Mai Thái Lĩnh - Trao đổi ý kiến về bản Hiến Pháp 1946

<div class="boxleft300"><img
src="http://danluan.org/files/u23/hienphap1946_danluan.jpg" /><div
class="textholder">Hiến Pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
1946</div></div>Gần đây, trong <a
href="http://boxitvn.blogspot.co.at/2012/09/gia-tri-cua-hien-phap-nam-1946-so-voi.html">một
bài viết</a> gửi đăng trên Bauxite Vietnam<em>[1]</em>, tác giả
Phan Thành Đạt đã trình bày một số luận điểm nhằm biện
hộ cho bản Hiến pháp 1946, đồng thời đưa ra một số đề
nghị để bổ sung cho những thiếu sót của bản Hiến pháp
đó. Vì bài viết có nhắc đến bài <a
href="http://www.procontra.asia/?p=743">Những khuyết điểm nghiêm
trọng của Hiến pháp 1946</a> đăng trên blog Pro&Contra[2], tôi
cũng xin mạn phép nhân dịp này trình bày lại một vài khía
cạnh để nêu rõ những chỗ giống nhau và khác nhau giữa quan
điểm của tôi và quan điểm của tác giả nói trên. Vì nội
dung bài viết của tác giả Phan Thành Đạt đề cập đến khá
nhiều phương diện có liên quan đến các chế độ dân chủ
hiện đại, nhằm tránh cho độc giả khỏi bị lạc hướng khi
phải lan man theo dõi quá nhiều vấn đề, trong phạm vi của bài
này tôi chỉ đề cập đến một số luận điểm có liên quan
trực tiếp đến việc xác định giá trị của bản Hiến pháp
1946. Những vấn đề còn lại sẽ được dành cho những bài
viết khác – khi có dịp thuận tiện.

<h2>I. Những điểm tương đồng giữa hai bài viết</h2>

So với nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trước đây,
bài của Phan Thành Đạt thể hiện một cái nhìn tương đối
khách quan hơn, không sa vào kiểu ca ngợi một chiều hoặc lập
luận nặng về cảm tính, thiếu dẫn chứng về luật học và
chính trị học.

Điểm nổi bật của bài viết là trong khi phản biện để bảo
vệ giá trị của bản Hiến pháp 1946, tác giả đã thừa nhận
một số thiếu sót, khuyết điểm của bản Hiến pháp và cũng
nhận định rằng không thể áp dụng nguyên xi văn bản đó vào
tình hình hiện nay.

Trong phần 2 (kỳ 2) của bài viết, tác giả dành hẳn một mục
có tên <strong><em>"Những khuyết điểm của Hiến pháp năm
1946"</em></strong>, qua đó thừa nhận những khiếm khuyết mà
tôi đã nêu ra, như: <em>Hiến pháp năm 1946 dành nhiều quyền
hạn cho ban thường vụ Quốc hội (điều này hoàn toàn sai về
nguyên tắc), vấn đề kiêm nhiệm của các đại biểu Quốc
hội không được nêu cụ thể, vai trò của Phó chủ tịch
nước quy định không rõ ràng, mối liên hệ giữa Chủ tịch
nước và Thủ tướng Chính phủ không được quy định cụ
thể, nhiệm kì của các đại biểu Quốc hội chỉ có 3 năm
trong khi nhiệm kì của Chủ tịch nước là 5 năm (hoàn toàn
không hợp lý), v.v.</em>

Trong phần 3 (kỳ 3) của bài viết, tác giả đề nghị giải
pháp <em>"Nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch nước"</em>;
điều này cũng phù hợp với luận điểm của tôi về tính
chính danh của một nguyên thủ quốc gia trực tiếp nắm quyền
hành pháp. Chỉ có một khuyết điểm chưa được đề cập
trong bài viết của tôi: đó là việc <em>"Hiến pháp năm 1946
không bàn đến việc thành lập Tòa bảo hiến, vai trò và cách
thức hoạt động của Tòa án đặc biệt này, cũng không hề
nêu ra cơ chế kiểm soát các đạo luật vi hiến".</em>

Chỗ khác nhau quan trọng nhất là trong khi thừa nhận Hiến pháp
1946 có những khuyết điểm, tác giả nhận định: <em>"Chúng
ta sẽ quá nghiêm khắc khi cho rằng Hiến pháp năm 1946 có những
khuyết điểm nghiêm trọng. Tuy nhiên, bản Hiến pháp này có
những thiếu sót cần phải khắc phục".</em>

Nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, đó chính là vấn đề
chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần cuối của bài viết này.

<h2>II. Những điểm bất đồng giữa hai bài viết</h2>

<strong>1. Hiến pháp 1946 VNDCCH thiết lập một chế độ chính
trị kiểu nào?</strong>

Theo Phan Thành Đạt, <em>"Hiến pháp năm 1946 xây dựng thể
chế nghị viện mạnh và cơ quan hành pháp yếu"</em>. Tác giả
lập luận: <em>"Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 thực
ra không có nhiều ảnh hưởng, vì Chủ tịch nước vẫn bị
Quốc hội chi phối. (…) Trong thể chế nghị viện, Chủ tịch
nước có nhiều quyền mang tính nghi lễ, còn thực quyền tập
trung trong tay Nghị viện và Thủ tướng. Với chế độ nghị
viện có quyền lực tuyệt đối, Thủ tướng và toàn bộ nội
các chỉ là những người thừa hành mệnh lệnh của Quốc hội
(hoặc Thượng viện và Hạ viện). Hiến pháp năm 1946 thiết
lập thể chế nghị viện mạnh với cơ quan hành pháp yếu.
Chủ tịch nước cho dù giữ vị trí độc lập, nhưng không có
nhiều thực quyền".</em>

Luận điểm này không những khác với quan điểm của tôi mà
còn đối nghịch với nhận định của một số nhà nghiên cứu
trong nước trước đây như Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, Tiến sĩ
Nguyễn Sĩ Dũng (Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội), v.v. Các
nhà luật học này cho rằng Hiến pháp 1946 nghiêng về phía
thiết lập một <em>Chủ tịch Nước có thực quyền, độc lập
đối với Nghị viện</em>, khác hẳn với nguyên thủ quốc gia
trong các chế độ đại nghị.

Để có thể thấy rõ chế độ chính trị dựa trên Hiến pháp
1946 có phải là thể chế nghị viện (tức chế độ đại
nghị) hay không, trong bài viết này tôi sẽ so sánh hai bản
hiến pháp hình thành gần như đồng thời: <em>Hiến pháp ngày
27-10-1946 của nước Pháp</em> (tạm gọi tắt là HP 1946-Pháp) và
<em>Hiến pháp ngày 9-11-1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa</em> (tạm gọi tắt là HP 1946-VN). HP 1946-Pháp là hiến pháp
của nền Đệ tứ Cộng hòa, được coi là một chế độ đại
nghị (régime parlementaire) trong đó quyền lực của Tổng thống
chỉ mang tính chất nghi lễ, thực quyền nằm trong tay Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng (Président du Conseil des ministres) –
thường được gọi tắt là Chủ tịch Hội đồng (Président du
Conseil), một chức vụ tương đương với chức vụ Thủ tướng
(Premier ministre) về sau này.

<strong>a) Chủ tịch Nước có thực quyền hay không có thực
quyền?</strong>

Mặc dù trong HP 1946-Pháp có ghi những quyền hạn bề ngoài có
vẻ rất quan trọng của Tổng thống Pháp, nhưng với những
quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng được ghi
rất cụ thể, quyền hành của Tổng thống trong thực tế chỉ
còn là danh nghĩa, mang tính hình thức (tương tự trường hợp
của Tổng thống và Thủ tướng Ấn Độ sau này).

Có thể lấy vài ví dụ:

- Điều 32 của HP 1946-Pháp ghi: <em>"Tổng thống Nước Cộng
hòa chủ tọa Hội đồng Bộ trưởng. Ông chỉ đạo việc
thiết lập và giữ gìn các biên bản của các cuộc
họp"</em>. Thoạt nhìn, chúng ta có cảm tưởng Tổng thống
trực tiếp điều hành Hội đồng Bộ trưởng, nhưng trong thực
tế không phải như thế. Nếu đọc kỹ tất cả các quyền
hạn dành cho Chủ tịch Hội đồng (tức Thủ tướng) ghi tại
điều 47 và các điều khác, chúng ta thấy chính nhân vật này
mới là người nắm thực quyền. Đó cũng là lý do người
đứng đầu chính phủ được gọi tên là <em>"Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng"</em> (Président du Conseil des ministres). Việc
chủ tọa Hội đồng Bộ trưởng suy cho cùng chỉ là hình
thức, vì thế Tổng thống Pháp thường được coi là <em>"ký
ức của Nhà nước"</em> (mémoire de l'État), do chỗ ông chủ
tọa và lưu giữ biên bản các cuộc họp của Hội đồng Bộ
trưởng.

- Căn cứ vào điều 33, Tổng thống Pháp chủ tọa Hội đồng
tối cao và Ủy ban Quốc phòng (Conseil supérieur et Comité de la
défense nationale) và giữ danh hiệu chỉ huy trưởng quân đội.
Nhưng điều 47 lại quy định quyền hạn của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng như sau: <em>"Chủ tịch Hội đồng bảo
đảm sự lãnh đạo các lực lượng vũ trang và phối hợp
việc thực hiện chính sách quốc phòng."</em> Điều đó có
nghĩa là thực quyền về lĩnh vực quốc phòng vẫn nằm trong
tay Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

- Một trong những thủ tục đặc biệt của chế độ đại
nghị tại Pháp dưới thời Đệ tứ Cộng hòa là thủ tục
tiếp ký (contreseing). Điều 38 của HP 1946-Pháp ghi: <em>"Mỗi
hành động của Tổng thống nước Cộng hòa phải được tiếp
ký (contresigner) bởi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và một
bộ trưởng"</em>. Điều đó có nghĩa là Tổng thống Pháp
không thể làm bất cứ điều gì mà không thông qua Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng. Trong khi đó, điều 53 của HP 1946-VN
lại ghi: <em>"Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chữ ký
của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn các Bộ,
phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký. Các vị Bộ
trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện"</em>.
Điều đó có nghĩa là Chủ tịch Nước VNDCCH chỉ cần thông
qua một hay nhiều bộ trưởng là có thể ký sắc lệnh, không
cần đến Thủ tướng.

- Trong khi HP 1946-Pháp quy định rõ Chủ tịch Hội đồng (tức
Thủ tướng) là người đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng
(tức Chính phủ) thì trong bản HP 1946-VN, chúng ta thấy xuất
hiện ba khái niệm liên quan đến nhánh hành pháp: Chính phủ,
Hội đồng Chính phủ và Nội các.

Theo định nghĩa của điều 44: <em>"Chính phủ gồm có Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội
các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng.
Có thể có Phó thủ tướng"</em>. Căn cứ vào điều 49 thì
Chủ tịch Nước <em>"chủ tọa Hội đồng Chính phủ"</em>
và trong trường hợp Chủ tịch từ trần hay từ chức thì
người thay thế là <em>"Phó chủ tịch tạm quyền Chủ
tịch"</em> (điều 46). Điều 47 quy định sau khi Chủ tịch
Nước chọn một thành viên trong Nghị viện để giới thiệu
vào chức vụ Thủ tướng thì sau khi được Nghị viện tín
nhiệm, Thủ tướng có quyền chọn các bộ trưởng trong số
các thành viên của Nghị viện để <em>"đưa ra Nghị viện
biểu quyết toàn thể danh sách"</em>. Riêng về các Thứ
trưởng thì Thủ tướng có thể chọn những người ngoài Nghị
viện, nhưng <em>"duyệt y"</em> chức vụ Thứ trưởng lại là
quyền của <em>"Hội đồng Chính phủ"</em> chứ không phải
của <em>"Nội các"</em>. Điều 51 quy định <em>"mỗi khi truy
tố Chủ tịch, Phó chủ tịch hay một nhân viên Nội các về
tội phản quốc, Nghị viện sẽ lập một Toà án đặc biệt
để xét xử. Việc bắt bớ và truy tố trước Toà án một
nhân viên Nội các về thường tội phải có sự ưng chuẩn
của Hội đồng Chính phủ".</em>

Như vậy là trong khi quyền hạn của Hội đồng Chính phủ –
mà người đứng đầu là Chủ tịch Nước, được ghi rõ trong
một số điều khoản thì HP 1946-VN lại không ghi bất cứ
quyền hạn cụ thể nào của Thủ tướng và Nội các.

Từ những điểm nói trên, chúng ta có thể hiểu là
<em><strong>Thủ tướng và Nội các mặc dù phải chịu trách
nhiệm trước Nghị viện, có thể bị Nghị viện truất chức
nhưng hoàn toàn không có thực quyền</strong></em>. Thực quyền
nằm trong tay Chủ tịch Nước VNDCCH và nhân vật này mới thật
sự là người đứng đầu Chính phủ.

Nhìn vào thực tế lịch sử của Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa trong giai đoạn 1946-1959, chúng ta có thể thấy rõ ai
là người đứng đầu Chính phủ. Chính phủ Liên hiệp Quốc
dân được chính thức thành lập ngày 3-11-1946, sáu ngày trước
khi thông qua Hiến pháp 1946. Chính phủ này có nguồn gốc từ
Chính phủ Cách mạng Lâm thời thành lập vào cuối tháng 8 năm
1945 và đã trải qua vài lần cải tổ nhân sự. Điểm đặc
biệt là người đứng đầu chính phủ này không phải là một
Thủ tướng, mà là một Chủ tịch Chính phủ. Mặc dù Hiến
pháp 1946 thiết lập chức vụ Thủ tướng, từ 1946 đến 1955
Chính phủ VNDCCH không có chức vụ Thủ tướng, do đó có thể
coi Chủ tịch Hồ Chí Minh là <em>"Chủ tịch Nước kiêm Thủ
tướng"</em>. Trong những giai đoạn quan trọng (từ 28-8-1945
đến 2-3-1946, và từ 3-11-1946 đến tháng 3-1947), vị Chủ tịch
Nước kiêm Thủ tướng này còn kiêm nhiệm cả chức vụ Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao.

Mãi đến tháng 9 năm 1955, chức vụ Thủ tướng được dự
kiến trong Hiến pháp 1946 mới được thiết lập, và người
được phân công giữ chức vụ này (kiêm Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao) là Phạm Văn Đồng. Nhưng ngay trong giai đoạn này,
Thủ tướng cũng không phải là người nắm thực quyền vì từ
khi Đảng Lao động Việt Nam xuất hiện công khai tại Đại
hội lần thứ II (năm 1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu
làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng, còn Thủ tướng
Phạm Văn Đồng chỉ là Ủy viên Bộ Chính trị.

Vì thế không thể khẳng định như tác giả Phan Thành Đạt:
<em>"Chủ tịch nước cho dù giữ vị trí độc lập, nhưng
không có nhiều thực quyền"</em>. Mặt khác, cũng không thể
coi chế độ chính trị mà HP 1946-VN dự kiến thiết lập là
một chế độ đại nghị, vì cũng chính tác giả này đã thừa
nhận: <em>"Trong thể chế nghị viện, Chủ tịch nước có
nhiều quyền mang tính nghi lễ, còn thực quyền tập trung trong
tay Nghị viện và Thủ tướng"</em>.

<strong>b) Nghị viện mạnh hay yếu</strong>?

Để chứng minh cho luận điểm <em>"Hiến pháp 1946 thiết lập
thể chế nghị viện mạnh với cơ quan hành pháp yếu"</em>,
tác giả Phan Thành Đạt viết: <em>"Chủ tịch nước theo Hiến
pháp năm 1946 thực ra không có nhiều ảnh hưởng, vì Chủ tịch
nước vẫn bị Quốc hội chi phối. Ví dụ để phản đối
người đứng đầu cơ quan hành pháp, Quốc hội tuy không thể
phế truất, nhưng vẫn có cách gây sức ép hiệu quả, bằng
cách bỏ phiếu bất tín nhiệm với Chính phủ, buộc Chủ tịch
nước phải chọn một Chính phủ được Quốc hội ưng thuận,
và Chính phủ nếu muốn tồn tại, buộc phải thi hành các
chính sách của Quốc hội, thay vì tuân thủ mệnh lệnh của
Chủ tịch nước."</em>

Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với quan điểm của chính tác
giả về những khuyết điểm của Hiến pháp 1946: <em>"Hiến
pháp năm 1946 dành nhiều quyền hạn cho ban thường vụ Quốc
hội. Ban thường vụ có thể thay mặt Quốc hội, kết hợp
với Chính phủ thực thi và đưa ra các quyết định quan trọng
như tuyên bố chiến tranh hay đình chiến. Điều này hoàn toàn
sai về nguyên tắc, vì khi Quốc hội không họp, không có bất
cứ tổ chức hay cơ quan nào có quyền quyết định thay cho
Quốc hội. (…) Vấn đề kiêm nhiệm của các đại biểu Quốc
hội cũng không được nêu cụ thể, (…) Do đó tính chuyên
nghiệp của Quốc hội và hiệu quả công việc của các đại
biểu sẽ không cao"</em>[3].

Một Nghị viện hoạt động không chuyên nghiệp, hiệu quả
không cao, quyền hành thực tế rơi vào tay một nhóm nhỏ có
tên là Ban Thường vụ Nghị viện; một cơ quan lập pháp như
thế làm sao có thể đươc coi là một <em>"nghị viện
mạnh"</em>?

Ở đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh một đặc điểm hết sức quan
trọng của các Nghị viện Pháp từ 1875 cho đến trước năm
1958 mà các nhà soạn thảo Hiến pháp 1946 đã không sẵn sàng
tiếp thu: đó là thời gian hoạt động của Nghị viện.

Căn cứ vào <em>Luật lập hiến ngày 16-7-1875 về quan hệ giữa
các quyền lực công (Loi constitutionnelle du 16 juillet 1875 sur les
rapports des pouvoirs publics</em>), Thượng viện (Sénat) và Viện
dân biểu (Chambre des députés, tức Hạ viện) của nước Pháp
<em>"phải họp ít nhất 5 tháng mỗi năm. Kỳ họp của một
viện bắt đầu và chấm dứt đồng thời với kỳ họp của
viện kia."</em> (điều 1) Như vậy, ngay từ cuối thế kỷ 19,
Nghị viện Pháp chỉ họp mỗi năm một kỳ (session annuelle),
nhưng mỗi kỳ họp kéo dài ít nhất là 5 tháng.

Điều 9 của HP 1946-Pháp quy định: <em>"Quốc hội nhóm họp
với trọn quyền bằng kỳ họp hàng năm (session annuelle) vào
ngày thứ ba thứ hai của tháng 1 (le second mardi de janvier). Thời
gian tổng cộng của những lần ngừng họp (interruption) không
thể vượt quá 4 tháng. Những lần hoãn họp (ajournement) dài
hơn 10 ngày được coi như ngừng họp. Hội đồng nước Cộng
hòa họp đồng thời với Quốc hội."</em> Dưới thời Đệ
tứ Cộng hòa, Quốc hội (Assemblée Nationale) là tên gọi của
Hạ viện và Hội đồng nước Cộng hòa (Conseil de la République)
là tên gọi của Thượng viện. Thời gian ngừng họp
(interruption) tức là thời gian giữa hai kỳ họp (session), đó
là lúc Nghị viện ngừng làm việc. Còn thời gian hoãn họp
(ajournement) là thời gian giữa hai phiên họp, nghĩa là Nghị
viện chỉ tạm nghỉ vì vẫn còn đang trong thời gian của kỳ
họp. Căn cứ vào quy định trên, chúng ta có thể hiểu là
Nghị viện Pháp dưới thời Đệ tứ Cộng hòa họp mỗi năm
một kỳ, mỗi kỳ họp kéo dài tối thiểu là 8 tháng.

Trong khi đó, điều 28 của HP 1946-VN quy định: <em>"Nghị viện
nhân dân mỗi năm họp hai lần do Ban thường vụ triệu tập
vào tháng 5 và tháng 11 dương lịch. Ban thường vụ có thể
triệu tập hội nghị bất thường nếu xét cần. Ban thường
vụ phải triệu tập Nghị viện nếu một phần ba tổng số
nghị viên hoặc Chính phủ yêu cầu."</em> Như vậy, Nghị
viện VNDCCH mỗi năm làm việc tối đa chỉ vào khoảng 2 tuần
hay 2 tháng.

Một Nghị viện hay Quốc hội hoạt động quá ít như thế sao
có thể gọi là một Nghị viện mạnh? Nó chỉ có thể đóng
vai trò hình thức, mang tính chất trang trí nhằm hợp pháp hóa
các quyết định của Chủ tịch Nước (với sự thỏa thuận
của Ban Thường vụ Nghị viện), chứ không thể làm chức năng
kiếm soát Chính phủ, còn nói gì đến việc <em>"gây sức ép
hiệu quả, bằng cách bỏ phiếu bất tín nhiệm với Chính
phủ"</em>?

Như tôi đã phân tích trong bài <a
href="http://www.procontra.asia/?p=743">Những khuyết điểm nghiêm
trọng của Hiến pháp 1946</a>, cơ quan lập pháp có thực quyền
dựa theo HP 1946-VN không phải là Nghị viện mà là một
<em>"Nghị viện nhỏ"</em> bên trong, tức là Ban Thường vụ
Nghị viện, gồm có 12 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự
khuyết. Chủ tịch Nước chỉ cần thỏa thuận với Ban Thường
vụ Nghị viện là có thể quyết định các vấn đề hệ
trọng của đất nước, Nghị viện chỉ làm công việc hợp
pháp hóa các quyết định đã có trước. Trong thực tế, Ban
Thường trực Quốc hội (tức Ban Thường vụ Nghị viện) trong
giai đoạn 1946-1959 hiếm khi hội đủ con số quy định như
trên.

Có một chi tiết ít người lưu ý: Ban Thường trực Quốc hội
khóa I đã hình thành ngay tại kỳ họp thứ I của Quốc hội
khóa I (kỳ họp này chỉ tiến hành trong một ngày duy nhất:
ngày 2-3-1946). Theo lời của ông Nguyễn Văn Tố – Trưởng ban
Thường trực đầu tiên của Quốc hội khóa I, vào ngày 2-3-1946
Quốc hội đã thông qua một nghị quyết quy định rằng
<em>"… khi muốn tuyên chiến hay đình chiến, Chính phủ bắt
buộc phải hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội."</em>[4]
Điều đó có nghĩa là Ban Thường trực Quốc hội đã hình
thành hơn 8 tháng trước khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 1946.
Một số điều khoản trong Hiến pháp 1946 liên quan đến vai trò
của Ban Thường vụ Nghị viện (như điều 38 quy định quyền
tuyên chiến hay đình chiến trong thời gian Nghị viện không
họp) thật ra không phải là ý tưởng xuất phát từ các chuyên
gia soạn thảo hiến pháp mà là sự hợp pháp hóa một nguyên
tắc đã được các nhà lãnh đạo Việt Minh định hình từ
trước.

Có thể nói Hiến pháp 1946 đã hợp pháp hóa việc tước đoạt
quyền lực của toàn thể Quốc hội để giao cho một
<em>"Quốc hội thu nhỏ"</em> – tức là Ban Thường trực
Quốc hội. Chỉ có các thành viên của Quốc hội thu nhỏ đó
mới được phép tham gia ít nhiều vào việc quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước. Lý do ban đầu được
nêu ra để biện minh cho nguyên tắc đó là do hoàn cảnh chiến
tranh. Nhưng trong thực tế, kể từ năm 1946 cho đến tận ngày
nay, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện nguyên
tắc nói trên: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (hậu thân của Ban
Thường trực Quốc hội) mới thật sự là cơ quan lập pháp,
còn Quốc hội chỉ là một tổ chức hình thức, mang tính chất
trang trí, không có thực quyền.

Cần nhấn mạnh một đặc điểm của chế độ đại nghị:
đó là sự tín nhiệm của Nghị viện đối với chức vụ Thủ
tướng. Xét về lý thuyết, nguyên thủ quốc gia (Nữ hoàng,
Quốc vương hay Tổng thống) có quyền chọn Thủ tướng để
giới thiệu với Nghị viện. Nhưng vì Thủ tướng muốn thành
lập được chính phủ phải được sự ủng hộ của Nghị
viện cho nên trong thực tế, nguyên thủ quốc gia không thể
chọn bất cứ người nào khác ngoài lãnh tụ của đảng hay
liên minh chính trị chiếm đa số ghế tại Nghị viện. Vì
thế, ngay sau mỗi kỳ tổng tuyển cử, người dân có thể
biết ngay ai sẽ là người nắm chức vụ Thủ tướng. Đó
chính là nguyên nhân khiến cho quyền lực của nguyên thủ quốc
gia trong chế độ đại nghị bị giới hạn.

Khác với các quốc gia dân chủ theo đại nghị chế, dưới
chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Minh – và sau đó
là Đảng Lao động, nắm tuyệt đại đa số ghế trong Quốc
hội; do đó quyền lựa chọn Thủ tướng hoàn toàn thuộc về
người đứng đầu tổ chức Việt Minh và sau này thuộc về
Chủ tịch Đảng Lao động. Việc bầu tín nhiệm chỉ còn là
vấn đề thủ tục, thuần túy mang tính hình thức. Trong tình
hình thực tế đó, không thể có tình trạng <em>"Quốc
hội…vẫn có cách gây sức ép hiệu quả, bằng cách bỏ
phiếu bất tín nhiệm với Chính phủ, buộc Chủ tịch nước
phải chọn một Chính phủ được Quốc hội ưng thuận, và
Chính phủ nếu muốn tồn tại, buộc phải thi hành các chính
sách của Quốc hội, thay vì tuân thủ mệnh lệnh của Chủ
tịch nước."</em> Những suy diễn đó hoàn toàn sinh ra từ
tríc tưởng tượng của tác giả Phan Thành Đạt, dựa trên
thực tiễn của các quốc gia dân chủ phương Tây chứ không
dựa trên hoàn cảnh thực tế của Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa.

Có một sự nhầm lẫn tai hại vẫn tồn tại mãi cho đến ngày
nay: đó là ý tưởng cho rằng <em>"Hiến pháp 1946 là một sản
phẩm của một Quốc hội đa đảng"</em>. Trong thực tế, chế
độ đa đảng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi,
từ cuối tháng 8 năm 1945 cho đến khoảng tháng 7 năm 1946, nghĩa
là từ khi có cuộc đàm phán giữa Chính phủ Cách mạng Lâm
thời của Việt Minh với các đảng phái khác (như Việt Nam
Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội) để thành
lập Chính phủ Liên hiệp. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký
Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và nhất là sau <em>"vụ án Ôn Như
Hầu"</em> (tháng 7 năm 1946), nhiều lãnh tụ của các đảng
phái đối lập (như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ
Hồng Khanh) rời bỏ Chính phủ Liên hiệp và kể từ đó Chính
phủ và Quốc hội chỉ bao gồm các thành viên của Việt Minh
và một số thành viên độc lập đồng ý cộng tác với Việt
Minh. Cho nên có thể nói bản Hiến pháp 1946 (được thông qua
vào ngày 9-11-1946) hoàn toàn là sản phẩm của Việt Minh –
một tổ chức biến tướng của Đảng cộng sản. Các đảng
còn lại như Đảng Dân chủ, Đảng xã hội thực ra chỉ là
những tổ chức mang tính hình thức, nhằm để trang trí cho
chế độ chứ không có thực lực, không có tác dụng gì trong
việc <em>"kiểm soát và làm cân bằng"</em> cán cân quyền
lực. Các đảng này cũng tương tự như các <em>"đảng liên
minh"</em> (alliance parties) tồn tại ở Cộng hòa Dân chủ Đức
sau khi Đông Đức rơi vào vòng kiểm soát của Liên Xô sau
Chiến tranh Thế giới thứ II hoặc các <em>"đảng bạn"</em>
(friendly parties) hiện đang tồn tại bên cạnh Đảng cộng sản
Trung Quốc mà thôi.

Tóm lại, xét về cả lý luận lẫn thực tế, không có căn cứ
gì để có thể đi đến kết luận: <em>"Hiến pháp 1946
thiết lập thể chế nghị viện mạnh với cơ quan hành pháp
yếu"</em>. Một khẳng định ngược lại: <em>"Hiến pháp 1946
thiết lập thể chế hành pháp mạnh với cơ quan lập pháp
yếu"</em> có lẽ phù hợp hơn với nội dung của bản hiến
pháp nói trên cũng như với thực tế lịch sử.

<strong>2. Gọi tên chế độ chính trị tại Pháp hiện nay như
thế nào?</strong>

Về vấn đề này, tác giả Phan Thành Đạt phê phán cách gọi
tên <em>"chế độ nửa-tổng thống"</em> của Maurice Duverger
như sau: <em>"Cách gọi "chế độ nửa nghị viện, nửa tổng
thống" (nhận xét của nhà luật học Maurice Duverger) đối
với một số nước như Pháp cũng không chuẩn, vì về cơ bản
thể chế của Pháp vẫn là chế độ nghị viện vì hai phương
tiện của thể chế này (bỏ phiếu trừng phạt và giải tán
Quốc hội) vẫn tồn tại cho dù ít được sử dụng. Chỉ có
thể gọi là thể chế nghị viện, quy định tổng thống có
quyền lực lớn "le régime parlementaire à correctifs
présidentiels"</em>.

Theo Wikipedia (bản tiếng Pháp), khái niệm <em>"chế độ
nửa-tổng thống"</em> của Maurice Duverger đã bị một số nhà
luật học người Pháp (như Jean Gicquel, Jean-Louis Quermonne, Olivier
Duhamel) chỉ trích vì họ cho rằng chế độ chính trị ở Pháp
thời Đệ ngũ Cộng hòa thực ra là một biến thể của chế
độ đại nghị. Có những đề nghị gọi tên mô hình chính
trị đó là <em>"chế độ đại nghị lưỡng đại
diện"</em> (régime parlementaire bireprésentatif) – nghĩa là
quyền đại diện biểu hiện đồng thời bởi nguyên thủ quốc
gia và người đứng đầu chính phủ, hoặc <em>"chế độ
đại nghị tổng thống hóa" </em>(régime parlementaire
présidentialisé), hay "cách đọc Hiến pháp theo kiểu tổng
thống" (lecture présidentielle de la Constitution.)[5]

Đây là vấn đề học thuật còn gây nhiều tranh cãi. Nhưng
điều đáng nói là trong khi thuật ngữ <em>"chế độ nửa -
tổng thống"</em> (régime semi-présidentiel) bị nhiều nhà hiến
pháp học của nước Pháp chỉ trích thì tại các quốc gia
ngoài nước Pháp, nó lại được sử dụng ngày càng rộng rãi,
đặc biệt là trong khoa chính trị học đối chiếu (comparative
politics):

- Trong giáo trình <em>Cơ sở của khoa chính trị học đối
chiếu</em>,[6] hai giáo sư Kenneth Newton (Đại học Southampton, Anh)
và Jan W. Van Deth (Đại học Mannheim, Đức) phân loại các chế
độ chính trị dân chủ ra làm 3 loại: tổng thống chế
(presidential system), đại nghị chế (parliamentary system) và chế
độ nửa-tổng thống (semi-presidential system). Chế độ chính
trị của Pháp được xếp vào loại thứ ba, và các đặc
điểm của nó được phân tích trong các trang 96-99.

- Trong cuốn <em>Nhập môn Khoa chính trị học đối chiếu</em>[7]
của một tập thể tác giả, giáo sư Mark Kesselman (Đại học
Columbia, Hoa Kỳ) cũng xếp chế độ chính trị của Pháp dưới
chế độ Đệ ngũ cộng hòa vào loại hình nửa-tổng thống.
Tại sao nền Đệ ngũ cộng hòa được xem là một hệ thống
nửa tổng thống (semipresidential) chứ không phải là nửa đại
nghị (semiparliamentary)? Câu hỏi này được Kesselman giải thích
như sau: <em>"Bởi vì bất cứ lúc nào nền Đệ ngũ Cộng hòa
đi chệch ra khỏi một kiểu mẫu thuần túy đại nghị hay
thuần túy tổng thống, kết quả vẫn là củng cố nhánh hành
pháp. Sự trộn lẫn giữa quyền hành pháp và quyền lập pháp
– đặc trưng của các chế độ đại nghị, tạo khả năng cho
hành pháp kiểm soát chương trình nghị sự của nghị viện và
giải tán nghị viện. Thế nhưng, ngược lại với các chế
độ đại nghị, nghị viện Pháp không thể biểu quyết khiển
trách tổng thống. Do vậy, tổng thống – chức vụ then chốt
trong nhánh hành pháp có hai đầu – không chịu trách nhiệm
trước nghị viện. Đặc điểm này phản ánh sự phân lập về
quyền lực mà chúng ta tìm thấy trong các hệ thống tổng
thống"</em> (op. cit., chapter 3, section 3, p.123).

Trong một bài viết công bố trên tạp chí <em>West European
Politics</em> vào năm 2009, giáo sư Robert Elgie (Đại học Thành
phố Dublin, Ireland) – một chuyên gia hàng đầu về chế độ
nửa-tổng thống, đã nhận xét: <em>"Thuật ngữ này vẫn chưa
được chấp nhận trong cộng đồng của các luật sư hiến
pháp (constitutional lawyers) ở Pháp. Tuy nhiên, cộng đồng khoa
học chính trị quốc tế hầu như nhất trí thừa nhận nước
Pháp có một hệ thống nửa-tổng thống. Hơn thế nữa, nước
Pháp thường được coi là một ví dụ nguyên mẫu (archetypal
example) của một hệ thống như thế"</em>[8].

Như vậy là từ giữa thế kỷ 20 đến nay, ngoài hai mô hình
cổ điển (tổng thống chế và đại nghị chế) đã phát sinh
một loại mô hình hỗn hợp mà người ta có thể gọi bằng
nhiều tên: nửa-tổng thống (semi-presidential system), lai ghép
(hybrid system), hỗn hợp (mixed system). Riêng tại Pháp, mô hình
mới xuất hiện từ sau năm 1958 đã tồn tại hơn nửa thể kỷ
và đã chứng tỏ khả năng trở thành một hệ thống chính
trị bền vững, ổn định. Đó chính là lý do nhiều quốc gia
hậu-cộng sản (như Ba Lan, Bulgaria, Romania,…) đã chọn mô hình
này. Ngay cả nước Nga hậu-cộng sản cũng đang học tập mô
hình này, mặc dù thực hiện không thành công do chưa cởi bỏ
được những di sản nặng nề của quá khứ.

<strong>3) Về những khuyết điểm của HP 1946-VN so với các
hiến pháp tiến bộ</strong>

<em>a. Những khuyết điểm của các bản Hiến pháp tiến
bộ</em>

Tác giả Phan Thành Đạt đã bỏ ra rất nhiều công sức để
liệt kê <em>"những khuyết điểm của các bản Hiến pháp
tiến bộ"</em>, trong đó hai bản hiến pháp được chọn là
Hiến pháp Hoa Kỳ và Hiến pháp 1958 của Pháp. Phần dẫn chứng
dài dòng và có hơi lạc đề này có lẽ nhằm chứng minh rằng
<em>"những thiếu sót"</em> của bản Hiến pháp 1946 của
nước ta là <em>"tất yếu"</em>, là <em>"thiếu sót trên
bước đường phát triển"</em> và tuy có thiếu sót, hiến
pháp này vẫn có thể được coi là <em>"bản Hiến pháp không
hề thua kém bất kỳ bản Hiến pháp nào trên thế
giới"</em>[9].

Thật ra, giá trị căn bản của một bản hiến pháp không phải
là <em>"có khuyết điểm hay không"</em> mà là: khuyết điểm
(hay những khuyết điểm) đó có tính chất nghiêm trọng hay
không? Nói cách khác, các khuyết điểm đó có ảnh hưởng xấu
đến việc thực thi các quyền công dân và quyền con người hay
không, có nguy cơ dẫn đến chế độ độc tài hay không?

Xét theo quan điểm đó, Hiến pháp Hoa Kỳ cho dù còn có một
số khuyết điểm, vẫn là một hiến pháp ưu việt, rất đáng
cho chúng ta học hỏi. Ưu điểm lớn nhất của Hiến pháp Hoa
Kỳ là đã thiết lập một hệ thống các thiết chế chính
trị dân chủ bảo đảm được nguyên tắc tam quyền phân lập,
tạo ra được một cơ chế <em>"kiểm soát và làm cân
bằng"</em> (checks and balances), bảo đảm thực hiện được
các quyền tự do căn bản của người dân – nhất là các
quyền ghi trong Tu chính án số 1. Kể từ khi ra đời vào cuối
thế kỷ 18, Hiến pháp Hoa Kỳ đã trở thành căn cứ pháp lý
vững chắc để người dân và các nhà hoạt động dân chủ
dựa vào đó đấu tranh chống lại các bất công xã hội, xây
dựng một xã hội công bằng, xậy dựng một chế độ pháp
trị (rule of law) trong đó tất cả mọi người – kể cả
những người cầm quyền, đều phải tôn trọng pháp luật.

Vào năm 1787, khi Hiến pháp Hoa Kỳ ra đời, chế độ nô lệ
vẫn còn tồn tại và những người da đen vẫn chưa được
công nhận là công dân Hoa Kỳ. Công cuộc giải phóng người da
đen chỉ bắt đầu khoảng bảy thập niên sau đó, đặc biệt
là sau khi Tổng thống Abraham Lincoln công bố bản <em>Tuyên bố
giải phóng nô lệ</em> (Emancipation Proclamation, 1863). Năm 1865, tu
chính án số 13 mới được đưa vào Hiến pháp nhằm luật hóa
việc xóa bỏ chế độ nô lệ và sang năm sau (1866), tu chính án
số 14 mới chính thức trao quyền công dân cho các nô lệ cũ
nhằm bảo vệ họ khỏi nạn kỳ thị chủng tộc trong tất cả
các bang.

Tuy nhiên, mặc dù công cuộc giải phóng người da đen đã
được hợp pháp hóa, cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng
vẫn chưa dừng lại ở đó. Sau khi nội chiến chấm dứt, tình
trạng phân biệt đối xử với người da đen vẫn tiếp tục
diễn ra – đặc biệt là tại các tiểu bang miền Nam.

Điều đáng chú ý là ngay từ khi chế độ nô lệ chưa bị xóa
bỏ, Tổng thống Abraham Lincoln đã nhìn thấy sức mạnh tiềm
tàng của Hiến pháp Hoa Kỳ, đánh giá đúng khả năng đấu
tranh bằng con đường ôn hòa để giải quyết các bất công xã
hội được chứa đựng trong các điều khoản của hiến pháp.
Vào ngày 19-1-1860, trong lá thư viết cho Alexander H. Stephens, một
lãnh tụ của miền Nam, ông đã viết: <em>"Quyền hội họp
một cách ôn hòa, quyền kiến nghị và quyền sửa đổi (hiến
pháp) bằng điều 5 của Hiến pháp, là sự thay thế con đường
cách mạng bằng con đường của hiến pháp[10]. Đây là bản
Magna Carta của chúng ta – không phải do các Nam tước đã giành
được từ tay Vua John, mà là món quà miễn phí các tiểu bang
đã trao tặng cho quốc gia mà họ đã thành lập…"</em>[11].

Ý kiến đó của Tổng thống Lincoln thật sự là một lời tiên
tri. Mặc dù vào thời của ông, con đường đấu tranh ôn hòa
đã không thể trở thành hiện thực, nước Mỹ đã không tránh
được một cuộc nội chiến đẫm máu, nhưng sau khi nội chiến
chấm dứt, người dân Hoa Kỳ đã rút ra được bài học đắt
giá và dần dần tập cách sử dụng Hiến pháp như một vũ khí
đấu tranh. Vào giữa thế kỷ 20, người da đen ở Hoa Kỳ đã
dựa vào những vũ khí pháp lý tiềm tàng trong Hiến pháp để
đấu tranh một cách ôn hòa, giành quyền bình đẳng thật sự
cho người Mỹ gốc Phi. Tiêu biểu cho con đường đấu tranh
bất bạo động này là Phong trào Quyền dân sự của người
Mỹ gốc Phi (African-American Civil Rights Movement) trong giai đoạn
1955–1968 dưới sự lãnh đạo của mục sư Martin Luther King,
Jr.. Vào giữa thập niên 1960, phong trào này đã giành được
những thành quả vang dội như <em>Đạo luật về Quyền dân sự
năm 1964</em> (Civil Rights Act 1964) được ban hành dưới thời
của Tổng thống Lyndon B. Johnson và các đạo luật khác nhằm
xóa bỏ tình trạng kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ. Sự kiện
Tổng thống Barack Obama, một người Mỹ gốc Phi (African American)
trở thành tổng thống Hoa Kỳ vào đầu năm 2009 đánh dấu một
cột mốc lịch sử qua đó thể hiện sức mạnh của nền dân
chủ Mỹ.

Như vậy, bất chấp những lời phê phán cực đoan của các trí
thức cánh tả, Hiến pháp Hoa Kỳ đã trở thành điểm tựa
của phương thức đấu tranh ôn hòa trong phạm vi của một thể
chế dân chủ. Đó cũng là nguyên nhân khiến cho các xu hướng
đấu tranh cách mạng, bạo động, lật đổ không hấp dẫn
được người dân Mỹ.

Một ví dụ khác thường được nhắc đến là sức mạnh của
nhánh tư pháp tại Hoa Kỳ, một nhánh quyền lực có tính độc
lập rất cao và có quyền thẩm tra pháp lý (judicial review).
Điều ít người chú ý là quyền này không phải đã được
minh định ngay từ đầu. Xét về mặt văn bản, không có điều
khoản nào của Hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền của các tòa
án được phép giải thích Hiến pháp và vô hiệu hóa các hành
động vi hiến. Quyền này là do các thẩm phán đấu tranh giành
được. Vào năm 1803, qua án lệ <em>Marbury chống Madison</em>,
thẩm phán John Marshall của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố
rằng: nhiệm vụ của các tòa án là <em>"nói rõ nội dung của
luật là gì"</em> và nếu một đạo luật của Quốc hội đi
ngược lại hiến pháp thì tòa án phải bác bỏ đạo luật
không phù hợp đó. Kể từ đó, Tòa án Tối cao mới xác lập
được một cách chắc chắn thẩm quyền của mình trong việc
thẩm tra tính hợp hiến của các đạo luật do Quốc hội ban
hành.

Trong bài viết của mình, tác giả Phan Thành Đạt phê phán
Hiến pháp năm 1958 của nước Pháp là <em>"tấm áo vá víu các
quyền tự do dân chủ"</em> vì <em>"không nêu rõ các quyền
cơ bản của công dân"</em>, và coi đó là <em>"thiếu sót
rất lớn của bản Hiến pháp này, so với 14 bản Hiến pháp
trước đó"</em>. Nhưng không ai có thể kết luận rằng bản
Hiến pháp 1958 đã thủ tiêu các quyền tự do căn bản được
khẳng định trong <em>Bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền
năm 1789</em>. Cũng không ai có thể chứng minh được Tổng
thống De Gaulle xây dựng bản Hiến pháp đó nhằm tiến đến
một chế độ độc tài. Thành công lớn nhất của bản Hiến
pháp 1958 là ở chỗ nó tạo ra một cơ chế hữu hiệu nhằm
giải quyết tình trạng bất ổn về chính trị do các xu hướng
cực đoan gây ra, từ phía cánh hữu lẫn phía cánh tả. Tính
hữu hiệu của Hiến pháp 1958 đã được thực tế kiểm
nghiệm qua hơn nửa thế kỷ áp dụng. Mặc dù lúc đầu bị
cánh tả công kích, hệ thống nửa-tổng thống do Hiến pháp
1958 thiết lập đã thể hiện được sức sống của nó, nhất
là từ khi cánh tả ôn hòa cũng tìm thấy lợi thế của họ
trong mô hình này. Việc Francois Mitterand đảm nhiệm hai nhiệm
kỳ tổng thống và gần đây, <strong>François Hollande</strong>
trở thành tổng thống thứ hai của nền Đệ ngũ Cộng hòa
xuất thân từ cánh tả cho thấy khả năng mô hình này sẽ trở
thành bền vững, có thể chịu đựng được thử thách qua
thời gian.

Dù sao thì trong khi đánh giá các bản Hiến pháp, không thể
chỉ dựa vào những quyền tự do được ghi trong văn bản mà
quên đi thực tế. Nếu chỉ dựa vào việc công bố các quyền
công dân và quyền con người trong một bản hiến pháp để
đánh giá tính dân chủ của một chế độ thì nước Nga hiện
nay có thể được coi là một quốc gia vô địch về dân chủ.
Trong phần mở đầu của Hiến pháp Nga hiện nay, những người
soạn thảo đã dành đến 48 điều (từ điều 17 đến điều
64) để trình bày chi tiết về các quyền công dân và quyền con
ngýời. Thực tế cho thấy phần lớn các quyền tự do được
ghi trong Hiến pháp Nga chỉ là <em>"tự do trên giấy tờ"</em>
chứ không phải là "tự do trong thực tế". Sự mất cân
bằng nghiêm trọng giữa các nhánh quyền lực – nghiêng hẳn
về phía hành pháp, cũng như hệ thống đảng phái cực kỳ
mất cân đối của nước Nga hiện nay đã là nguyên nhân chủ
yếu khiến cho các quyền tự do căn bản của người dân Nga
bị vi phạm một cách nghiêm trọng.

Trở lại với bản Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH, chúng ta
dễ dàng thấy rõ những khuyết điểm của bản Hiến pháp này
là thật sự nghiêm trọng:

- Việc thiết lập một hệ thống chính trị tập trung quyền
lực quá đáng vào tay một cá nhân (Chủ tịch Nước) tạo ra
nguy cơ dẫn đến một chế độ độc tài cá nhân. Đặc biệt
nghiêm trọng là việc <em><strong>một Chủ tịch Nước trực
tiếp nắm quyền hành pháp lại có thể tham gia từ đầu đến
cuối quá trình lập pháp</strong></em>: vừa tham gia soạn thảo
và đệ trình dự luật – với tư cách là người đứng đầu
Chính phủ, vừa được phép tham gia thảo luận và biểu quyết
dự luật với tư cách thành viên Nghị viện; sau khi Nghị viện
thông qua lại được quyền phủ quyết. Điều này cho thấy
quyền lực của Chủ tịch Nước không kém một vị Hoàng đế,
một <em>"nhà vua giấu mặt"</em> khoác chiếc áo <em>"dân
chủ cộng hòa"</em>. Điều khó hiểu là tác giả Phan Thành
Đạt đã bỏ qua, không hề nhắc đến khuyết điểm này.

- Sự hình thành một nhóm nhỏ bên trong Nghị viện có tên là
Ban Thường vụ Nghị viện và việc cho phép cơ quan này thay
mặt Nghị viện quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước đã ảnh hưởng nghiệm trọng đến tính chất
đại diện nhân dân của cơ quan lập pháp. Với một Nghị
viện như thế, không có gì bảo đảm việc thực thi các quyền
tự do căn bản được ghi trong hiến pháp vì thiếu vắng các
thiết chế hữu hiệu để kiểm soát quyền lực của cơ quan
hành pháp, và do đó, không thể xây dựng một Nhà nước pháp
quyền đúng nghĩa. Những người cầm quyền có thể viện dẫn
bất cứ lý do nào (từ tình trạng chiến tranh cho đến âm mưu
của thực dân đế quốc, nguy cơ <em>"diễn biến hòa
bình"</em>, v.v.) nhằm trì hoãn hoặc thủ tiêu các quyền tự
do căn bản của người dân.

- Việc Hiến pháp 1946 cho phép Ban Thường vụ Nghị viện
được cùng với Chủ tịch Nước quyết định một số vấn
đề hệ trọng của đất nước <em>"trong thời gian Nghị
viện không họp"</em> đã tạo ra một điều kiện thuận lợi
để cho các nhà lãnh đạo có thể tùy tiện quyết định mọi
vấn đề quan trọng của đất nước mà không chịu bất kỳ
sự kiểm soát nào. So với chế độ quân chủ tập quyền, cơ
chế này còn nguy hại hơn, bởi lẽ Nhà vua phải chịu trách
nhiệm trước nhân dân về tất cả những quyết định của
mình – kể cả lời khen lẫn tiếng chê, còn Chủ tịch Nước
VNDCCH thì tuy quyền hạn không kém gì Nhà vua nhưng mỗi khi làm
sai lại được các <em>"đại biểu nhân dân"</em> (tức Ban
Thường vụ Nghị viện) đứng ra gánh giùm trách nhiệm!

Những người ca ngợi Hiến pháp 1946 thường cố tình quên đi
một sự thật là các quyền tự do căn bản của người dân
được ghi trong hiến pháp này đã không trở thành hiện thực
trong suốt thời gian 1946-1959. Ngược lại, có những bằng
chứng cho thấy các quyền tự do đó đã bị xâm phạm một
cách nghiêm trọng:

- Vào ngày 4-12-1953, Quốc hội khóa I của VNDCCH đã thông qua
Luật cải cách ruộng đất, vi phạm nghiêm trọng <em>"quyền
tư hữu tài sản của công dân Việt Nam"</em> được ghi tại
điều 12 của Hiến pháp 1946. Điều kỳ lạ là văn bản này
không phải là một sắc lệnh của Chủ tịch Nước, cũng không
phải là một dự luật <em>"được Chủ tịch Nước và Ban
Thường vụ Nghị viện thông qua trong thời gian Nghị viện
không họp"</em>, mà là một Luật <em>"do Quốc hội thông
qua"</em>. Người ta có thể đặt câu hỏi cho các nhà sử học
và các nhà luật học: một kỳ họp Quốc hội như thế,
được tiến hành giữa lúc cuộc kháng chiến đang diễn ra ác
liệt, liệu có bảo đảm đủ số lượng đại biểu cần
thiết (quorum) để có thể thông qua luật một cách hợp lệ?

- Vào năm 1956, một vụ đàn áp quy mô đối với giới trí
thức và văn nghệ sĩ đã diễn ra khốc liệt, thường được
gọi là vụ Nhân văn-Giai phẩm. Từ trước đến nay đã có
nhiều tài liệu viết về đề tài này, nhưng hình như chưa có
ai đặt vấn đề về phương diện pháp lý: chiến dịch đàn
áp này có vi phạm vào điều 10 của Hiến pháp 1946 (quy định
quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và
hội họp, v.v.) hay không?

Cần ghi nhớ rằng mặc dù bản Hiến pháp chưa được toàn dân
<em>"phúc quyết"</em> để có thể trở thành chính thức
nhưng vào ngày 9-11-1946, sau khi thông qua Hiến pháp 1946, Quốc
hội khóa I của Nước VNDCCH đã ra <em>"Nghị quyết Uỷ nhiệm
Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội thi hành Hiến
pháp"</em> trong đó long trọng tuyên bố: <em>"Trong thời kỳ
chưa thi hành được thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên
tắc đã định trong Hiến pháp để ban hành các sắc
luật"</em>[12].

Cũng có người biện hộ rằng nếu gặp hoàn cảnh thuận lợi
hơn thì Hiến pháp 1946 đã được đưa vào thực hiện và
được sửa đổi theo hướng thật sự dân chủ, những khiếm
khuyết chắc chắn sẽ được sửa chữa, bổ sung. Lập luận
này thật ra chỉ là sự suy luận thuần túy không dựa trên cơ
sở lý luận cũng không phù hợp với thực tế, bởi lẽ:

- Những người chủ trì việc soạn thảo Hiến pháp 1946 chưa
hề có ý định thực hiện nghiêm túc những gì được ghi trong
Hiến pháp. Ngay cả về danh xưng, mặc dù Hiến pháp ghi rõ cơ
quan lập pháp là Nghị viện, cơ quan thường trực của nó là
Ban Thường vụ Nghị viện, nhưng các tên gọi Quốc hội và Ban
Thường trực Quốc hội (có từ trước khi thông qua Hiến pháp)
vẫn được giữ nguyên cho đến khi bản Hiến pháp 1946 bị
hủy bỏ. Chức vụ Thủ tướng bị bỏ trống trong gần 10 năm,
chức vụ Phó Chủ tịch Nước cũng bị bỏ trống trong suốt
thời gian tồn tại của Hiến pháp 1946. Các nhà lãnh đạo
cộng sản chỉ lợi dụng những điều khoản có lợi cho họ
và hoàn toàn bỏ quên, không thi hành những điều khoản có
lợi cho nhân dân.

- Ngay sau khi hòa bình lập lại tại miền Bắc, thay vì đưa vào
áp dụng bản Hiến pháp 1946 và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
với xu hướng dân chủ hóa, Đảng Cộng sản (lúc đó mang tên
Đảng Lao động Việt Nam) đã xé bỏ văn bản lập hiến đó
và thay thế bằng bản Hiến pháp 1959. Hành động này cho thấy
những người cộng sản Việt Nam chỉ coi Hiến pháp 1946 là
một phương tiện tạm thời mang tính <em>"sách lược"</em>
(tactic) chứ không phải <em>"chiến lược"</em> (strategic), theo
đúng phương pháp của Lenin.

Hiến pháp 1946 suy cho cùng chỉ là một công cụ tuyên truyền
để biện minh cho các hành động của Đảng cộng sản chứ
không có ý nghĩa pháp lý hay tác dụng thực tế nào cả. Có
thể nói dưới sự lãnh đạo <em>"toàn diện và tuyệt
đối"</em> của Đảng cộng sản, toàn bộ đời sống chính
trị của đất nước đều được quyết định trong bóng tối,
trong phòng họp kín của Ban chấp hành Trung ương Đảng và
nhất là của Bộ chính trị. Và đó chính là di sản tệ hại
nhất mà cả dân tộc phải thừa hưởng từ tinh thần cốt lõi
của bản Hiến pháp 1946.

Mặt khác, để có thể tiến hành sửa đổi một bản hiến
pháp theo hướng dân chủ hóa, cần có hai điều kiện căn bản:
(1) Quốc hội (hay Nghị viện) phải thật sự đại diện cho
dân và có đủ quyền lực để quyết định trong công tác lập
pháp và lập hiến, (2) chế độ chính trị đa đảng, trong đó
phe đối lập có đủ sức mạnh để kiềm chế đảng hay liên
minh chính trị cầm quyền, chống lại mọi sự lạm dụng
quyền lực và bảo đảm thực thi các quyền tự do căn bản
của người dân, tạo điều kiện phát triển một xã hội dân
sự lành mạnh. Cả hai điều kiện này đều không tồn tại
tại miền Bắc từ năm 1954 và trên phạm vi cả nước kể từ
tháng 4 năm 1975 cho đến ngày nay.

Cuối cùng, để kết thúc bài viết này, có một vài câu hỏi
cần đặt ra, không phải dành cho những người cộng sản đang
cầm quyền mà dành cho những người được mệnh danh là trí
thức yêu nước: <em>Tại sao lại phải cố níu kéo một bản
hiến pháp mà ngay cả những người làm ra nó cũng không hề xem
trọng, thậm chí còn thẳng tay xé bỏ nó một cách không
thương tiếc để thay thế bằng một bản hiến pháp khác mà
họ đánh giá là phù hợp hơn, có giá trị hơn? Tại sao lại
phải bám víu vào một bản hiến pháp nhiều khuyết tật trong
khi thế giới có biết bao nhiêu bản hiến pháp đáng giá khác
mà chúng ta có thể tham khảo, học hỏi?</em>

Về phía những người cộng sản, họ có lý do để bám víu
vào bản Hiến pháp 1946, bởi vì <em>"ăn mày dĩ vãng</em>" là
cách duy nhất để biện minh cho việc Đảng nắm giữ địa vị
cầm quyền, bất chấp tình trạng tham nhũng và sự suy đồi
nghiêm trọng của hệ thống chính trị, bất chấp nguyện vọng
của nhân dân. Nhưng về phía những người trí thức, lý do gì
khiến một số người vẫn tiếp tục duy trì <em>"huyền
thoại về một Nhà nước dân chủ cộng hòa"</em> của thời
kỳ 1945-46, nuôi dưỡng niềm hy vọng viển vông về một chế
độ <em>"cộng sản-dân chủ"</em> trong tương lai?

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng <em>"xưng tội"</em> với nhân
dân bằng bài thơ <em>"Bánh vẽ"</em>. Bài thơ ấy mở đầu
bằng những câu:

<em>Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp</em>

Dù sao thì <em>"cùng với bạn bè nhấm nháp cái bánh
vẽ"</em> vẫn chưa phải là lầm lỗi nghiêm trọng nhất.
Nghiêm trọng hơn nữa là vẫn còn có nhiều bậc trí thức uyên
bác chẳng những sẵn sàng nhấm nháp những cái bánh vẽ mà
còn tìm cách mời gọi người khác cùng ăn, thậm chí còn tham
gia vẽ thêm nhiều chiếc bánh mới. Lỗi lầm ấy – dù vô
tình hay cố ý, mới thật sự là lỗi lầm không thể tha thứ!

Đà Lạt, 3-10-2012

M.T.L.

—————————————————————————————

<strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO:</strong>

- <a
href="http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1946/1946_24.html">Hiến
pháp 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa</a>

- <a
href="http://www.conseil-constitutionnel.fr/conseil-constitutionnel/francais/la-constitution/les-constitutions-de-la-france/constitution-de-1875-iiie-republique.5108.html">Constitution
de 1875, IIIe République</a>

- <a
href="http://www.conseil-constitutionnel.fr/conseil-constitutionnel/francais/la-constitution/les-constitutions-de-la-france/constitution-de-1946-ive-republique.5109.html">Constitution
de 1946, IVe République</a>

- Robert Elgie, <a
href="http://doras.dcu.ie/4513/1/Elgie_WEP_2009_Duverger_and_semi-presidentialism.pdf">"Duverger,
semi-presidentialism and the supposed French archetype"</a>, West European
Politics, Volume 32 (2), 2009, pp. 248-267

- Kenneth Newton and Jan W. Van Deth, Foundations of comparative politics,
Cambridge University Press, 2010.

- Mark Kesselman, Joel Krieger, William A. Joseph (General Editors),
Introduction to Comparative Politics: Political Challenges and Changing
Agendas, Fifth Edition, Wadsworth, Cengage Learning, Canada, 2010,

- <a
href="http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1946/1946_23.html">Quốc
hội Việt Nam</a>, Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập I,
1945-1960, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006:

[1] Phan Thành Đạt, <a href="http://www.boxitvn.net/bai/41339">Giá trị
của Hiến pháp năm 1946 so với các bản Hiến pháp tiến
bộ</a>, Bauxite Vietnam 16, 17, 18-9-2012:
http://www.boxitvn.net/bai/41359, http://www.boxitvn.net/bai/41372

[2] Mai Thái Lĩnh, <a href="http://www.procontra.asia/?p=743">Những
khuyết điểm nghiêm trọng của Hiến pháp 1946</a>, Pro&Contra
13-7-2012

[3] Trong bài viết, tác giả Phan Thành Đạt thường lẫn lộn
giữa các tên gọi. Cần phân biệt cách gọi tên trong Hiến
pháp 1946 (Nghị viện, Ban Thường vụ Nghị viện) và cách gọi
tên trong thực tế (Quốc hội, Ban Thường trực Quốc hội).
Các tên gọi trong thực tế có từ đầu năm 1946, nghĩa là
trước khi thông qua Hiến pháp 1946, và vẫn không thay đổi cho
đến khi có Hiến pháp mới (1959). Từ 1960 đến 1980, cơ quan
lập pháp có tên là Quốc hội, còn bộ phận thường trực có
tên là Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[4] <a
href="http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1946/1946_12.html">Báo
cáo về hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội</a> do ông
Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, trình bày
tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I, ngày 30-10-1946; Văn kiện
Quốc hội toàn tập, tập I, sđd:

[5] <em>"Régime semi-présidentiel"</em>, Wikipédia bản tiếng
Pháp.

[6] Kenneth Newton and Jan W. Van Deth, Foundations of comparative politics,
Cambridge University Press, 2010.

[7] Introduction to Comparative Politics: Political Challenges and Changing
Agendas, Fifth Edition, General Editors: Mark Kesselman, Joel Krieger,
William A. Joseph, Wadsworth, Cengage Learning, Canada, 2010.

[8] Elgie, Robert (2009) Duverger, <a
href="http://doras.dcu.ie/4513/1/Elgie_WEP_2009_Duverger_and_semi-presidentialism.pdf">semi-presidentialism
and the supposed French archetype</a>. West European Politics, Volume 32 (2),
2009, pp. 248-267

[9] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam tự khen bản hiến pháp này
như sau: <em>"Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của
nước ta, là một bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém
một bản hiến pháp nào trên thế giới. Nó là bản hiến pháp
mẫu mực trên nhiều phương diện."</em>; trích theo bài <a
href="http://www.na.gov.vn/60namqhvn/www.na.gov.vn/60namqhvn/noidungynghia/ynghia-hp46.html">"Ý
nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên"</a> đăng trên trang mạng
của Quốc hội Việt Nam

[10] Nguyên văn: <em>"the Constitutional substitute for
revolution"</em>.

[11] <a href="http://hdl.handle.net/2027/loc.ark:/13960/t3pv6ks5g">Some
Lincoln Correspondence with Southern Leaders before the Outbreak of the Civil
War</a> – from the collection of Judd Stewart, New York, 1909, Original
from Library of Congress

[12] <a href="http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1946/1946_23.html
">Nghị quyết của kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I Nước
VNDCCH ngày 9-11-1946 Uỷ nhiệm Chính phủ và Ban Thường trực
Quốc hội thi hành Hiến pháp</a>, Văn kiện Quốc hội Toàn
tập, tập I

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121007/mai-thai-linh-trao-doi-y-kien-ve-ban-hien-phap-1946),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét