thượng hoàng Trần Thánh
Tông nhưng cũng có phần của vua Trần Nhân Tông đã làm ngay sau
khi chiến thắng giặc Nguyên – Mông, được sử gia Ngô Sĩ
Liên chép lại trong <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em> như sau:

<em>"Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại
nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc
thua, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng sai
đốt để yên lòng những kẻ phản trắc".</em>

Phải nói đây là một cách hành xử vượt hẳn lên trên sự
thông thường. Thông thường là sau chiến thắng thì phải
trừng trị những kẻ phản trắc. Nhưng đây lại không. Không,
để kẻ phản trắc an tâm quay về với chính nghĩa, với dân
tộc. Không, để tránh sự trả thù nhau trong nội bộ người
dân. Quan trọng hơn là củng cố khối đoàn kết dân tộc để
phát triển đất nước. Có dịp xem xét một cách hệ thống
các tình huống đối xử với những kẻ phản trắc trong lịch
sử sau những lần chiến thắng ngoại xâm, càng thấy cách cư
xử của Nhị thánh: Trần Thánh Tông và con là Trần Nhân Tông
mới thấy cao siêu làm sao. Tiếc là đời sau, đã không biết
học đời xưa, đã gây nên những tổn thất đáng tiếc. Đời
Trần, sau chiến thắng Nguyên – Mông, cả dân tộc đoàn kết
trọn vẹn đến mấy vương triều sau mới có chuyện lục
đục, chính là nhờ có Nhị Thánh minh quân đó. Chứ đến
triều Lê sơ, ngay sau chiến thắng giặc Minh thì đã có chuyện
mấy vị đại công thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo,
Lê Sát bị sát hại, dù đây mới chỉ là sự rạn nứt trong
nội bộ vương triều chứ chưa phải là ở phạm vi dân tộc
như về sau. Chuyện vừa nhắc lại là thêm một chứng cứ để
nghĩ về vai trò của Phật giáo đời Trần, một tôn giáo có
tình thương bao la hơn bất cứ tôn giáo nào, mà với ai đó, có
thể cho là không tưởng, là thủ tiêu đấu tranh, nhưng nghĩ cho
kỹ, chính đó mới là điều diệu kỳ, cần nhất cho sự sống
nhân gian mà Nhị Thánh đã thể hiện.

b) Điều hiếm lạ là đã làm vua mà lại không chịu để mình
rơi vào bi kịch của người cầm quyền. Với người cầm
quyền, có bi kịch dù ít dù nhiều vốn là quy luật khắc
nghiệt, khách quan trong sự sống. Cứ nhìn nhận một cách lạnh
lùng vào lịch sử nhân loại, cổ kim, đông tây, có đúng thế
không? Nhưng với vua Trần Nhân Tông thì xem ra có khác. Được
vua cha truyền ngôi thì làm vua là để xây dựng vương triều,
để lãnh đạo đất nước chống kẻ thù xâm lược, giành
độc lập dân tộc, làm thêm việc này việc khác ích quốc
lợi dân, nhưng rồi <em>"tri chỉ"</em> (biết dừng), chuyển
sang làm Thái Thượng hoàng, đóng vai trò quân sư, nhưng rồi
lại <em>"tri chỉ"</em>, từ giã hẳn cung điện, ngai vàng,
lên Yên Tử, sống với mây trời gió lộng, với thiên nhiên
cây cỏ, giữa núi đồi lớp lớp, khổ luyện để thành Đệ
nhất Tổ của Thiền phái Trúc Lâm mà hình thức thì có vẻ
như lánh đời nhưng bản chất lại là một phương thức xây
dựng cuộc sống lấy tâm linh, lấy tình thương mênh mông bao la
chúng sinh, kể cả muôn loài làm nền tảng. Hãy từ triết học
mà nghĩ cho thật đến nơi đến chốn về sự sống con người
vốn thiên hình vạn trạng trên trái đất này để ngộ ra chân
lý đó. Ít ra cũng thấy ở đây, trong trường hợp vị đại
đế đã thành Đại thánh Trần Nhân Tông, cách cư xử đó cũng
tránh cho mình cái bi kịch trần gian mà tạo hóa đã bắt những
người cầm quyền từ cổ chí kim trên trái đất này hoặc ít
hoặc nhiều đã phải nhận lấy dù trong số đó đã không ít
là vĩ nhân, đại vĩ nhân.

Bạn đọc kính mến!

Một thoáng – mới là một thoáng thôi, cung chiêm Đức Đại
Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng
Điều Ngự cổ Phật Trần Nhân Tông, tôi đã nghĩ vậy, đã
mệnh danh Ngài là đệ nhất minh triết của Việt Nam (hẳn cứ
nói trong phạm vi thời trung đại đã) – không biết có được
không. Xin quý vị vui lòng chỉ bảo thêm. Xin cảm ơn trước.

Yên Hòa thư trai

————-

(Nhân dịp kỷ niệm 700 năm qua đời của Đệ nhất Tổ Trúc
Lâm Trần Nhân Tông)

(1) Do nhóm Trương Đình Nguyên biên dịch, NXB Văn học, Hà Nội,
2001.

(2) Do nhóm Jim Water, Nguyễn Văn Đồng, Phùng Phương Nhi biên
dịch, NXB Thế Giới, Hà Nội, 1998 (tái bản).

(3) Xem: Phan Bội Châu toàn tập – Tập VII, Chương Châu biên
soạn, NXB Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà
Nội.

(4) Lục Kinh: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, Bảy Thiên:
Sách Mạnh Tử gồm bảy thiên. Mạnh Kha là tên của Mạnh Tử.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121025/nguyen-dinh-chu), một số đường
liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé
thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể
bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách
vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét