Di sản của người tiền nhiệm Nông Đức Mạnh để lại cho
ông Nguyễn Phú Trọng thật khá nặng nề. Cũng phải nhận xét
rằng từ trước đến nay chưa có một người đứng đầu
đảng cộng sản Việt Nam mờ nhạt như ông Mạnh. Thời bấy
giờ ứng cử viên nặng ký cho chức Tổng bí thư còn có ông
Nguyễn Văn An. Ông An là một người có năng lực, có quyền
biến và kinh qua nhiều chức vụ cao trong đảng và đặc biệt
là nhiều năm làm trưởng ban tổ chức trung ương. Nếu ông An
làm Tổng bí thư thì nhiều người e ngại quyền lực của ông
An quá lớn. Vì vậy ông Nông Đức Mạnh được đưa lên nắm
chức vụ này như một giải pháp dung hòa. Tuy không có năng
lực và bản lĩnh của một chính khách , nhưng tính tình ôn hòa
nên được lưa chọn đứng đầu đảng qua hai nhiệm kỳ. Đáng
tiếc là những lúc quốc gia hay đảng cần có chính kiến thực
sự của vị Tổng bí thư thì ông lại vắng bóng. Người ta
chỉ thấy ông xuất hiện khi đi úy lạo người cao tuổi, họp
hành với Ủy ban Dân tộc hay hội thảo về gương đạo đức
Hồ Chí Minh. Còn khi sự vụ lớn của đất nước như sập
cầu Cần Thơ, vụ tham nhũng MPU 18, vụ Vinasin…hay chỉ đạo
điều hành kinh tế , hoặc bàn về quốc kế an sinh cho đất
nước thì không thấy đâu. Dưới thời của ông Nông Đức
Mạnh quyền lực của ban chấp hành trung ương đảng chuyển
dần sang phía chính quyền hay nói cách khác là sang chính phủ.
Chính phủ cổ vũ cho việc đảng chỉ lãnh đạo về đường
lối, đảng không nên thay mặt nhà nước làm mọi việc. Những
người lãnh đạo trong chính phủ cũng là những cán bộ chủ
chốt của đảng. Như vậy nhà nước( chính quyền) sẽ thể
hiện ý chí của đảng qua công việc của mình. Cả một thời
gian dài trước đó các ban ngành của trung ương đảng song hành
với bộ máy của chính phủ. Vô hình chung đảng có một bộ
máy hành chính khổng lồ gần như chính phủ. Vận hành bộ máy
này cũng cần một nguồn kinh phí khổng lồ. Nhưng hiệu quả
của công tác đảng đối với đường lối kinh tế mới thì
ngày càng mờ nhạt. Vì lẽ đó việc chuyển dần công việc
lãnh đạo sang nhà nước ( chính phủ) là một điều không thể
tránh khỏi.
Ban chấp hành TƯ đảng mà đứng đầu là ông Mạnh có vẻ tán
thành quan điểm này. Vì vậy nhiều ban ngành của Ban chấp hành
trung được đảng bị tinh giảm, hoặc giải thể, hoặc chuyển
sang cơ quan của chính phủ.
Bốn trụ cột chính của Ban chấp hành trung ương đảng là Ban
tuyên giáo, Ban tổ chức trung ương, Ban kiểm tra và Ban kinh tế.
Nếu như trước kia Ban tổ chức trung ương đảng là một công
cụ đặc hiệu của Tổng bí thư trong việc phân công bố trí
cán bộ đảng thì thời nay nó không còn thế mạnh như xưa
nữa. Ban tổ chức trung ương phải chia sẻ quyền lực của
mình với bộ Nội vụ của chính phủ. Thủ tướng có quyền
lựa chọn cán bộ đầu ngành, chuyển sang bộ nội vụ để
làm quy trình bổ nhiệm. Ban tổ chức trung ương được lấy ý
kiến bổ sung về lý lịch chứ không có quyền lực chọn để
bổ nhiệm. Xu thế một thủ trưởng và quyền quyết định
chọn người đứng đầu thắng thế nên phía chính phủ có
nhiều cơ hội hơn.
Vai trò của Ban tổ chức trung ương đảng đã bị yếu đi rất
nhiều.
Một ban khác của trung ương đảng còn duy trì được chức
năng của mình đó là Ban kiểm tra . Nhưng Ban này không có chức
năng đề đạt cán bộ hay bổ nhiệm cán bộ mà nó chỉ xem
xét kỉ luật. Có nghĩa là giải quyết hậu quả của con
người hay công việc khi mọi việc đã xảy ra rồi. Công việc
của Ban trong sinh hoạt đảng mang tính thụ động. Người ta
chỉ thấy Ban hoạt động mỗi khi có bầu cử nhiệm kỳ đảng
hay khi cán bộ đảng viên vi phạm kỉ luật mà thôi.
Ban tuyên giáo trung ương vẫn tỏ rõ là một cơ quan uy quyền,
hoạt động tích cực nhất của đảng. Ban chi phối và định
hướng cho mặt trận tư tưởng trên nhiều lĩnh vực. Nhưng
đường lối nặng về sách lược phòng, chống lệch lạc quan
điểm cũ của đảng. Còn đề xuất ra cái mới, định hướng
cho tương lai điểm đến của đảng thì không có. Cho đến nay
cơ quan này vẫn còn „ nợ" trung ương đảng một sản phẩm
lớn. Đó là chưa cho ra đời được một học thuyết phù hợp
với tinh thần thời đại. Hơn 20 năm mà vẫn lay hoay bàn con
đường định hướng CNXH và càng bàn thì lý thuyết càng xa
rời thực tế.
Đảng muốn thuận tiện hoạt động và ít phụ thuộc vào
chính phủ thì đảng phải có một nguồn tài chính riêng.
Nguồn tài chính này phải đồi dào, không bị các cơ quan
chuyên môn kiểm tra dòm ngó hay kiểm toán. Thông thường nó
được huy động riêng rẽ qua Ban kinh tế trung ương và hệ
thống cơ sở. Nhưng Ban kinh tế trung ương đã bị giải thể
chuyển sang chính phủ. Như vậy mọi phong trào sinh hoạt, mọi
hoạt động độc lập của trung ương đảng đều phụ thuộc
vào ngân sách của chính phủ, của nhà nước.
Đây là một điểm yếu nhất của Ban chấp hành trung ương
trong thời kỳ qua.
Tuy hệ thống đảng từ trước đến nay đã được cơ cấu
gắn chặt với bộ máy nhà nước từ trên trung ương xuống
tận địa phương. Nhưng do cơ chế quản lý thay đổi nhiều
nên tiếng nói của đảng ở các cấp chính quyền cũng có
nhiều thay đổi.
Ở cấp địa phương như phường xã thì vai trò của bí thư
đảng ủy mờ nhạt. Mọi điều hành công việc ở cấp này
đều do chủ tịch phường/ xã và bộ máy chính quyền định
đoạt.
Ở cấp huyện thì tình hình cũng không khá hơn mấy. Huyện ủy
thụ động hưởng ứng hoạt động của chủ tịch huyện và
bộ máy chính quyền. Vì chính quyền có thế mạnh về điều
hành kinh tế.
Riêng ở cấp tỉnh thì vai trò Bí thư và ban thường vụ
trước sau vẫn còn có thế mạnh. Đảng vẫn trực tiếp can
thiệp vào mọi hoạt động của tỉnh. Nhưng vai trò nổi trội
của cá nhân bí thư tỉnh ủy thì không còn như trước. Ở
nhiều tỉnh người ta đánh giá cao vị trí lãnh đạo của chủ
tịch, vì chủ tịch là người trực tiếp ký quyết định và
điều hành kinh tế cho địa phương.
Dưới thời của thủ tướng Phạm Văn Khải và đặc biệt là
từ khi ông Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng thì quyền
lực của chính phủ được gia tăng vô biên. Vai trò của Thủ
tướng bao trùm lên tất cả mọi chính sách của đất nước.
Thủ tướng trực tiếp nắm công cụ bạo lực của đất
nước, đó là lực lượng quân đội và công an. Thủ tuớng
ấn định quan hệ quốc tế, vì Thủ tướng đặc trách chỉ
đạo Bộ ngoại giao. Thủ tướng cũng người có quyền phân
bổ ngân sách nuôi bộ máy nhà nước và đoàn thể ( trong đó
có đảng) vì Thủ tướng trực tiếp điều hành kinh tế- tài
chính. Cuối cùng thì Thủ tướng cũng là người có tiếng nói
quyết định khi bổ nhiệm cán bộ, vì bộ Nội vụ dưới
quyền điều hành của Thủ tướng. Như vậy Ban chấp hành trung
ương đảng gần như biến thành bộ máy tham mưu cho chính phủ
về nguồn cán bộ còn Quốc hội là nơi chính phủ tham vấn
thêm khi bổ nhiệm thành viên lãnh đạo bộ ngành chứ không
còn là những nơi định đoạt các vị trí trọng trách trong
bộ máy nhà nước.
Khi hình bóng của Thủ tướng sáng tỏa bao nhiêu thì vai trò
của Tổng bí thư sẽ thấp thoáng ở đường lối lý thuyết.
Vị thế của hai nguyên thủ khác như chủ tịch nước, chủ
tịch quốc hội hoàn toàn mang tính nghi lễ cho hợp hiến chứ
không có tiếng nói quyền lực.
Hình mẫu con người quản lý nhà nước cũng thay đổi nhanh
chóng theo sự phát triển kinh tế. Nếu như trước đây người
đảng viên đứng trong bộ máy nhà nước thì khi họ làm việc
họ còn phải nhìn trước ngó sau và nhất là lưu ý đến trách
nhiệm của người đảng viên. Chức vụ chưa hẳn nhất thiết
kèm theo quyền lực, bởi vì quyền lực chính nằm ở tập thể
lãnh đạo. Chức vụ đi kèm theo danh dự phục vụ đảng và
đất nước.
Còn bây giờ thì rất khác. Cơ chế một thủ trưởng đã tạo
cho cá nhân có nhiều quyền lực. Người muốn có chức vụ thì
đầu tiên phải là người đứng trong hàng ngũ đảng cộng
sản, đó là điều kiện bắt buộc. Khi có chức vụ thì lúc
đó mới có quyền lực cá nhân và quyền lực cá nhân sẽ đi
kèm với lợi nhuận kinh tế. Sức mạnh của kinh tế sẽ củng
cố lại vị thế của quyền lực.
Còn quan điểm phục vụ và cống hiến như trước đây thì
lại bị xem nhẹ hoặc là lãng quên.
Các cá nhân lãnh đạo đều khéo léo sử dụng tập thể đảng
ủy như một ban tham mưu để thông qua ý chí của mình. Khi công
việc hanh thông thì xem thành tích đó là của cá nhân. Nhưng
nếu thất bại thì lại nhanh chóng đẩy lỗi trách nhiệm cho
cả tập thể. Vì quyết định có thông qua thường vụ đảng,
được tập thể đồng ý. Như thế nghiễm nhiên cá nhân thoát
án kỉ luật. Chẳng nhẽ lại kỉ luật cả một tập thể
đảng? Tổ chức đảng làm sao mà sai được (!)
Nếu hệ thống chính trị ổn định và kinh tế càng phát
triển thì cán bộ đảng viên có chức quyền trong bộ máy nhà
nước càng có nhiều cơ hội lớn hơn. Vì thế mục tiêu đầu
tiên và lâu dài họ cần phải bảo vệ lợi ích đó. Muốn
bảo vệ được lợi ích cá nhân thì đầu tiên họ phải ra
sức bảo vệ hệ thống chính trị, bảo vệ vị trí độc tôn
lãnh đạo toàn diện của đảng và sau đó phải bảo vệ
được thành quả cá nhân của mình. Bảo vệ „thành quả cách
mạng „ lâu dài của cá nhân mình, của tầng lớp mình không
ai có thể hơn là con cháu mình, bạn bè mình, người cùng hội
cùng thuyền của mình. Số này rất trung thành, sẽ bảo vệ
hệ thống chính trị và quyền lợi tầng lớp đến cùng. Như
vậy trong rất nhiều cán bộ cao cấp quản lý nhà nước đã
nảy sinh ra một tầng lớp cán bộ mới, tầng lớp mà người
ta thường gọi là con ông cháu cha. Nếu xã hội có thắc mắc
thì nó được giải thích theo cụm từ ngữ thích hợp đó là
hiện tượng „ truyền thống cách mạng gia đình". Hiệu ứng
này lan tỏa mạnh trong các cấp lãnh đạo ở trung ương cũng
như phổ biến ở nhiều địa phương.
Hơn nữa công tác cán bộ của đảng và nhà nước sinh ra một
cơ chế bảo vệ nguồn. Cán bộ cấp dưới do ban ngành cấp
trên bổ nhiệm và quản lý. Khi cán bộ đảng viên trong guồng
máy nhà nước vi phạm khuyết điểm họ chỉ chịu trách nhiệm
với cấp trên chứ đơn vị công tác không có quyền kỉ luật
hay bãi miễn họ. Đây là một cơ chế tai hại. Vì thế nhiều
cán bộ đảng viên yếu kém, vướng mắc khuyết điểm vẫn
tiếp tục đảm nhiệm công việc hoặc được luân chuyển vị
trí công tác mà không lo bị đào thải khỏi bộ máy công
quyền.
Ông Nguyễn Phú Trọng là một người làm công tác đảng lâu
năm và kinh qua nhiều chức vụ quan trọng .Ông hiểu rất rõ
những đặc điểm như đã nêu trên.Ông từng trực diện với
thay đổi lớn về mặt tổ chức của trung ương đảng và sự
sa sút đạo đức của cán bộ đảng trong bộ máy chính quyền.
Nó đã thành tính hệ thống qua nhiều nhiệm kỳ. Để tạo
sức mạnh mới cho đảng và lập lại kỉ cương đạo đức
trong đảng là một công việc khó, vượt cả khả năng của
ông. Nhưng vị Tổng bí thư cũng cố gắng chèo lái đảng
trước thách thức của thời cuộc.
Điều hạn chế nhất của ông là thiếu sự quyết đoán của
một thủ lĩnh. Vì xưa nay đến giờ người ta đánh giá ông
như một công chức cần mẫn, liêm khiết và hiền lành. Ông
không phải là người thủ lĩnh làm cuộc cách mạng đổi mới
tư tưởng trong đảng, vì bản chất của ông là một người
cộng sản giáo điều. Ông trung thành với chủ nghĩa Marx- Lenin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ông không hề có ý định xa rời
nguyên tắc đó.
Ông cho rằng hình mẫu chủ nghĩa xã hội vẫn là một hình
mẫu lý tưởng cho xã hội Việt Nam. Đường lối lãnh đạo
của đảng đối với đất nước Việt Nam không sai. Những
hiện tượng tiêu cực xảy ra ở đất nước bây giờ là do
công tác cán bộ, do lệch lạch về học thuyết Marx- Lenin, do
chủ nghĩa cá nhân hoành hành, do vai trò lãnh đạo trực tiếp
của đảng bị giảm sút vì thế ông nghiêng về quan điểm
củng cố lại vị thế tập trung quyền lực cho đảng. Đảng
phải có thực quyền, đảng phải điều khiển được công
quyền và chủ động về mặt tài chính.
Ông giữ vững nguyên tắc, đảng không nhất thiết phải đổi
mới đường lối, đảng chỉ cần giáo dục cán bộ của mình
liêm khiết thì đảng sẽ thành công trong thời đại mới.
Vì thế ông không cổ vũ sinh hoạt cởi mở dân chủ trong xã
hội hoặc trong đảng. Ông cũng nhấn mạnh quan điểm không
thể có hình thức Tam quyền phân lập ở Việt Nam. Ngay khi ông
lên làm Tổng bí thư, người dân trông chờ vào ông và Ban
chấp hành về quan điểm chế độ sở hữu đất đai. Nhưng
ông đã tỏ rõ chính kiến, không có sự thay đổi lớn, vẫn
theo cơ chế cũ.
Theo quan điểm của ông thì những gì mà ông gọi là „ hiểm
họa đe dọa sự tồn vong của Đảng" không xuất phát từ
đường lối của hệ thống chính trị mà là do sự suy yếu
nội bộ đảng trong vai trò cầm quyền. Theo ông thì đảng
cộng sản vẫn giữ vai trò độc tôn, vẫn lãnh đạo toàn
diện và thể hiện sức mạnh quyền lực của mình như trước,
trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp địa phương.
Muốn thực hiện được điều đó cần phải có một sách
lược phù hợp. Ông và người cộng sự đắc lực của mình,
ông Hồ Mậu Ngoạt, suy nghĩ làm cách nào để tiến hành công
cuộc chấn hưng đảng mà ít vấp phải sự phản ứng ngay từ
trong nội bộ.
Bước đầu hãy tiếp cận với phạm trù tư cách đảng viên
trong điều lệ đảng…từ đó mới đụng chạm đến các vấn
đề vĩ mô.
Vì thế nghị quyết 4 về chỉnh đốn đảng của Ban chấp hành
trung ương khóa 11 đã ra đời.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121020/di-san-cua-nguoi-tien-nhiem-va-muc-dich-chan-hung-dang-cua-ong-nguyen-phu-trong),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét