Đỗ Kim Thêm - Thị trường: Lý thuyết và Thực tế

<h2>Thị trường không phải chỉ là vấn đề kinh tế</h2>

Thị trường là nơi gặp gở giữa người mua và người bán,
một khái niệm kinh tế dễ hiểu. Nếu thuận mua và vừa bán
là thị trường hoạt động, giá cả lạm phát thì bàn tay vô
hình điều chỉnh, thị trường khủng hoảng chính quyền sẽ
can thiệp để đưa hoạt động trở lại bình thường. Thực
tế cho thấy không phải chỉ có giá cả là quyết định cho
toàn bộ sinh hoạt thị trường và lúc nào chính quyền cũng can
thiệp đúng lúc và hữu hiệu, vì thị trường không chỉ là
vấn đề kinh tế mà là một thực tại xã hội sinh động, đa
dạng và diễn biến phức tạp.

Dù khoa học kinh tế tìm đủ mọi cách để luận giải về các
vận hành của thị trường, nhưng không ai đã tiên đoán
được sự phát sinh của các khủng hoảng vào năm 1929 và 2008.
Khả năng phân tích tình hình và tiên đoán tương lai của các
nhà kinh tế bị ngờ vực, vì tin tức sai lệch và khả năng
bị giới hạn trong phạm vi chuyên môn hoá. Có khi nhận ra
những nguy cơ cho thị trường, nhưng vì áp lực hoặc quyền
lợi cá nhân, nên họ cũng không lên tiếng cảnh báo. Đó là
lý do tại sao lại có sự sụp đổ của tập đoàn đầu tư
Bern Sterns, Lehman Brothers, AIG và các tập đoàn tư bản tài chính
khác vào năm 2008. Kinh nghiệm của năm 1929 không giúp được cho
chính quyền Hoa Kỳ tiến bộ hơn mà chỉ lập lại tình hình:
nếu sụt giảm cổ phiếu gây tác haị trong ngắn hạn, thì
những biện pháp giải quyết gây hậu quả kéo dài hơn cho thị
trường.

Chính quyền châu Âu cũng không khá hơn. Điển hình là trước
ngày vỡ nợ họ ca ngợi thị trường tài chính Hoa kỳ là mô
hình phù hợp để theo đuổi trong tiến trình toàn cầu hoá và
khuyến khích các ngân hàng mua các cổ phiếu tại thị trường
này với hy vọng là sinh lợi trong ngắn hạn. Khi trực tiếp can
thiệp để giải cứu thị trường thì các biện pháp cũng
không đem lại kết quả lâu dài, vì họ bị ràng buộc vào
những thoả hiệp chính trị nhất thời trong cơ chế dân chủ
phức tạp và nhất là triển vọng tái đắc cử luôn là những
ám ảnh đè nặng là lý do. Lập luận theo Ronald Reagan thì chính
quyền không đem lại giải pháp mà chính là vấn đề. Tại các
nước toàn trị dù những giải pháp táo bạo và nhanh chóng
của chính quyền được dể dàng áp dụng hơn, nhưng cũng không
có nghiả là sẽ đạt kết quả, mà mức độ tác hại lại
trầm trọng hơn vì nhiều lý do khác.

Trong bối cảnh khủng hoảng của nền kinh tế chủ nghiã tư
bản trên thế giới hiện nay, khái niệm về thị trường đã
được thảo luận sâu rộng tại phương Tây. Thị trường là
gì? Lập luận chính trong trong tiểu luận sau đây cho rằng thị
trường không hẳn chỉ là một khái niệm thuần kinh tế mà
còn là xã hội. Tìm hiểu sự thành hình và phát triển cũng
như luận giải về lý thuyết và thực tế thị trường tại
châu Âu và Việt Nam là những chủ đề sẽ được thảo luận.

<h2>Lược sử về sự hình thành và phát triển thị
trường</h2>

Các nhà sử học đã không dẫn chứng chính xác được thị
trường hình thành vào lúc nào, mà suy đoán là những trao đổi
hàng hoá thô sơ và xa xưa nhất đã có từ 3500 năm trước
Thiên Chuá giáng sinh tại Mesopotamien. Ngay trong thời kỳ này
người ta đã phân biệt đối xử về trao đối giữa người
trong và ngoại bộ lạc. Tại Hy Lạp cổ thời mối quan hệ trao
đổi chỉ qua các thị dân mà sự phân biệt về trao đổi hàng
hoá với các sắc dân khác ngoài thành phố Agora đã cho nhiều
thí dụ. Sự kiện này kéo dài suốt thời kỳ trung cổ và dần
dần bớt đi qua thời gian, khi thị trường không còn là nơi
giữa người mua và người bán quyết định trực tiếp, mà
hình thành qua các nhà buôn lẻ và thủ công. Các quyết định
của chính quyền bắt đầu có ảnh hưởng trên giá cả, số
lượng cũng như phương thức trao đổi. Cạnh tranh bắt đầu
xuất hiện khi hội chợ trở thành một tụ điểm thương mại
tại châu Âu trong thời kỳ từ thế kỷ XI đến XIV. Hội chợ
mở ra không vì nhằm trao đổi cho nhu cầu địa phương mà còn
cho các thương nhân từ các nơi xa đến. Hội chợ nổi tiếng
nhất là Champagne taị Pháp và lan rộng từ khắp nưóc Ý cho
đến vùng Flandre.

Ý niệm về cơ chế thị trường hình thành rõ nét tại châu
Âu từ thế kỷ XVI khi chủ thuyết Trọng Thương đã gây
được tiếng vang tại Pháp. Học thuyết này đề cao sự độc
lập trong nền kinh tế bằng cách không lệ thuộc vào nhập
khẩu, đấy mạnh xuất khẩu, giảm bớt các rào cản mậu
dịch, sửa đổi biểu thuế quan biểu điạ phương và xây
dựng cơ cấu hạ tầng để phát triển thị trường nội
địa. Về sau đóng góp đáng kể cho sự phát triển thị
trường là học thuyết về tự do mậu dịch, bành trướng thị
trường tiêu thụ đaị chúng, thị trường lao động và tinh
thần duy lý trong các quyết định trao đổi mậu dịch. Hàng
hoá được sản xuất trên một mức độ quy mô hơn trước vì
có vai trò của canh tân kỷ thuật đóng góp. Sản xuất không
phải chỉ cung ứng nhu yếu phẩm trong cuộc sống hàng ngày
tại điạ phương mà là một chiến lược quy mô cho một thị
trường đang lan rộng. Sử gia chứng minh mậu dịch giưả các
nước trong vùng Điạ Trung Hải và Trung Quốc đã có từ 200
trước Thiên Chuá giáng sinh và mậu dịch giữa Anh và Ấn độ
đã phát triển từ thế kỷ XIII. Nhưng mở rộng giao thông và
vận chuyển bắng đường biển làm biến dạng hình thái thị
trường nguyên thuỷ. Khái niệm địa lý về thị trường thay
đổi qua các tiếp xúc với các sắc tộc, quốc gia và khu vực
khác.

Nhưng tác động nhất làm thay đổi sinh hoạt thị trường là
trào lưu công nghiệp hoá tại Anh vào thế kỷ XVIII. Kinh tế du
mục đã giảm, chế độ định canh hình thành và nông phẩm ít
được quan tâm hơn sản phẩm công nghiệp. Mối quan hệ của
các chủ thể kinh tế (gia đình, doanh nghiệp và nhà nước) và
cách tác động của các tác nhân này trên thị trường bắt
đầu hình thành trên quy mô mới. Để phát triển thị trường
công nghiệp cả nước vấn đề chính là sản xuất các mặt
hàng tiêu thụ và nâng cao sức mua với nhiều thị hiếu khác
nhau cho mọi tầng lớp trong xã hội. Cấu trúc xã hội để
tạo ra một thị trường công nghiệp năng động trở thành
đề tài bắt đầu được tìm hiểu.

Quan trọng nhất là thị trường lao động được thành hình
trong một nền kinh tế tư bản còn sơ khai. Những hình thức lao
động, dù đã có qua hình thức nô lệ trong tiền sử hay gia
công về sau, nay đã biến dạng trong mối quan hệ tiền lương
cho công nhân trong xã hội phong kiến. Công nhân không còn lệ
thuộc chính trị vào quyền lực các lảnh chuá địa phương. Ý
niệm quyền tư hửu cá nhân hình thành và quyền công hửu
giảm đi. Dù các mối quan hệ còn thô sơ, nhưng diễn trình
chuyển hoá xã hội, nhất là khía cạnh văn hoá xã hội, đã
góp phần quan trọng trong sự phát triển hoạt động của thị
trường.

Dù được công nghiệp hoá cao độ và cấu trúc thị trường
hàng hoá và dịch vụ đã thay đổi, nhưng không có nghiã là
thị trường tự định đoạt toàn bộ sự vận hành mà các
biện pháp thuế khoá, phân phối cũng như an sinh xã hội của
nhà nước đã đóng góp quan trọng cho tiến trình phát triển
này.

<h2>Lý thuyết kinh tế về thị trường</h2>

Phát triển cơ chế thị trường là một thành tựu văn minh cho
xã hội, nhưng cũng là một đề tài gây tranh luận về mặt lý
thuyết kinh tế, nỗi bật nhất là của Adam Schmit và Karl Marx.

Adam Smith là người sáng lập khoa kinh tế học vì ông lý giải
đầu tiên các khiá cạnh chủ yếu của sinh hoạt thị trường.
Trong tác phẩm <em>An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of
Nations</em> ông không chú trọng nhiều đến việc giải thích
về cơ chế giá cả mà bàn về sự phân công lao động trong
toàn xã hội. Ông lập luận khi phân công lao động phát triển
cao độ thì con người sẽ có nhiều nhu cầu trao đổi hàng hoá
với người khác. Khuynh hướng sản xuất và trao đổi là tự
nhiên nơi con người. Con người trao đổi hàng hoá cho nhau để
thoả mãn nhu cầu và hiện tượng này không có trong xã hội
loài vật. Không phải giá cả là tác động chính, mà tư lợi
của con người trong mối quan hệ trao đổi hàng hoá là khởi
điểm làm cho thị trường hoạt động và phúc lợi cho đất
nước qua đó mà thành hình.

Smith cũng ý thức vấn đề giá khi ông phân biệt hai loại giá,
một là giá tự nhiên và hai là giá trao đổi trong thị
trường. Giá tự nhiên là giá sản xuất và bất biến trong khi
giá trao đổi trên thị trường tùy thuộc vào nhiều yếu tố
khác, kể cả tình cờ. Dĩ nhiên có nhiều biện pháp để kiểm
soát giá thị trường, qua độc quyền hay luật lệ. Giử gìn
giá được bình ổn trên thị trường chỉ là một biện pháp
có giới hạn vì phát triển thị trường cũng cần có sự
đóng góp thể chế.

Ai cũng tìm đến thị trường để trao đối vì tư lợi, đó
là điều hiển nhiên. Nhưng hành động vì tư lợi mà không bị
một kềm chế đạo đức nào thì có đem đến phúc lợi chung
và bình an cho xã hội không, đó là vấn đề được đặt ra
từ đầu thế kỷ XVIII. Có hai ý kiến trái ngược nhau. Ý
kiến thứ nhất của công luận cho là hành động vì tư lợi
chỉ gây bất ổn cho sinh hoạt xã hội, nên kiểm soát thị
trường là vấn đề đạo đức phải được đặt ra.

Quan điểm thứ hai ngược lại mà Bernard Mandeville và Adam Smith
là tiêu biểu. Cả hai cho là có mối quan hệ giưả quyền lợi
cá nhân và lợi ích công cộng. Cá nhân theo đuổi tư lợi khi
tham gia vào sinh hoạt thị trường nên họ sẽ sử dụng phương
tiện eo hẹp của mình một cách tối ưu. Dù họ không hề có
gì để ràng buộc nhau và chỉ theo đuổi tư lợi trong quan hệ
trao đổi, nhưng cuối cùng đất nước cũng đạt được phúc
lợi kinh tế và bình ổn xã hội. Các tác hại trên bình diện
cá nhân, nếu có khi trao đổi, cũng là không đáng kể khi so
với mối lợi chung cho toàn xã hội. Nhìn về tổng thể, theo
đuổi tư lợi là sẽ tạo phúc lợi và an lạc xã hội về lâu
dài. Đáng ngạc nhiên nhất khi lý giải về cơ chế thị
trường khách quan Adam Smith cho là chính cảm xúc chủ quan về
đạo đức của doanh nhân quan trọng trong các quyết định trao
đổi. Khiá cạnh đạo đức kinh tế cũng là một đề tài
chính trong tác phẩm Theory of Moral Sentiments của ông.

Karl Marx nhìn vấn đề phát triển thị trường dưới một khiá
cạnh khác hơn. Ông chỉ quan tâm đến phương thức sản xuất
nhiều hơn là giải thích những đặc điểm chung của hoạt
động thị trường và xác quyết là kinh tế mới quyết định
cho tất cả mọi sinh hoạt xã hội. Vì hàng hoá không thể tự
động đến được thị trường và có khả năng tự trao đổi
với nhau, mà thông qua mối quan hệ của con người trong xã
hội. Từ đó mà thị trường thành hình.

Ông không đi sâu vào việc phân loại thị trường mà cho rằng
tất cả mọi loại thị trường đều có lịch sử riêng của
nó, nhưng thị trường lao động là quan trọng nhất vì thể
hiện rỏ mối quan hệ bóc lột giữa chủ và thợ trong quá
trình sản xuất. Chịu đựng bất công và vong thân trong xã
hội công nghiệp hoá chính là vấn đề của công nhân, vì giai
cấp chủ đã có ưu thế khi nắm tư liệu sản xuất trên thị
trường theo phuơng thức sản xuất tư bản. Ông chủ trương là
đấu tranh giai cấp là phương tiện để giải phóng bất công
này. Hai khiá cạnh văn hoá và luật pháp tác động đến sự
phát triển thị trường và đời sống công nhân là vấn đề
mà Karl Marx không quan tâm. Về sau Georg Lukas, Hochheimer và Adormo
đã xét lại nghiêm túc hơn khái niệm vong thân của Marx qua
lăng kính văn hoá và luật pháp. Văn hoá đã đóng góp thật đa
đạng cho sự phát triển nền kinh tế thị trường tự do mà
Max Weber và Georg Simmel đã đào sâu, nhất là hai khiá cạnh tôn
giáo và tiền tệ.

Thực ra cơ chế thị trường phát sinh những hậu quả vừa
tích cực lẩn tiêu cực vì tùy theo điều kiện thực tế của
từng loại thị trường riêng biệt. Do đó sự phận loại thị
trường là quan tâm hàng đầu của nhà kinh tế. Kinh tế học
đã phân chia hai loại thị trường chính là trao đổi các yếu
tố sản xuất và hàng hoá. Thị trường yếu tố gồm có lao
động, điạ ốc và tư bản tài chánh. Thị trường hàng hoá
gồm có hai loại là sản xuất hàng tiêu thụ và đầu tư.
Ngược lại, khoa học quản lý doanh nghiệp phân chia hai loại
thị trường chủ yếu cho doanh nghiệp hoạt đông là cung ứng
sản phẩm và mua nguyên vật liệu. Chức năng chủ yếu của
thị trường khác với khái niệm về marketing, một phương
thức tiếp thị, chỉ chú ý đến một loại nhóm sản phẩm
riêng biệt cho một số nhu cầu đặc biệt của một nhóm
người tiêu thụ.

Ngoài phân loại thị trường ra thì còn có nhiều yếu tố khác
cũng ảnh hưởng đến phát triển thị trường. Đó là luật
lệ, phương cách sử dụng tài nguyên và kiến thức áp dụng
tác động. Quan trọng nhất trong việc phát triển thị trường
là niềm hy vọng là thị trường sẽ giúp giải quyết các vấn
đề xã hội như thất nghiệp, bảo hiểm, hưu bổng và bất
quân bình về lợi tức. Qua lý thuyết, bàn tay vô hình của
thị trường là một cơ chế tự điều tiết, nhưng trong thực
tế càng ngày người ta tin rằng các biện pháp can thiệp của
chính quyền sẽ tác động đến công bình xã hội và phúc lợi
nhiều hơn. Một chính sách khôn ngoan và đúng lúc của chính
quyền sẽ là phương thức tối cần thiết để thay đổi đời
sống người dân. Dĩ nhiên, điều này chỉ đạt đưọc trong
một môi trường chính trị dân chủ và thị trường năng
động có cạnh tranh ráo riết, vì đấu tranh trên thương
trường là nguyên tắc chọn lọc và sẽ đem lại một cấu
trúc mới phù hợp và năng động hơn cho các tác nhân còn có
khả năng tham dự, cuối cùng người tiêu thụ sẽ được
hưởng lợi tối đa.

Nhưng ai sẽ quyết định sự đãi lọc này và ai sẽ thắng khi
đấu tranh trên thương trường? Lý thuyết tân cổ điển cho là
quyền lực xã hội của doanh nghiệp không quan trọng, mà khả
năng cạnh tranh độc quyền sẽ quyết định quyền lực trên
thương trường. Độc quyền trong kỷ thuật sản xuất, mua và
bán sẽ quyết định tương lai doanh nghiệp. Chiến lược áp
đặt của doanh nghiệp độc quyền sẽ quyết định tương lai
thị trường và ảnh hưởng đến người tiêu thụ. Khi hệ
thống giá hàng hoá không còn cạnh tranh nhau mà chỉ là những
thoả hiệp ngầm nhằm phân chia thị trường của doanh nghiệp
độc quyền, thì sẽ gây bất lợi cho người tiêu thụ. Chính
quyền phải có các biện pháp theo dỏi, phát hiện và đối
phó, đặc biệt nhất là đem lại sự bình giá trên thị
trường, đem cung cầu trở lại một trạng thái quân bình, vì
đó là mối quan tâm chính của người tiêu thụ. Cổ vũ cho lý
thuyết này là Leon Walras. Ông cho rằng biện pháp bình giá này
chỉ thực hiện được trong điều kiện là cơ chế thị
trường phải uyển chuyển, số lượng cung và cầu có thể
được thay đổi nhằm thoả mản trong một điều kiện thích
ứng dù có biến động giá cả.

Lý thuyết quân bình giá cả tổng quát trên thị trường là
đề tài chính cho khoa kinh tế học mãi đến hậu bán thế kỷ
XX mà Kenneth Arrow đã tìm nhiều luận chứng mới cho lý thuyết
này. Ông giải thích là thị trường là nơi trao đổi không
liên hệ đến tương quan cá nhân. Trước một chế độ giá
định sẳn, có khả năng cung ứng hay tiêu thụ hay không và
nếu có thì trong một khối lượng hay không gian và thời gian
nào, đó là vấn đề. Mối quan hệ giửa nhà cung ứng và tiêu
thụ không quan trọng.

Quan điểm này hoàn toàn ngược lại với lập luận của các
nhà kinh tế học của trường phái nước Áo, mà điển hình
nhất là von Mises và von Hayek. Cả hai đề cao vai trò quan hệ
của các chủ thể kinh tế và bối cảnh xã hội trong việc
phát triển thị trường và kết luận là thị trường là một
diễn trình phát triển không thể lường trước. Thị trường
không phải là một điạ điểm, một tình huống hay một thực
thể tổng hợp mà chính là do tác động của nhiều chủ thể
kinh tế trong sự phân công lao động. Sự thành hình của thị
trường là kết quả tình cờ của những diển biến, một
tổng hợp những thành quả có nhiều yếu tố không lường
trước, nhưng luôn bị phân tán và dựa vào những kiến thức
trong phạm vi nhỏ hẹp địa phương. Thị trường chỉ có hai
yếu tố là giá cả là bao nhiêu và khi nào thì có thể trao
đổi được. Do đó, thông tin thị trường vô cùng quan trọng
và giá cả chỉ là những tín hiệu khởi đầu. Thị trường
luôn thay đổi và cục bộ nên không thể nào là một trung tâm
cho mọi sinh hoạt kinh tế.

Thực ra, đây là một trong nhiều tiền đề để đánh giá tầm
mức quan trọng của thị trường. Về cơ bản, lý thuyết về
quân bình giá cả của trường phái tân cổ điển chiếm ưu
thế trong một quá trình dài. Nhưng lý thuyết này chấp nhận
những tiền đề chung là thị trường có đặc điểm là luôn
hoàn hảo, tin tức luôn chính xác, hàng hoá đề ra đồng chuẩn
mực, trong khi đó thì thực tế cho thấy thị trường là luôn
giao động và không hoàn hào vì có cạnh tranh liên tục và tin
tức luôn sai lệch.

Keynes phê bình là lý thuyết quân bình giá cả không thể
thuyết phục. Ông cho rằng cung không bao giờ tự động tạo
nên cầu, đặc biệt nhất là tại thị trường lao động, nơi
mà tiền lương không uyển chuyển đủ để làm thay đổi tình
hình. Trong thị trường đầu tư thì biện pháp thúc đẩy đầu
tư quy mô trong thời kỳ suy trầm là vai trò của nhà nước.
Adam Smith thỉ cho là tinh thần tự nguyện tham gia thị trường
của doanh nhân là chủ yế và tôn trọng quyền tư hửu làm cho
thị trường ổn cố hơn.

Tóm lại, thị trường không phải chỉ do giá cả tạo nên,
chính cấu trúc xã hội và mối quan hệ của các chủ thể kinh
tế bị ràng buộc nhau qua luật pháp và phong tục tâp quán mới
đem lại bảo đảm cho sự vận hành thị trường. Đó là lập
luận bổ túc mà các nhà khoa học xã hội đề ra.

<h2>Lý thuyết xã hội về thị trường</h2>

Từ đầu thế kỷ XIX các lý thuyết kinh tế về thị trường
đã được các nhà khoa học xã hội bàn cải nhiều, nổi bật
nhất là Durkheim và Weber, khi hai ông đem các luận điểm của
Karl Marx ra phê phán.

Marx mô tả là tiền lương công nhân không tương xứng với giá
trị lao động bỏ ra mà thặng dư giá trị chỉ đem lại lợi
nhuận cho nhả sản xuất. Tự do và bình đẳng trong mối trao
đổi trên thị trường lao động không có mà chỉ là hiện
tượng bóc lột. Nhưng Durkheim đi xa hơn khi giải thích về
những điều kiện đem lại sự bình ổn trên thị trường qua
giá trị của hợp đồng lao động. Một lập luận trứ danh
của ông là không phải cái gì đồng thuận cũng đều được
ghi trong hợp đồng. Ý ông muốn nói điều kiện xã hội khác
như phong tục tập quán và tinh thần kết ước như niềm tin cá
nhân và xã hội quan trọng cũng như văn bản hợp đồng, dù
không minh thị quy định, nhưng nó cũng gây ràng buộc và có
giá trị như hợp đồng.

Đó cũng là ý tưởng mà Weber lập luận khi đề cao vai trò
chính trị và xã hội trong mối quan hệ trên thị trường. Theo
Weber thì cơ chế thị trường phức tạp hơn những gì Marx mô
tả qua hiện tượng bóc lột. Weber phân tích sâu xa hơn về các
yếu tố quyền lực, xung đột và các quyền lợi dị biệt mà
trao đổi và cạnh tranh nhau là chủ đề chính. Mối quan hệ
này đã đóng góp vào sự hình thành của chủ nghiã tư bản.
Ông còn phân tích vai trò Tin lành trong sự phát triển này. Georg
Simmel thì lại đào sâu giá trị của tiền tệ khi nó tác
động đến cơ chế cạnh tranh và gây hậu quả trong trao đổi
của thị trường.

Giửa thập niên 40 thế kỷ XX lý thuyết về thị trường
được Polanyi hoàn chỉnh qua tác phẩm The Great Transformation. Ông
phê bình là phố quát hoá những đặc điểm của thị trường
là một sai lầm. Thị trường không là một cơ chế thuần túy
nhằm điều tiết tất cả các hoạt động vì thị trường
không thể là một hệ thống vô giới hạn và định đoạt số
phận cho toàn bộ nền kinh tế, một loại trật tự mà việc
sản xuất, phân phối và tiêu thụ trong một cơ chế tự điều
tiết sẽ không quyết định tất cả. Ông chứng minh là trong
suốt tiền bán thế kỷ XX không có một xã hội nào đạt
được kết quả này. Lao động, tiền tệ và đất đai không
thể là một loại thị trường chỉ thuần tuý là yếu tố về
sản xuất, mà hoàn toàn lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Lao
động liên hệ đến yếu tố con người, nên thị trường lao
động không thể là một mặt hàng trao đổi đúng nghiả mà
được định đoạt theo cơ chế. Sự can thiệp chính quyền sẽ
đem lại việc quân bình trên thị trường lao động.

Đến cuối thế kỷ XX thì các lý thuyết về thị trường theo
quan điểm về xã hội học đã phát triển và có nhiều cách
lý giải khác nhau ra đời. Dù theo các phương cách tiếp cận
và các chủ điểm khác nhau để khảo sát, các nhà lý thuyết
đi đến những kết luận chung là thị trường là một mạng
lưới, một cơ chế và một loại mô hình dựa trên kiến thức
mới.

<h3>Thị trường là mạng lưới</h3>

Luận thuyết này cho là thị trường là một cấu trúc trong
mối quan hệ xã hội mà các thành viên trên thị trường này
tác động vào nhau tùy theo chức năng của mình. Thị trường
là một mạng lưới xã hội, do đó cần phân biệt là ai tham
dự và đóng vai trò gì. Khi khảo sát về vai trò của các tác
nhân, Harrison White cho là có hai loại thị trường chủ yếu.
Loại thứ nhất là thị trường sản phẩm công nghiệp, nơi mà
người mua là người tiêu thụ và người bán là doanh nghiệp,
họ đóng một vai trò cố định. Ngược lại, tại thị
trường cổ phiếu vai trò này biến đối hàng ngày khi người
mua cổ phiếu hôm nay nhưng ngày mai lại là người bán do sự
diển biến của thị trường và động lực cá nhân. Do đó,
nên đặc điểm của thị trường cũng phải biến đối theo,
đó là ý kiến của Cliffort Geertz. White giả thuyết rằng thị
trường công nghiệp là nơi các nhà sản xuất cạnh tranh nhau,
mà giá cả là tín hiệu cần theo dõi. Thị trường sẽ ổn
định rất lý tưởng khi có 10 dến 15 doanh nghiệp hoạt động.
Không phải cơ chế giá cả quyết định cho thị trường và
cũng không phải người tiêu thụ quyết định vận mệnh doanh
nghiệp mà chính sự cạnh tranh của các doanh nghiệp tạo nên
biến đổi trên thị trường. Với ý chí sáng tạo, doanh
nghiệp tạo sản phẩm mới và tìm ra những khe hở trong mạng
luới của thị trường để thâm nhập mà các doanh nghiệp khác
không nhận ra. Thị trường là một hệ thống mạng lưới
được hình thành theo ý nghiả này.

Vì trong cùng một mạng lưới nên hầu như các doanh nghiệp
nhận được các tin tức giống nhau, thí dụ như về tình hình
kinh tế chung, phương thức sản xuất trong ngành chuyên môn,
khuynh hướng của người tiêu thụ, cơ chế giá cả và mức
độ lạm phát. Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng phản
ứng giống nhau trong cùng một tình huống và đánh giá đúng
về triển vọng thị trường. Những bí mật doanh nghiệp lại
là những yếu tố quyết định then chốt trong chiến lược
cạnh tranh mà phát hiện nội gián trở thành vấn đề sinh tử.
Doanh nghiệp xác định vị thế mình trên mạng lưới thị
trường từ sự khảo sát chiến lược đối thủ và cơ chế
giá cả. White chứng minh là cạnh tranh ráo riết của các doanh
nghiêp trong hệ thống mạng lưới là thách thức và chỉ có
những doanh nghiệp kinh nghiệm mới có những ứng xử thành
công. Dù là người thụ hưởng nhiều nhất nhưng áp lực của
người tiêu thụ kém quan trọng hơn.

Khác với White khi đề cao cạnh tranh thì Mark Granovetter cho là
sự hợp tác nhau trong khai thác các tin tức là quan trọng hơn.
Mối quan hệ trong mạng lưới không làm ai ràng buộc ai, hay theo
một tôn ti trật tự hay một quy luật nào cố định, nên các
doanh nghiệp cần liên kết nhau qua để phát huy chiến lược
của mình. Thành công của doanh nghiệp có quá nhiều yếu tố,
từ cá nhân, tổ chức, lãnh đạo, điạ phương, sản phẩm,
cấu trúc và tín nhiệm trong quan hệ hợp tác. Khai thác ưu thế
doanh nghiệp để cạnh tranh chỉ còn là là vấn đề khai thác
thông tin. Thông tin này chỉ có đưọc khi doanh nghiệp biết tìm
cách hợp tác.

<h3>Thị trường là một thể chế</h3>

Luận điểm này cho là những quy luật của thị trường sẽ
quyết định cho sự vận hành thị trường. Sự cảm nhận giá
trị, hiểu biết ý nghiả và tuân thủ những quy luật mà các
chủ thể kinh tế hành động, từ đó làm phát sinh những
chuyển biến trên thị trường. Theo đuổi những giá trị kinh
doanh, ý chí cạnh tranh hay hợp tác đều tùy thuộc vào những
hiểu biết nội dung về quy luật của thể chế này. Sự thành
hình và phát triển thị trường đã thay đổi triệt để qua
thời kỳ toàn cầu hoá. Đây là một bằng chứng cho thấy vai
trò của thể chế ảnh hưởng đến sinh hoạt thị trường.
Doanh nghiệp chỉ tồn tại khi biết thích nghi những quy luật
của trào lưu.

Có nhiều loại luật lệ quy định những ràng buộc trên thị
trường, đề ra những khuôn mẩu hoạt động hợp pháp, thí
dụ như quyền tư hữu được xác định qua luật hiến pháp,
luật cạnh tranh để theo dõi và phát hiện tránh cảnh độc
quyền doanh nghiệp, luật doanh nghiệp và luật lao động vv….

Ngoài ra còn những quy ước, tuy bất thành văn, nhưng cũng đem
lại những ràng buộc cần thiết cho thị trường, thí dụ như
phong tục tập quán và niềm tin cá nhân trên các giá trị xã
hội. Hình thức và hoạt động của doanh nghiệp khi tham gia
thị trường hoàn toàn tuỳ thuộc vào các quy định về thể
chế.

Một khiá cạnh quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát
triển thị trường là văn hoá, môt lĩnh vực đa dạng vì liên
hệ đến lịch sử, nhân chủng, ngôn ngữ và tôn giáo. Các
công trình nghiên cứu của Bourdieu, Weber và các nhà xã hội
học khác đã chứng minh cho khía cạnh này. Từ giai đoạn
thương thuyết, kết ước và thi hành hợp đồng không thuần
là một vấn đề do luật pháp quy định. Đây là phạm trù văn
hoá mà chính các đặc điểm văn hoá địa phương mới có thể
giải thích được tại sao người ta thực hiện hay hủy bỏ
hợp đồng không dựa trên những ràng buộc về mặt luật
pháp.

Hiện nay, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu thụ
là một vấn đề cảm thông văn hoá mà còn là đồng thuận
về chuẩn mực đạo đức và cả vần đề bảo vệ môi sinh.
Một sản phẩm công nghiệp sẽ thu hút người tiêu thụ hơn khi
nhà sản xuất chứng minh được là có chương trình bảo vệ
môi sinh, tạo nhiều phúc lợi xã hội cho công nhân và không thu
dụng trẻ em tại các nước chậm tiến.

Vì phải tự đặt mình trong khuôn mẩu của thị trường như
là một loại thể chế nên các tất cả các chủ thể kinh tế
đều tuân theo và phản ứng theo một số thái độ nhất
định. Do đó, thể chế làm cho sinh hoạt thị trường có thể
tiên đoán được và tránh những chuyển biến về thái độ,
giá cả và sản phẩm. Thể chế, nếu hoạt động trong điều
kiện bình thường, sẽ đem lại bình ổn thị trường. Nhờ có
khả năng tiên đoán tiên đoán tương lai mà các tác nhân tự
tin hơn khi tham gia thị trường, một yếu tố chính làm cho thị
trường hoạt động. Nhưng đến cuối thế kỷ XX có nhiều
loại thị trường tương lai phát sinh do những kiến thức mới
của khoa học kinh tế đem lại. Đó là đặc điểm của thị
trường tư bản tài chính.

<h3>Thị trường do kiến thức mới về kinh tế</h3>

Thị trường đã dần dà biến dạng vì không hề dựa vào như
cầu trao đổi trong đời sống hàng ngày cũng không thông qua
trên mạng lưới hay tuân theo thể chế. Loại hình thị trường
mới này đã phát triển và được goị chung là social studies of
finance, mà khoa toán kinh tế, thống kê kinh tế, thăm dò dư
luận, tâm lý xã hội và computer là đóng góp chính. Chính
những hiểu biết mới về các lĩnh vực này tạo nên những mô
hình mới cho thị trường.

Thay đổi táo bạo nhất có lẽ là thị trường nông phẩm vì
không còn là nơi trao đổi trực tiếp giửa người mua và
người bán mà cơ chế trung gian và điện toán sẽ giải quyết
việc buôn bán. Thị trường dâu tây tại Loire nước Pháp đã
áp dụng loại mô hình này. Nông dân đưa dâu tây bán tới một
nhà bán đấu giá trung gian. Người trung gian nhận hàng, tìm ra
một loại giá bán thích hợp cho người mua qua hệ thống điện
toán và cung ứng cho nguời mua. Bảng giá trong nhà bán đấu giá
sẽ quyết định cho sự trao đối mà mọi thương lượng đều
trở nên không cần thiết. Hình thức này làm cho thị trường
nông phẩm hoạt động vô hình hơn.

Thí dụ được nói tới nhiều nhất là các sản phẩm Swap,
Derivate và Option vào cuối thập niên 70 tại thị trường tư
bản tài chính Chicago. Những phương cách tính toán giá trị
đều theo những mô hình toán học và thống kê. Các chuyên gia
đã cải biến thành những loại sản phẩm để đưa vào thị
trường cổ phiếu cho tương lai. Mọi suy đoán về triển vọng
sinh lợi trong tương lai vượt qua hiểu biết hay suy luận thông
thường hay một trò chơi may rủi. Nhiều phối hợp phức tạp
làm biến dạng các mô hình sản phẩm tài chính này mà chính
chuyên gia cũng không theo kịp trào lưu. Do đó việc mua bàn cổ
phiếu tương lai là một chuyện phiêu lưu hoang tưởng hơn là
một quyết định thuần lý.

Cũng tương tự là thị trường bảo hiểm nhân thọ. Với các
phương thức toán học, các chuyên gia tìm ra những phương cách
tinh toán mới về tuổi thọ dự liệu và các rủi ro bệnh tật
có thể xảy ra. Họ kết hợp thành những mô hình bảo hiểm
sức khoẻ để đưa vào thị trường bảo hiểm nhân thọ và
biến thành cổ phiếu cho tuơng lai để mua bán. Loại thị
trường này một trò chơi cờ bạc hoang tưởng vượt qua mọi
hiểu biết thông thưòng mà luật thị trường tài chính cho
phép mà chính quyền còn khuyến khích.

Tóm lại, các nhà khoa học xã hội về lý thuyết thị trường
cho rằng cần tìm hiểu sinh hoạt của thị trường một cách
toàn diện mà cơ chế giá cả chỉ là một phản ành chủ yếu.
Niềm tin vào cơ chế vận hành và mối quan hệ giưả doanh
nghiệp, công nhân và người tiêu thụ tạo nên cấu trúc xã
hội là đề tài. Mối quan hệ này chỉ được cảm nhận chung
trong một bối cảnh của thể chế và văn hoá xã hội. Từ
niềm tin của các tác nhân mà các sinh hoạt thị trường sẽ
hình thành. Dĩ nhiên đây là một phương cách tiếp cận vấn
đề có quy mô lớn vượt qua khả năng và phương tiện nghiên
cứu chuyên môn hoá của một chuyên gia hay một lĩnh vực.

<h2>Thực tế về thị trường châu Âu </h2>

Trước đây, trong trào lưu toàn cầu hoá thì luận thuyết của
Neoliberalism cho là chính quyền phải ít can thiệp nhất và nên
để thị trường tự do tuyệt đối để tự giải quyết. Thị
trường tư bản tài chính theo quan điểm này trở nên một thị
trường độc lập với thị trường hàng hoá. Tự do giao lưu
tư bản tài chính toàn cầu sẽ giúp cho thị trường phát
triển. Đây là một phương sách tốt nhất.

Thời khủng hoảng đem lại nhiều lập luận đối nghịch vì
thị trường châu Âu hoạt động trong những tình huống nghịch
lý. Cạnh tranh trên thị trường tư bản tài chính trở nên
giới hạn, trong khi cạnh tranh trên thị trường hàng hoá ráo
riết hơn và các biện pháp bảo hộ mậu dịch nhiều hơn. Khi
chính quyền dồn mọi tài trợ cho hệ thống ngân hàng tiếp
tục sống, nhưng lại không có một hệ thống kiểm soát hữu
hiệu. Nổ lực này lại không nhằm tạo ra một bối cảnh thu
hút tạo ra đầu tư mới cho doanh nghiệp mà làm giảm đi mọi
công chi về phúc lợi xã hội và hậu quả là bất công lan
rộng, cách biệt lợi tức làm người nghèo trở thành đa số
trong xã hội. Họ chịu thua thiệt nhiều nhất nên bị các phong
trào bài ngoại và cực đoan gây ảnh hưởng. Tinh thần trục
lợi vô đạo đức của giới tư bản tài chính ngay trong thời
suy trầm tạo ra công phẩn trong công luận mà các cuộc biểu
tình liên tục tại châu Âu là thí dụ. Giới trung lưu, một
tầng lớp chủ yếu tạo sự ổn định xã hội, cũng chịu
ảnh hưởng và làm đảo lộn các kết quả bầu cử. Khi đồng
Euro khó có thể duy trì tại một số nước thì nguy cơ sụp
đổ cơ chế Liên Âu có thể xãy ra. Tương lai bất trắc làm
bất ổn xã hội ngày càng tăng và phản ứng chung của công
luận là mất tin tưởng về cơ chế tự vận hành của thị
trường, khả năng của học giới trong vai trò cảnh báo và
khả năng của chính quyền trong vai trò kiểm soát.
Nhưng tại sao công luận không tin chính quyền? Câu hỏi này có
nhiều lý giải mà tựu chung là thị trường không phải kinh
tế mà là chính trị và xã hội với các điểm chính như sau.

Thứ nhất, nguyên nhân sâu xa có từ khi bức tường Bá linh
sụp đổ. Trước đó, chính quyền không nhận ra những gì sẽ
chuyển biến nên còn tiếp tục viện trợ cho các nước Đông
Âu để duy trì chế độ. Sự cáo chung bất ngờ của hệ
thống chuyên chính vô sản làm chính quyền cảm nhận sai lầm
về một chiến thắng huy hoàng của nền dân chủ phương Tây,
một lối lập luận bất chiến tự nhiên thành vì đánh giá
không đúng mức về nổ lực đấu tranh của người dân đã can
đảm vùng lên để xoá tan chế độ. Phương Tây lại sai lầm
hơn khi say men chiến thắng về một thành tích mà mình không
tạo ra rồi tiên đoán là lịch sử sẽ cáo chung, chính trị
sẽ quy về một mô hình nền kinh tế thị trường, chỉ còn
các vấn đề phát triển xã hội là quan tâm chung.

Thứ hai, những trào lưu tự do giao lưu tư bản trên thị
trường tài chính toàn cầu cùng với đầu tư tư nhân tại
ngoại quốc vào thập niên 1980 và những canh tân kỷ thuật qua
cách mạng thông tin trong thập niên 1990 là những thách thức
nghiêm trọng. Châu Âu đã không tiếp tục hoàn thiện cơ chế
cho phù hợp với trào lưu toàn cầu hoá và không gia tăng kiểm
soát ngân sách trong tiến trình thống nhất tiền tệ vào năm
1999, nên tình trạng vỡ nợ Hy lạp và Tây ban nha mới xãy ra.

Thứ ba, sự thành công của Liên Âu là nguyên nhân của vấn
đề. Thay đổi quyền lực về kinh tế và chính trị qua tiến
trình hợp nhất châu Âu gây hậu quả làm cho tinh hình suy thoái
trầm trọng hơn. Trước đây, dân chúng tin tưởng vào nguyên
tắc tam quyền phân lập và vai trò can thiệp của chính quyền
vào lĩnh vực kinh tế. Ngày nay, chính quyền không thể trực
tiếp giải quyết vấn đề khi cơ chế quyết định lại giao
cho cơ quan Liên Âu, một cơ chế phức tạp, tốn kém, thiếu
dân chủ và không thể kiểm soát đưọc. Chính quyền cũng
không thể giải quyết những vấn đề về kinh tế trong nước
vì các công ty đa quốc một phần đã áp lực mạnh hơn lên
chính quyền, một phần khác họ đã từ lâu tìm cách thoát
khỏi vòng ảnh hưởng của chính quyền khi đầu tư nhiều hơn
vào các nước chậm tiến và trốn thuế qua các hệ thống tinh
vi. Vì dân chủ thiếu cơ sở địa phương nên mối liên hệ
giửa người dân và chính quyền không còn. Những tư tưởng
đối lập với chính quyền trở thành một mạng lưới xã hội
mà phương tiện truyền thông hiện đại góp phần chuyển hoá
rộng khắp mạnh và nhanh hơn. Mất niềm tin về sự vận hành
của nền kinh tế thị trường là hậu quả đương nhiên.

Trước bối cảnh này thì cơ quan Liên Âu đã có nhiều phản
biện khác nhằm thuyết phục công luận về chính sách của
mình.
Thứ nhất, Liên Âu lập luận rất thực tế: tình hình chuyển
biến quá nhanh, nhưng thể chế dân chủ tự do đang thắng thế,
nên không có lý do dùng những biện pháp táo bạo như các
nước toàn trị, vỉ sẽ đi ngược với trào lưu. Dân chủ,
nhân quyền và tinh thần thượng tôn pháp luật có giá trị
phổ quát, nên châu Âu phải tuân thủ. Các biện pháp viện
trợ phát triển của Liên Âu sẽ đem lại những cơ hội thăng
tiến cho người dân các nước nghèo và Liên Âu.

Thứ hai là ý chí chính trị chung. Cùng theo đuổi mục tiêu
thống nhất Liên Âu nên với thời gian và thử nghiệm cơ chế
sẽ hữu hiệu hơn. Những tác hại về kinh tế và xã hội sẽ
tự điều chỉnh theo phương thức chọn lọc tối ưu và sẽ
được dần dần khắc phục trên toàn Liên Âu, mà ý thức văn
hoá chung là một khời điểm thuận lợi.

Thứ ba là vấn đề giá trị lý thuyết. Chủ nghĩa tư bản sẽ
không sụp đổ toàn diện mà chỉ suy thoái trong từng thời kỳ
do thiếu kiểm soát. Nguy cơ khủng hoảng đe doạ thường trực
làm cho cơ chế cần phải năng động hơn để sinh tồn. Kinh
tế thị trường không hoàn toàn là một giải pháp lý tưởng,
nhưng là một lối thoát duy nhất, vì thế giới sẽ không có
những chọn lưạ nào khác tốt đẹp hơn. Lập luận như Winston
Churchill, nếu mô hình dân chủ, dù không hoàn chỉnh, nhưng lại
ít tác hại hơn chế độ độc tài, thì mô hình kinh tế thị
trường cũng thuận lợi hơn nền kinh tế kế hoạch. Luận
điểm này sẽ là khởi điểm cho những nổ lực cải cách
chung.

Nhưng làm sao đem những phản biện này tạo thành một niềm tin
chung làm đoàn kết tất cả mọi người, mọi giới và mọi
quốc gia trong Liên Âu? Tinh thần đoàn kết để xây dựng không
thể đạt được vì lẻ cơ chế Liên Âu là đa văn hoá, đa
ngôn ngử và quá rộng lớn. Châu Âu đã và sẽ không có một
công luận đồng thuận cho bất cứ vấn đề gì, cho dù tư
tưởng thiên về công bình xã hội chiếm ưu thế hơn tư bản.
Hiện nay, những người đóng thuế tại Đức, Pháp và Hoà Lan
là giới bị thiệt thòi nhất trong thời kỳ này, họ sẽ không
có tinh thần hy sinh để trả nợ cho người Hy Lạp, Tây Ban Nha
hay nuôi người già tại Ba lan, vì họ không tin là Hy lạp và
các nước tổn thương khác sẽ có khả năng hồi phục nhanh.
Đây chính là vấn đề mà châu Âu còn thảo luận để tìm ra
lối thoát.

<h2>Thực tế về thị trường Việt Nam</h2>

Việt Nam theo mô hình kinh tế thị trường với định hướng
xã hội chủ nghiã, một khái niệm không có trong khoa học kinh
tế hay xã hội học phương Tây. Do đó, những thảo luận lý
thuyết trong tiểu luận này không có cơ sở tương đồng để
so chiếu.

Sự hình thành và phát triển của thị trường Việt nam cũng
không có một bối cảnh như tại châu Âu. Việt Nam không có
thời kỳ khai sáng khởi đầu để thay đổi tư duy, phong trào
công nghiệp hoá để cất cánh thay cho thị trường nông
nghiệp, tiết kiệm quốc nội đủ mạnh để huy động làm
vốn cho đầu tư tư nhân, hệ thống doanh nghiệp tư nhân cạnh
tranh ráo riết, chấp nhận tự hủy để sáng tạo và tôn giáo
Tin Lành là điều kiện tinh thẩn để phát triển xã hội tư
bản. Nhưng Việt Nam đã có những điều kiện đặc thù và
thành tựu ban đầu.

Thị trường được hình thảnh là do một quyết định mở
cửa kinh tế và một chiến thuật ngắn
hạn để sống còn hơn là một chiến lược phát triển trong
trường kỳ. Không có tiết kiệm nhưng Việt Nam đã huy động
được tư bản khả dụng của các định chế quốc tế, các
nhà đầu tư ngoại quốc tư nhân và Việt kiều để đầu tư.
Không có những sản phẩm công nghiệp giá trị cao do những canh
tân kỷ thuật nhưng Việt Nam tạo ra được một thị trường
xuất khẩu với sản phẩm gia công và nông lâm và thuỷ hải
sản. Thâm nhâp thị trường phương Tây thành công vì Việt Nam
tạo ra điều kiện cạnh tranh thu hút.

Nhìn chung, với dân số là 85 triệu dân Việt Nam là một thị
trường có tiềm năng to lớn, khởi điểm cần thiết để xác
định phương hướng phát triển dài hạn. Những năng động
cải cách chỉ thành công trong ngắn hạn và không toàn diện
nên gây bất công xã hội và không đồng bộ trong tiến trình
phát triển điạ phương. Thực tế cho thấy khủng hoảng lý
thuyết (sẽ tiếp tục định hướng như thế nào và trong
chừng mực nào), khủng hoảng lảnh đạo (khả năng kiểm soát
và phòng chống tham nhũng) và khủng hoảng niềm tin xã hội
(luật pháp không hữu hiệu, giáo dục xuống cấp, đạo đức
suy đối và môi sinh cạn kiệt) cần được thảo luận nghiêm
chỉnh và dân chủ để khởi đầu cho một cuộc đổi mới
khác.

Nhìn riêng, thì từng loại thị trường đang có những vấn
đề khác nhau. Thị trường lao động có thuận lợi là nhân
công trẻ trung, nhưng không thể phát huy vì trình độ tay nghề
không thể nâng cao. Hệ thống giáo dục xuống cấp nên chỉ
cung ứng được lao động giản đơn cho sản phẩm gia công là
hậu quả tất yếu. Vài cá nhân xuất săc trong lĩnh vực toán
học hay vật lý không thể đem lại phép lạ vì thị trưởng
cần nhiều loại kỷ năng khác nhau của đa số. Thị trường
xuất khẩu khó khăn hơn vì một phần do tình hình thị trường
quốc tế mang lại, phần khác lại do phẩm chất kém nên không
thể cạnh tranh. Thị trường đầu tư tùy thuộc vào niềm tin
của nhà đầu tư, mà tinh thần thượng tôn pháp luật và đánh
giá đúng mức về tiềm năng phát triển thị trường nội
điạ là chủ yếu. Bỏ ngỏ thị trường nội địạ để cho
người lạ mặc tình thao túng là một sai lầm, trong khi khả
năng thâm nhập thị trường ngoại quốc lại càng ngày càng
bị hạn chế, nghịch lý này không thể duy trì. Thị trường
sản phẩm sẽ không khởi sắc khi luật cạnh tranh không được
triệt để áp dụng và vai trò và quyền lợi người tiêu thụ
không được tôn trọng.

Giống như châu Âu, niềm tin phát triển là một khởi đầu cho
mọi cải cách khác. Nhưng tin vào cái gì? Với một chiến
lược phát triển toàn diện và thuyết phục, sức mạnh dân
tộc và ý chí vượt thoát, người dân sẽ tin là tương lai
của đất nước là giàu mạnh, dân chủ, văn minh và công bình
xã hội. Để đạt mục tiêu này người dân còn cần tin vào
khả năng lãnh đạo của chính quyền, khả năng cảnh báo của
tầng lớp trí thức dấn thân và tin vào sự đóng góp chung
của mọi giới.

Khác với châu Âu, kêu gọi đoàn kết và hy sinh để xây dựng
Việt Nam dể kết hợp hơn, vì là nguyện vọng chung của mọi
tầng lớp cùng văn hoá và thuần chủng. Nhưng Việt Nam đang
cần có tinh thần đoàn kết hơn bao giờ hết để giải quyết
những vấn đề cấp bách khác, thí dụ như an ninh khu vực,
vẹn toàn lảnh thổ và xung đột nội bộ.

Tựu chung, thị trường Việt Nam có ba vấn đề nền tảng:
một là định hướng xã hội chủ nghĩa có còn là một lối
thoát duy nhất không, hai là chính quyền là vấn đề hay có
khả năng đem lại giải pháp và ba là đâu là sự đồng thuận
của toàn dân.

Không ai biết được nguyện vọng người dân đang nghĩ gì, vì
Việt Nam chưa có trưng cầu dân ý và cũng không hy vọng là sẽ
có các thăm dò dư luận về những vấn đề nhạy cảm này.
Dầu vậy, các sự kiện Năm Căn, Minh Phụng, P18 trong quá khứ
và Vina, Vinashin, Vinalines, Bầu Kiên, ACB và Quan Làm Báo trong
hiện tại là những chuyển biến quan trọng khởi đầu cho một
tưong lai bất ổn cần thảo luận nhưng lại vượt qua khuôn
khổ đóng góp của tiểu luận nhiều thiếu sót này.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/14136), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét