Sau một thời gian trở thành thị trường mới nổi nóng nhất
tại châu Á, Việt Nam đã buộc phải kiểm tra lại tình hình
thực tế khi nền kinh tế bong bóng sắp đổ vỡ. Đã bốn năm,
độ co giật vẫn còn nghiệm trọng.
<h2>Thiếu thông tin trung thực</h2>
<div class="boxleft320"><img
src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2012/10/Vietnam-Economic-Storms.jpg"
/></div>
Mặc dù Trịnh Thị Huyền đã có công việc kế toán tại một
công ty vận chuyển tại Hà Nội nhưng cô vẫn tiếp tục tìm
kiếm việc để làm thêm.
Chồng của cô, một công nhân xây dựng, đã không thể tìm
việc trong nhiều tháng vì thị trường bất động sản tại
Việt Nam sụp đổ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
"Tôi rất sợ, khi mỗi ngày giá cả tiếp tục gia tăng và tôi
là nguồn thu nhập duy nhất cho cả gia đình trong sáu tháng
qua", cô nói.
Sau hai thập kỷ tăng trưởng và thịnh vượng, Việt Nam trở
thành một trong những thị trường mới nổi nóng nhất tại
châu Á, nhưng nhiều người Việt như Huyền đã buộc phải
kiểm tra lại thực tế khi nền kinh tế trở nên quá nóng trong
năm 2008 và đã trải qua một loạt các cơn co giật đau đớn
từ đó đến nay.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chỉ tăng 4,4% trong nửa năm 2012
so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số này cũng giảm mạnh từ
7% trong gia đoạn trước khủng hoảng khi chính phủ thắt chặt
cung tiền cùng với nỗ lực ngăn giảm lạm phát.
Vào cuối tháng Chín vừa qua, Moody's đã cắt giảm tín dụng
của Việt Nam xuống một bậc thành B2. Đây là mức đánh giá
thấp nhất mà Moody's đã từng dành cho nước này. Đánh giá
của Moody's hiện nay thấp hơn Standard & Poor hai bậc BB- và
dưới Fitch một bậc B-.
Các vụ bắt giữ gần đây đối với một số doanh nhân nổi
tiếng, trong đó có Nguyễn Đức Kiên – người sáng lập ngân
hàng ACB, một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất tại
Việt Nam – về những cáo buộc phạm tội tài chính đã làm
lung lay thêm nhiều vấn đề. Việc này đã tập trung tất cả
sự chú ý vào sự quản lý yếu kém trong lãnh vực ngân hàng
cũng như nợ quốc gia.
Với thể chế chính phủ độc tài không muốn thông báo các
thông tin rõ ràng và kịp thời về các vụ bắt giữ cũng như
những thông tin liên quan đến ngành ngân hàng, các nhà đầu tư
nước ngoài và Việt Nam vẫn tiếp tục bày tỏ sự lo lắng
về triển vọng đối với nền kinh tế nước này.
"Các vấn đề chính là hàng loạt hoạt động cho vay không
hiệu quả và tài sản thị trường bất động sản đang đóng
băng, với rất nhiều công ty mang nợ nặng nề", Jonathan Pincus
– người đứng đầu chương trình giảng dạy kinh tế và
chính sách cho các quan chức chính phủ tại thành phố Hồ Chí
Minh thuộc Đại học Harvard – cho biết.
"Ưu tiên hàng đầu là phải đối phó với các khoản nợ
xấu. Nền kinh tế cần phải giải nợ, và điều này có thể
mất một thời gian dài hoặc chính phủ có thể giới thiệu
các chính sách để giúp tăng tốc công việc. Họ đã nói về
chuyện này nhưng chưa thấy thực hiện chúng".
Bất cứ điều gì xảy ra tiếp theo thì những thách thức đối
với Việt Nam không phải là điều gì mới, và các giải pháp
có thể rất khó để thực hiện.
Trong những năm nền kinh tế nước này bùng nổ trước khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm
2007, nhiều nhà đầu tư, nhà tài trợ và chính phủ đã bỏ qua
các vấn đề như tham nhũng, các quy định yếu kém của nhà
nước và sự thiếu đầu tư vào các lĩnh vực chủ chốt nhu y
tế và giáo dục.
Khi tiền nước ngoài bắt đầu đổ vào, chính phủ đã mở
rộng tín dụng rất nhanh chóng, với số tiền giá rẻ được
phân bổ cho các công ty lớn thuộc nhà nước và các tập đoàn
tư nhân chính trị thân hữu. Tín dụng ngân hàng như một tỷ
lệ của GDP đã tăng từ khoảng 20% vào cuối những năm 1990
lên đến 136% vào cuối năm 2010, dẫn đến tình trạng Việt Nam
trở thành một trong những quốc gia mang nợ nhiều nhất ở
châu Á.
Phần lớn số tiền này đã được bơm vào các doanh nghiệp
nhà nước không hiệu quả và đầu cơ vào thị trường chứng
khoán cũng như bất động sản chứ không phải là các doanh
nghiệp thực sự sản xuất sinh lời. Nhưng khi Việt Nam bắt
đầu nhanh chóng đối mặt với hai cuộc khủng hoảng lạm phát
và khủng hoảng tài chính toàn cầu lan rộng thì việc sụp
đổ là không thể tránh khỏi.
Hai tập đoàn nhà nước khổng lồ Vinashin – công ty đóng tàu,
và Vinalines – công ty vận chuyển đường biển, là hai trong
những công ty nổi bật nhất đã sụp đổ trong bối cảnh nợ
nần hàng tỷ đô la và đầu tư lãng phí. Hơn một chục giám
đốc điều hành từ cả hai công ty này đã bị buộc tội
hoặc bị kết án về các tội kinh tế và phải đối mặt với
các bản án dài hạn không khoan nhượng tại Việt Nam.
Hậu quả chính trị từ thất bại đó đối với mô hình hình
tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam hầu như đã được bịt
kín trong nội bộ Đảng Cộng sản.
<h2>Cần sân chơi cạnh tranh công bằng</h2>
Một số kinh tế gia và nhà đầu tư nhìn thấy niềm hy vọng
giữa cơn bĩ cực trong cuộc khủng hoảng đang diễn ra, tranh
cãi rằng đây là dấu hiệu cho thấy chính phủ đang chuẩn bị
đối đầu với các vấn đề mà đất nước phải đối mặt.
"Chúng tôi rất lạc quan về quyết tâm của chính phủ trong
việc làm sạch các khoản nợ xấu cũng như cải cách khu vực
doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công", Trinh Nguyễn, một
kinh tế gia trong khu vực châu Á thuộc Ngân hàng HSBC tại Hồng
Kông cho biết. "Câu hỏi là liệu điều này sẽ sớm diễn ra
như thế nào".
Mặc dù chính phủ tập trung hỗ trợ khu vực kinh tế nhà
nước, nhưng nền kinh tế Việt Nam đã năng động hơn rất
nhiều và chủ yếu dựa vào đầu tư nước ngoài cũng như lĩnh
vực sản xuất – hai lĩnh vực chính đã giúp giữ nền kinh
tế phát triển.
Cạnh tranh xuất khẩu quần áo và hàng điện tử của Việt Nam
vẫn tiếp tục phát triển bất chấp sự sụt giảm tại các
nước phát triển khác.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gần đây đã cắt giảm mục tiêu
tăng trưởng năm nay xuống còn 5,2% vì tình hình đã trở nên
xấu đi.
Với lịch sử gần đây và mức phát triển của các nước
láng giềng như Indonesia, nơi được dự báo sẽ có mức tăng
trưởng ở khoảng 6% trong năm nay thì Việt Nam không có nhiều
điều để tự hào.
Nhưng Việt Nam có thể sống với mức tăng trưởng thấp trong
một vài năm tới nếu chính phủ nước này học được những
bài học đúng từ khả năng phục hồi của khu vực sản xuất.
Nếu nước này thúc đẩy một sân chơi công bằng có sự cạnh
tranh và tăng năng suất trong thời gian trung hạn thì cả nước
có thể tận dụng lợi thế tự nhiên của lực lượng lao
động trẻ, giá rẻ, và vị trí chiến lược giữa Trung Quốc
và phần còn lại của Đông Nam Á.
"Chúng tôi nghĩ tăng trưởng vẫn còn ở mức thấp trong hai
năm tới", Trinh Nguyễn nói. "Tuy nhiên, nếu Việt Nam thực
hiện các cải cách như dự đoán thì nền kinh tế nước này
có thể trở nên tốt hơn để cạnh tranh khi nền kinh tế toàn
cầu hồi phục".
<em>Bài báo có thêm các chi tiết được bổ sung bởi Nguyễn
Phương Linh tại Hà Nội.</em>
Nguồn: <a
href="http://www.emergingmarkets.org/Article/3102662/Economics-and-Policy/VIETNAM-Price-to-pay.html">Emergin
Markets</a>
© Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2012
_________________________
<h2>Cầu Nhật Tân - Bức tranh ảm đạm sau Hội nghị Trung
ương</h2>
Trong buổi gặp Chủ tịch nước hôm 13/10, Chủ tịch Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc cùng các
doanh nhân tiêu biểu cả nước đã báo cáo với Chủ tịch
nước:"trong 9 tháng đầu năm 2012 đã có trên 40.000 doanh
nghiệp phải giải thể và ngừng hoạt động. Số doanh nghiệp
còn lại hoạt động trong tình trạng khó khăn chật vật".
<h2>Sản xuất kinh doanh đình đốn, thất nghiệp trầm trọng,
tiền vốn ngập hết vào bất động sản</h2>
Theo thống kê chính thức của Bộ Kế hoạch Đầu tư: tính
riêng năm 2011 đã có tới 53.000 doanh nghiệp đóng cửa và phá
sản, và gần 40.000 doanh nghiệp lâm vào cảnh tương tự trong 8
tháng đầu năm 2012. Con số này gần bằng một nửa con số các
doanh nghiệp đóng cửa và phá sản kể từ năm 1986 tới nay.
Đáng lo hơn hoạt động của các doanh nghiệp đang tồn tại
trên thị trường cũng không khá hơn. Thống kê cho thấy hầu
hết các doanh nghiệp đã giảm công suất hoạt động, thậm
chí nhiều doanh nghiệp chỉ còn tồn tại hình thức bởi không
tiêu thụ được sản phẩm, lượng hàng tồn kho cao. Nếu tính
trung bình các doanh nghiệp này giảm công suất 20% tương đương
với khoảng 150.000 doanh nghiệp nữa đóng cửa và phá sản. Số
người thất nghiệp do doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, kinh doanh
lên đến hàng triệu người.
Do kinh tế khủng hoảng, người dân đã tự thắt lưng buộc
bụng. Hàng hóa do đó không tiêu thị được. Hàng triệu tỷ
đồng vốn đang bị chôn trong hàng hóa tồn kho, trong đó hàng
tồn bất động sản lớn nhất. Tính riêng ở Hà Nội và Sài
Gòn, thị trường bất động sản có tới trên 70.000 căn hộ
đang bị ế. Ít nhất có tới 140 nghìn tỷ đồng đang bị
chôn, mà phải mất hàng chục năm sau may ra mới có cách xử
lý.
Báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia ước tính, khu
vực bất động sản đã được các ngân hàng bơm gần 350
nghìn tỷ đồng, một số vốn khổng lồ tương đương trên 17
tỉ USD. Đó là chưa tính các dự án "ma" được các ngân
hàng cho đội tên khác nhưng vốn vẫn chảy vào bất động
sản mà không thể thu hồi được.
Một nhà nghiên cứu kinh tế cho biết, nếu tính cả dự án
"ma", tổng vốn đang chôn vào bất động sản ước khoảng
trên 30 tỉ USD trên địa bàn cả nước. Toàn bộ các doanh
nghiệp bất động sản đều rơi vào tình trạng không bán
được hàng, không thu được tiền vốn, đang ngập sâu trong
nợ ngân hàng và hoàn toàn đủ điều kiện phá sản.
Nhìn ra khu vực công, tình hình cũng không sáng sủa hơn. Năm
2011, tổng số nợ vốn đầu tư của 63 tỉnh và thành phố là
91.273 tỷ đồng của 47.209 dự án; trong đó, nợ vốn các công
trình xây dựng cơ bản đã hoàn thành là 25.423 tỷ đồng, nợ
vốn của 20.921 dự án đang triển khai là 65.850 tỷ đồng, dãn
tiến độ 41 dự án với tổng số vốn là 38.320 tỷ đồng.
Hậu quả của tình trạng trên, không gì khác là số phận hẩm
hiu của các doanh nghiệp và người lao động. Đang có nhiều
doanh nghiệp "chết" hoặc "chờ chết" vì không thu được
món nợ này.
<h2>Doanh nghiệp Nhà nước - những con nợ khổng lồ</h2>
Doanh nghiệp Nhà nước hiện sử dụng vốn tín dụng chiếm
tới khoảng 70% tổng số nợ xấu, trong đó các tập đoàn kinh
tế, tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu. Ngoài ra, nợ xấu
của khu vực tập đoàn, tổng công ty chiếm tới 30 – 35% tổng
dư nợ của khối này trong vay nợ từ hệ thống ngân hàng
thương mại.
Tổng dư nợ đó của 12 tập đoàn kinh tế Nhà nước lên tới
gần 218.740 tỷ đồng, theo Đề án tái cấu trúc khu vực doanh
nghiệp Nhà nước của Bộ Tài chính năm 2012. Trong đó dư nợ
lớn nhất thuộc về Tập đoàn Dầu khí (PVN – 72.300 tỷ
đồng), Điện lực (EVN-62.800 tỷ đồng), Than và Khoáng sản
(Vinacomin – 19.600 tỷ đồng).
Ngoài khu vực ngân hàng, nợ xấu của khu vực doanh nghiệp đang
"rất lớn" ở Ngân hàng Phát triển (VDB). Chẳng hạn,
Vinashin vay ưu đãi VDB gần 300 tỷ đồng lãi suất bằng 0% để
hỗ trợ trả lương và phụ cấp; EVN được vay hơn 5.000 tỷ
đồng. Còn trong các năm trước đó, Vinalines cũng vay VDB để
phát triển tàu mới; Xi măng Đồng bành vay 290 tỷ đồng…
Hiện nay, nợ của các tập đoàn, tổng công ty… chiếm độ 75
– 80% tổng dư nợ của Ngân hàng Phát triển VDB. Các doanh
nghiệp Nhà nước mặc dù số lượng thấp hơn doanh nghiệp tư
nhân nhưng nợ thuế cũng khổng lồ. Con số nợ thuế chưa trả
của các DN Nhà nước chiếm khoảng 13% trên tổng số nợ
thuế.
Khối các ngân hàng thương mại cũng không khá hơn. Bởi lẽ,
giữa năm 2012 NHNN công bố tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam là
8,6% tổng dư nợ nghĩa là vào khoảng 202 nghìn tỷ đồng, nhưng
trên diễn đàn Quốc hội, Thống đốc NHNN lại thông báo con
số 10%, và dư luận lại đánh giá có thể ở mức cao hơn 10%.
Gánh nặng này thật sự đã đè gần bẹp khả năng phát triển
của nền kinh tế vì vốn là một trong những điều kiện tiên
quyết của hoạt động doanh nghiệp.
<h2>DNNN nợ nần chồng chất, nhà nước dùng tiền của dân
đứng ra trả nợ thay</h2>
Những số liệu mới nhất cho thấy khu vực DNNN hiện đóng góp
vào 70% nợ xấu của toàn hệ thống tín dụng, trong đó các
tập đoàn kinh tế, tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu. Nếu
ước tính nợ xấu của hệ thống là 10% tổng dư nợ tín
dụng, như theo công bố của NHNN, thì nợ xấu của khu vực DNNN
sẽ ước khoảng 200 nghìn tỷ đồng và nợ xấu của các tập
đoàn kinh tế, tổng công ty sẽ vào khoảng 153 nghìn tỷ đồng.
Còn một khối nợ lớn nữa là khối nợ do Nhà nước bảo
lãnh cho các doanh nghiệp vay của các tổ chức tín dụng nước
ngoài. Hiện, Bộ Tài chính chưa có con số chính xác nhưng ước
tính tổng nợ loại này khoảng 7-10 tỉ USD và nhiều con nợ là
các doanh nghiệp nhà nước đã mất khả năng trả nợ. Gần
đây nhất, với tư cách là người bảo lãnh, Bộ Tài chính đã
phải đứng ra trả 3,5 triệu USD cho ngân hàng ANZ thay cho Xi măng
Đồng Bành, trả nợ vốn vay đầu tư đến hạn của Vinaincon
tại Ngân hàng BNP Paribas, với số tiền 4,2 triệu Euro.
<h2>Hậu quả</h2>
Những món nợ trong nợ ngoài, những cú ảo thuật rót đi rót
lại hiện đã ngốn của quốc gia khoảng 65-70 tỉ USD. Đây
thực sự là những cú đấm chí mạng khiến nền kinh tế quốc
dân chao đảo, ngã gục không gượng dậy được. Nhân dân thì
không có công ăn việc làm, mất thu nhập, đối mặt với lạm
phát, giá cả leo thang, đời sống ngày càng cùng cực. Hơn lúc
nào hết, Việt Nam đang bị xoáy vào một cuộc khủng hoảng
toàn diện và sâu sắc nhất kể từ 1985, đang phải đối mặt
với nhiều thách thức cả bên trong lẫn bên ngoài.
<a
href="http://caunhattan.wordpress.com/2012/10/15/tu-mot-bao-cao-voi-chu-tich-nuoc/">Theo
blog Cầu Nhật Tân</a>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121015/ben-bland-viet-nam-gia-phai-tra), một
số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc
giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận
có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng
dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét