Ngô Vĩnh Long - Đàn áp để ổn định và phát triển: Mô hình Trung Quốc

<h2>1. Lời nói đầu</h2>

Bài "<a
href="http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai16/200916_THDung.htm">Ổn định
và phát triển: Trí thức Trung Quốc đang nghĩ gì?</a>" của
Trần Hữu Dũng (<i>Thời Đại Mới, </i>số này) rất hữu ích
vì không những nó cho biết trí thức Trung Quốc đang nghĩ gì
về ổn định và phát triển trên đất nước họ mà còn cho
thấy người trí thức nước nầy, tuy không giữ chức vị trong
chính quyền, vẫn có những cơ hội và vai trò nhất định để
đóng góp cho việc ổn định và phát triển của đất nước.

Thật ra, trong suốt lịch sử của Trung Quốc từ thời nhà Chu
(周) cho đến thời Mao Trạch Đông, giới trí thức (知識) mà
ngày xưa gọi là kẻ sĩ (士), thường được coi là quan trọng
hàng đầu (sau vua) trong việc trị quốc (<i>zhì guo</i> 治國)
và bình thiên hạ (<i>píng tian xìa</i> 平天下). [1] Trong thời
Xuân Thu Chiến Quốc (770-476) chế độ quân chủ (君主) phát
triển và ngày càng chuyên chế, gây nên mất ổn định triền
miên. Khổng Tử, một trong những nhà "hiền triết" trưởng
thành trong giai đoạn nầy, thấy không thể nào dẹp chế độ
quân chủ được. Nhưng ông nghĩ rằng nếu có một tầng lớp
sĩ phu được trau dồi với những giá trị đạo đức chung
(nhân 仁, trí 智, nghĩa 義, trung 忠, thứ 恕) để làm cố
vấn hay để phò các vị vua thì việc bạo chúa sử dụng bạo
lực để "cai trị" sẽ được giảm bớt. Khổng Tử gọi
những người có ngũ đức và có học nầy là quân tử"
(君子) và ông khuyên vua chúa nên sử dụng những người như
thế. Nếu không thì sẽ có "cách mạng." [2]

Cuộc cách mạng trong nửa đầu thế kỷ 20 phần lớn do trí
thức lãnh đạo, tuy thành phần nông dân là tuyệt đại đa
số. Sau khi cách mạng thành công và đảng Cộng Sản Trung
Quốc, do Mao Trạch Đông lãnh đạo, lên nắm chính quyền cuối
năm 1949, các thành phần trí thức (kể cả những người theo
Quốc Dân Đảng và Tưởng Giới Thạch không bỏ nước ra đi)
vẫn còn được trọng dụng. Do đó, tuy có khác nhau về quan
điểm, sự đóng góp của các tầng lớp trí thức đã giúp
kinh tế và xã hội phục hồi và phát triển rất nhanh chóng
trong 7 năm đầu.

Để vận động các tầng lớp trí thức thi đua tích cực và
thẳng thắn phát biểu những ý kiến của mình đối với các
chính sách của nhà nước hòng thu được nhiều kết quả tốt
đẹp hơn, đến cuối năm 1956 và đầu năm 1957 Mao đồng ý
phát động phong trào "trăm hoa đua nở" (tiếng Trung Quốc
gọi là "trăm hoa vận động" 百花運動). Tên của phong
trào nầy được đặt ra từ một câu thơ của Mao mà tiếng
Việt dịch ra là: "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng"
(Tiếng Trung Quốc là: 百花齊放,百家爭鳴 <i>bǎi huā qífàng,
bǎi jiā zhēngmíng</i>). Trong câu nầy Mao muốn ám chỉ việc
"hàng trăm" (tức là nhiều) nhà hiền triết thời Chiến
Quốc đã thi đua trên bình diện ý thức hệ, chứ không phải
trên bình diện bạo lực, để tìm ra những tiêu chuẩn tốt
cho việc ổn định và phát triển. Mao nghĩ rằng vì các cuộc
tranh luận thời Chiến Quốc đã phát sinh ra triết lý Khổng
Tử và Lão Tử và bổ sung cho nhau như âm dương cuồn cuộn,
thì phong trào "trăm hoa đua nở" cũng sẽ giúp chứng minh
tính "hơn hẳn" của chủ nghĩa xã hội và tư tưởng của
Mao (được trình bày trong "Mâu thuẩn Luận" và "Thực
tiễn Luận" là hai trước tác kinh điển của Mao Trạch
Đông.)

Hàng triệu trí thức và sinh viên (cùng với nhiều phần tử
xã hội khác) hưởng ứng nhiệt liệt. Chỉ từ đầu tháng 6
đến giữa tháng 7 năm 1957 họ đã gởi cho văn phòng thủ
tướng Chu Ân-Lai và các cơ quan chính quyền các cấp mấy
triệu bức thư. Nhiều bức thư này chỉ trích các chính sách
của chính phủ cũng như sự tham nhũng của cán bộ đảng và
quan chức nhà nước khá nặng nề. Thậm chí còn đòi đảng
Cộng Sản phải tự giải tán vì nếu đảng nầy còn nắm
quyền thì sẽ còn mất tự do dân chủ và trí thức sẽ còn
tiếp tục bị ngược đãi. Mao thấy sẽ có nguy cơ cho chế
độ nếu cái đà này tiếp tục nên ra lệnh cho dẹp phong
trào, nói rằng (dịch nôm na ra tiếng Việt) "trí thức không
bằng cục phân." Đã có nhiều phân tích cho biết tại sao họ
Mao nghĩ như thế, tại sao ông ta mở các chiến dịch đàn áp
trí thức sau đó, và tại sao việc nầy dẫn đến hậu quả
xã hội mất ổn định và kinh tế suy thoái trầm trọng trong
gần hai thập kỷ.

Việc tôi muốn đề cập đến ở đây là theo nghiên cứu và
phân tích của Uông Huy (Wang Hui), cùng với nhiều nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước khác, bắt đầu từ năm 1976 Đặng
Tiểu Bình đã cố tình tạo cơ sở cho việc hoàn toàn phủ
định những thành quả trong thời kỳ Mao làm tiền đề cho
việc ổn định và phát triển trong thời kỳ mới. Để thiết
lập một trật tự mới, Đặng Tiểu Bình không những đã
triệt tiêu các hình thức trại lính và "nhân dân công xã"
mà còn (oái ăm thay!) đưa ra những chính sách đàn áp mới mà
cuối cùng đã dẫn đến sự kiện đẫm máu Thiên An Môn năm
1989.

Trong bài tham luận tại hội thảo "Trách nhiệm xã hội, ổn
định và phát triển" tại Nha Trang tháng 7 năm 2008 tôi đã
trích Uông Huy khá nhiều trong phần nói về Trung Quốc. [3] Theo
trình bày của Trần Hữu Dũng tại hội thảo Nha Trang (cũng như
đọc bài đã hoàn chỉnh trong số <i>Thời Đại Mới </i>nầy)
về ba trường phái trí thức Trung Quốc hiện nay thì không
"ba phải" đi nữa cũng phải công nhận là mỗi trường phái
có những quan điểm đúng và sai - có những quan niệm xây
dựng và bổ ích, nhưng cũng có những nhận xét rất nguy hiểm
không những cho nhân dân Trung Quốc mà còn cho các dân tộc
khác nữa. Vì thế, nhân bài Trần Hữu Dũng đã hoàn chỉnh
và đăng trong số Thời Đại Mới nầy tôi cũng xin trích phần
tham luận của tôi về Trung Quốc (bắt đầu từ lúc tôi đề
cập đến Uông Huy cho đến cuối bài) tại Nha Trang dưới đây
- một là, để nối kết với bài của Trần Hữu Dũng; và hai
là, để độc giả xem cục diện đã có gì thay đổi sau một
năm không. Trong "phần viết thêm" (postscript) tôi sẽ đề
cập đến một vài số diễn biến và kèm theo những nhận
định và phân tích trong năm qua của vài nhà nghiên cứu.

Tại Nha Trang tôi đã mở đầu phần phát biểu của mình qua
cách đặt vấn đề như sau:

Có quan hệ gì giữa trách nhiệm xã hội, ổn định và phát
triển không? Nếu có, thì ai có trách nhiệm chủ yếu? Ổn
định như thế nào và với phương thức gì? Và phát triển
những gì, cho ai và vì ai?

Để có thể một phần nào giúp trả lời những câu hỏi
trên, trong bài nầy tôi trình bày một số kinh nghiệm của
một số nước Á Châu, đặc biệt là trong bối cảnh chiến
tranh lạnh và toàn cầu hóa. Chúng ta hãy bắt đầu với Trung
Quốc ̶ một là vì Trung Quốc lớn nhất ở Á Châu và có
kinh nghiệm "trị quốc" và bình thiên hạ" lâu nhất, hai
là vì việc ổn định hóa và hiện đại hóa của Trung Quốc
trong vài thập kỷ vừa qua đã làm cho một số người tung ra
khẩu hiệu "Đồng thuận Bắc Kinh" (Beijing Consensus) để
thay cho khẩu hiệu "Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn" (Washington
Consensus) như là mô hình phát triển tối ưu cho tất cả các
nước đang phát triển, và ba là Trung Quốc "núi liền núi
sông liền sông" với Việt Nam cho nên những kinh nghiệm và
bài học của Trung Quốc cũng có thể có ảnh hưởng trực
tiếp với Việt Nam.

<h2> 2. Trích trình bày về Trung Quốc tại Nha Trang</h2>

Theo Uông Huy và một số nhà nghiên cứu khác thì cuộc đấu
tranh chính trị trong những năm 1975-1976 phản ánh việc tranh
luận sâu đậm về ý nghĩa của sự bình đẳng là phải như
thế nào trong xã hội chủ nghĩa và dưới một thể chế do
đảng và nhà nước lãnh đạo mà Mao Trạch Đông đã nêu lên
trong năm 1974. Đây là vấn đề được gọi là "pháp quyền
tư sản" (bourgeois right) trong hệ tư tưởng Mác-xít, tức là
quan hệ giữa hệ thống của sự bất bình đẳng xã hội và
cơ cấu nhà nước. Đặng Tiểu Bình cho đây là vấn đề giả
tạo được đưa ra với mục đích tranh chấp phe nhóm và gây
thêm mất ổn định. Đặng Tiểu Bình dùng từ ngữ chính
thống Mác-xít để nói lên rằng vấn đề lúc nầy không
phải là việc bàn luận về "pháp quyền tư sản" mà là làm
sao phát triển các lực lượng sản xuất vẫn còn ở dạng
tiềm năng. Bàn về quan hệ sản xuất, theo Đặng Tiểu Bình,
là đề cập đến việc còn quá xa vời. Từ đó trở đi vấn
đề bất bình đẳng bị đẩy ra khỏi chân trời chính trị
của Trung Quốc và việc phát triển các lực lượng sản xuất
đã giành được thế thượng phong. Mãi cho đến nay chế độ
nhà nước đảng (party-state) Trung Quốc vẫn tự cho mình là
đại diện của các "lực lượng sản xuất tiên tiến"
gồm đủ các thành phần vô sản và tư bản. [4]

<h3>a. Hai sự kiện quyết định: Phá vỡ "nhân dân công
xã" và đàn áp Thiên An Môn</h3>

Để phát triển các lực lượng sản xuất, chương trình hành
động của Đặng Tiểu Bình là tìm cách triệt tiêu tất cả
các thí nghiệm chính trị về bình đẳng và đàn áp các xã
hội dân sự. Để dọn đường cho việc đàn áp các "công
xã nhân dân" năm 1976 Đặng Tiểu Bình phục hồi "danh dự"
cho Bành Đức Hoài (彭德懷 <i>Péng Déhuai</i>) người được xem
là nạn nhân tiêu biểu của chính sách Mao-ít. Mao Trạch Đông
đã ủng hộ Bành Đức Hoài trở thành nguyên soái của Quân
đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tại Hội nghị Tuân Nghĩa
tháng giêng năm 1934. Nhưng tháng 6 năm 1959, tại Hội nghị Lư
Sơn, Bành Đức Hoài đã tranh cãi với Mao về Đại Nhảy Vọt;
về việc quân đội phải chính quy, chuyên nghiệp và giảm tính
chính trị; và về việc triệt tiêu các "nhân dân công xã."
Theo một cuốn sách có tựa đề <i> Lushan huiyi shilu </i>(Báo
cáo trung thực về Hội nghị Lư Sơn), mà tác giả là một
người đã ủng hộ Bằng Hoài Đức rất mạnh mẽ, thì đây
không phải là một cuộc tranh chấp giữa một trung thần dám
nói lên sự thật và một vị hoàng đế bạo tàn, mà là một
cuộc đấu tranh chính trị công khai và trực diện. Lập
trường của Bành Đức Hoài lúc đó đơn giản là phải nhất
thiết triệt tiêu tất cả các hình thức hợp tác nông
nghiệp. Ông ta có gần hai tuần để giải thích quan điểm của
mình trước khi ông Mao trả lời ông ta. [5]

Nhưng mãi đến sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa thì tình hình mới
cho phép bắt đầu triệt tiêu các "nhân dân công xã." Cuộc
Cách Mạng Văn Hóa đã phủ định tất cả các hình thức thí
nghiệm chính trị mà cơ chế nhà nước đảng đã ủng hộ,
mặc dầu các hình thức hợp tác xã là những thí nghiệm bắt
nguồn từ những yêu cầu bức thiết của thực tế ở những
vùng nghèo khổ của Trung Quốc. Mao đã nhiệt tình ủng hộ
"nhân dân công xã" vì ông ta tin chắc rằng nông dân biết
suy nghĩ, rằng họ có quan điểm chính trị, và có năng lực
phát minh ra những quan hệ xã hội mới. Chiến lược chính trị
của Mao từ những thập kỷ 20 bắt nguồn từ niềm tin nầy.

Nhưng việc coi nông thôn như là nơi có thể phát minh những
hình thái chính trị mới đã tạo thêm trọng trách cho nhà
nước đảng. Việc triệt tiêu "nhân dân công xã" cho đến
nay được chính thức giải thích là để giúp nông dân thoát ly
khỏi những gánh nặng tàn bạo của hợp tác xã. Nhưng trên
thực tế là giúp "nhà nước đảng" thoát khỏi trọng
trách với nông dân, khỏi trách nhiệm phải xem họ là chủ
thể chính trị một cách chủ quan. Đối với Đặng Tiểu Bình
vấn đề không phải là nông dân có thể suy nghĩ hay không, mà
là làm sao biến nông dân thành lực lượng lao động với giá
rẻ mạt. Kết quả là phần lớn nông dân đã mất sở hữu
đất đai và hiện nay có khoảng 150 triệu "du dân"
(<i>youmin</i>) hay "lưu dân" đi lang thang khắp mọi nơi tìm
việc làm. Trong khi đó thì có khoảng 150 triệu người khác làm
trong các xí nghiệp quốc doanh với đồng lương rất thấp vì
nếu họ tranh đấu đòi lên lương thì họ có thể lập tức
bị sa thải và thay thế bởi những người khác đang thất
nghiệp. Những người du dân thất nghiệp và bán thất nghiệp
sẵn sàng bán sức lao động của mình với giá rẻ mạt nầy
đã được Mác gọi là "đạo quân dự trữ công nghiệp."
Việc giải thể các "nhân dân công xã" là việc làm có chủ
định để kiềm chế công nhân và các xí nghiệp và để tạo
thêm sự phân hóa (bất bình đẳng) giữa thành thị và nông
thôn hầu thúc đẩy phát triển kinh tế ở các thành thị [6]

Một sự kiện then chốt khác giúp "nhà nước đảng" Trung
Quốc dựng lên "trật tự mới" là sự kiện Thiên An Môn.
Uông Huy, trong cuốn sách đã dẫn, chứng minh rằng việc đàn
áp đẫm máu phong trào tranh đấu năm 1989 là điều kiện tiên
quyết cho sự thành công của "chủ nghĩa tân tự do của Trung
Quốc" từ đầu thập kỷ 90. Đây là luận điểm chính của
cuốn sách. Luận điểm thứ hai bổ sung cho luận điểm trên là
các phát triển kinh tế của Trung Quốc trong thập niên trước
không bắt nguồn từ sự tự phát cá biệt của các quá trình
kinh tế được tạo ra do sự rút lui của nhà nước ra khỏi
lĩnh vực kinh tế. Ngược lại, những phát triển đó đã chỉ
có thể xảy ra vì những can thiệp hàng loạt của nhà nước.
Hai luận điểm nầy nói lên sự quan hệ giữa chính trị và
nhà nước và giữa nhà nước và nền kinh tế. Trọng tâm của
phong trào đấu tranh năm 1989 là một sự căng thẳng rất lớn
về quan hệ bất bình đẳng trong xã hội. Những chính sách
kinh tế của thập kỷ 90 chỉ có thể được thi hành sau khi
căng thẳng ấy đã bị triệt tiêu. [7]

Sự kiện Thiên An Môn đã được trình bày với rất nhiều
chi tiết trong cuốn sách tập hợp các văn kiện chính thức
gọi là <i>The Tiananmen papers </i>(Những văn kiện Thiên An Môn.)
[8] Sách nầy gồm những tài liệu Uông Huy cung cấp trong cuốn
sách của ông ta, và những nhận xét của Claudia Pozzana và
Alessandro Russo (hai nhà nghiên cứu về Trung Quốc và cũng là
nhân chứng sự kiện Thiên An Môn) đều cho biết rằng cuộc
đấu tranh ở Thiên An Môn gồm nhiều phần tử xã hội khác
nhau với nhiều đòi hỏi khác nhau. Nhưng ngay khi cuộc đấu
tranh chưa lan rộng thì Đặng Tiểu Bình, theo các bản sao các
cuộc họp của Đặng Tiểu Bình với Bộ Chính Trị, đã qui
kết các cuộc biểu tình của sinh viên là đồng loạn gây
mất ổn định và buộc phải đàn áp vô điều kiện. Ông ta
cho rằng tất cả các hình thức tổ chức chính trị độc lập
đều là nguyên nhân của mất ổn định và phải được dẹp
lập tức. Đặng Tiểu Bình đọc từng chữ bài xã luận đăng
trên các báo ngày 26 tháng 4 để công bố chính thức là ông ta
sẽ đàn áp phong trào đấu tranh. Nhưng trong khi Đặng Tiểu
Bình chưa điều động kịp quân đội để đàn áp thì phong
trào đã dịu xuống từ giữa tháng 5, số người biểu tình
ở Thiên An Môn đã thưa dần. Đến cuối tháng 5 thì hầu hết
các nhà báo nước ngoài đã bỏ về nước vì họ cho rằng
cuộc đấu tranh đã kết thúc. Nhưng đối với Đặng Tiểu
Bình nếu để cho những người biểu tình còn lại ở Thiên An
Môn tự giải tán một cách yên ổn thì không giải quyết
được vấn đề là làm sao có thể đàn áp thẳng tay nhằm
gây một dấu ấn kinh hoàng trong đầu óc của người dân
khiến cho họ không dám màng đến những hoạt động chính
trị nữa trong tương lai. Do đó, Đặng Tiểu Bình và Lý Bằng
(Thủ tướng chính phủ đương nhiệm) đã ra lệnh cho các
tướng lĩnh cố tình gây hàng loạt vụ khiêu khích chết
người ngày 2 và ngày 3 tháng 6 để kéo dân chúng trở lại
Thiên An Môn. Sau đó lấy cớ đàn áp một cách tàn bạo từ
ngày 4 tháng 6 trở đi. Công nhân là những người bị đàn áp
tàn nhẫn nhất vì họ có tổ chức. [9]

<h3>b. Đàn áp và Phát triển sau sự kiện Thiên An Môn</h3>

Như đã đề cập ở trên, Uông Huy đã chứng minh rất rõ là
trong những tháng sau sự kiện Thiên An Môn chính quyền Trung
Quốc thi hành hàng loạt các biện pháp kinh tế chống bình
đẳng mà đã không thể thông qua được trước đó. Luận
điểm chính của Uông Huy là cuộc đàn áp phong trào đấu tranh
năm 1989 đã giúp đẩy mạnh chủ nghĩa tân tự do. Uông Huy cho
biết là không có sự khác biệt giữa các nhóm "tân tự do"
và các phe nhóm của "nhà nước đảng," cả hai đều không
khoan nhượng nhất là trong việc dùng bạo lực để đàn áp.
Trên thực tế có sự liên minh chặt chẽ giữa các nhóm nầy;
và các lực lượng kinh tế chóp bu của Trung Quốc chưa bao giờ
độc lập đối với "nhà nước đảng." Đảng Cộng Sản
Trung Quốc bảo đảm trật tự tuyệt đối, không ai có thể
nhúng tay vào các hoạt động của nhà nước từ bên ngoài, và
chính trị là lĩnh vực biệt lập của tầng lớp thống trị.
Do đó, trong 20 năm qua tầng lớp lãnh đạo của Đảng Cộng
Sản Trung Quốc đã bóp chẹt tất cả các nguyện vọng đổi
mới trong hầu hết mọi lĩnh vực, trừ lĩnh vực tăng trưởng
kinh tế một cách vô tội vạ. [10]

Nhưng tăng trưởng kinh tế như thế nào, cho ai, và có mầm
móng bền vững không? Theo nhiều nghiên cứu thì cuộc đổi
mới theo chủ nghĩa tư bản "mang màu sắc Trung Quốc" trong
20 năm qua đã đưa Trung Quốc, vốn là một nước liệt vào
hạng thu nhập thấp nhất thế giới, trở thành một nước có
cách biệt giàu-nghèo cao nhất thế giới. Thu nhập ở Thượng
Hải cao gấp 8 đến 10 lần thu nhập tại các địa phương
khác. [11] Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Trung Quốc của
Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng đã phải công nhận rằng sự
cách biệt giàu-nghèo ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cao nhất
thế giới, trong đó mức thu nhập ở các thành thị cao hơn
nông thôn gấp 6 lần. [12] Đến năm 2006, trong khoảng trên
dưới 10 năm, hơn 70 triệu hộ nông dân đã bị tước đoạt
toàn bộ ruộng đất và khoảng 30 triệu hộ nữa đang trong danh
sách sắp bị truất hữu. [13] Trong khi đó, để có được
tăng trưởng GDP với tỷ lệ trung bình là 10% trong 20 năm qua,
Trung Quốc đã gây ô nhiễm rất lớn và đã sử dụng cạn
kiệt các nguồn nguyên liệu và nhiên liệu trong nước. [14]

Hơn thế nữa, theo phân tích của nhiều kinh tế gia trên thế
giới, con số tăng trưởng GDP được chính phủ Trung Quốc
đưa ra là giả tạo, là trong thực tế tỷ lệ tăng trưởng
chỉ khoảng 5% nếu không có đầu tư rất cao của tư bản toàn
cầu. [15] Ngân Hàng Phát Triển Châu Á cho rằng các số liệu
tăng trưởng GDP của Trung Quốc đã được thổi phồng quá
lớn, phải trừ ít nhất là 2% ra khỏi các báo cáo chính
thức. Họ cũng trừ thêm 3% khỏi tỷ lệ tăng trưởng GDP vì
cho là việc nông dân bỏ đất đai trồng trọt để lên thành
thị kiếm việc làm chỉ có thể kích thích phát triển kinh
tế trong tạm thời, nhưng lâu dài sẽ gây rất nhiều khó khăn
xã hội. Nếu không có đầu tư trực tiếp của nước ngoài
(FDI, Foreign Direct Investment), đến năm 2004 đã lên đến 60 tỷ
Mỹ kim, thì kinh tế Trung Quốc đã có thể bị suy thoái liên
miên. [16] Một đều lạ nên được lưu ý là mặc dầu những
con số chính thức của Trung Quốc cho biết là trong 20 năm qua
GDP tăng trưởng trung bình 10% một năm, tỷ lệ tăng việc làm
chỉ trung bình có 1% một năm trong suốt thập kỷ 90. Trên thực
tế số người có việc làm chỉ tăng trong khu vực kinh tế
không chính thức, trong khi chất lượng việc làm giảm sút
trầm trọng. [17] Số người thất nghiệp hiện nay rất lớn.
Một số nghiên cứu cho biết là trong 10 năm tới Trung Quốc
phải tìm việc làm mới cho 300 triệu người hầu mong có thể
ngăn chặn được một sự bùng nổ của khủng hoảng xã hội.
[18]

<h3>c. "Phát triển khoa học, xã hội hài hòa"?</h3>

Theo những con số chính thức chính quyền Trung Quốc đưa ra
thì đã có những "sự cố" lớn bùng nổ trong nông thôn vì
một số lý do như đất đai bị quan chức địa phương cướp:
Năm 1993 có 8,700 vụ biểu tình và nổi loạn của nông dân,
năm 1999 có 32,000 vụ, năm 2003 có 58,000 vụ, năm 2004 có 74,000
vụ, và năm 2005 có 87,000 vụ. [19] Đầu năm 2006 bộ trưởng an
ninh công cộng của Trung Quốc, ông Zhou Yongkang (周永康 Chu
Vĩnh Khang), công nhận là hàng năm có hàng vạn "sự cố
lớn" (mass incidents) và những cuộc biểu tình nổi loạn đã
tăng 10 lần trong thời gian 10 năm. Ông Zhou Yongkang cũng cho
biết thêm rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã bắt đầu
truyền bá các "tiêu chuẩn đạo đức" của Khổng Tử hòng
kiềm chế các sự bùng nổ khủng hoảng xã hội. [20] Hồ
Cẩm Đào cũng đã thường phải đề cập đến "bình đẳng
xã hội", phát triển một cách khoa học để xây dựng một
"xã hội hài hòa," và một "nông thôn xã hội chủ nghĩa
mới." Nông dân được cam kết giáo dục sẽ miễn phí, y tế
và các phương tiện công cộng sẽ tốt hơn, và bao cấp của
nhà nước cấp sẽ lớn hơn. Nhưng quyền sở hữu đất đai
mà nông dân đang cầy cấy thì không có trong danh sách hứa hẹn
ấy vì Hồ Cẩm Đào phải làm vừa lòng các thế lực tư bản
trong và ngoài nước. [21] Không có quyền cơ bản nầy thì nông
thôn sẽ không có thể chui vào con lốc của quyền lực và
lợi nhuận hiện nay tại Trung Quốc. Sự phân cấp xã hội-kinh
tế sẽ tiếp diễn và sẽ không cho phép Hồ Cẩm Đào thực
hiện lời hứa xây dựng một "xã hội hài hòa" cho Trung
Quốc.

Thật ra Hồ Cẩm Đào và hầu hết các lãnh tụ của "nhà
nước đảng" Trung Quốc chỉ muốn cho "xì hơi" bớt để
tránh bùng nổ và để cho hệ thống thống trị có thể tiếp
tục hoạt động. Nếu không cải thiện, sự căng thẳng nầy
sẽ đẩy một số công ty đa quốc gia chuyển đầu tư sang các
nước khác ở Châu Á và sẽ tạo điều kiện cho các nước
nầy có cơ hội cạnh tranh với Trung Quốc. Hồ Cẩm Đào dùng
khẩu hiệu xây dựng một "nông thôn xã hội chủ nghĩa
mới" và "phát triển khoa học, xã hội hài hòa" như là
chiêu bài đấu tranh quyền lực với các nhóm tư bản thành
thị, nhất là nhóm Thượng Hải. Từ khi trở thành chủ tịch
nước năm 2002 Hồ Cẩm Đào đã cố gắng củng cố quyền
lực của chính quyền trung ương và thiết lập một trật tự
mới mà nhiều nghiên cứu cho rằng áp bức hơn tất cả các
chính quyền nào khác từ thời Mao Trạch Đông. [22]

Thế thì tại sao các chính quyền phương Tây, đặc biệt là
Hoa Thịnh Đốn, đã hô hào là Trung Quốc càng ngày càng dân
chủ và đã đối đãi với Trung Quốc đặc biệt hơn tất cả
các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương? Đó là vì có
các thế lực công ty đa quốc gia giựt dây phía sau, nhất là
sau cuộc khủng hoảng tiền tệ/kinh tế năm 1997-98. Những năm
phát triển "thần kỳ" đã giúp cho các nước Đông Nam Á có
năng lực và thế cạnh tranh tốt hơn. Sau cuộc khủng hoảng
thì các nước nầy và Hàn Quốc có cơ hội trở thành những
nước dân chủ hơn, là những nước có nhiều tài nguyên; và
sau các cuộc cải cách do áp lực của IMF cũng đã có thể
cạnh tranh tốt hơn nhờ chi phí lao động còn rẻ. Trung Quốc
có sức hấp dẫn lớn hơn cả vì có một chính quyền có thể
ra tay trấn áp nhân dân lao động mạnh nhất và có chính sách
thương mại khá thông thoáng. Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ
tháng 4 năm 2006 ông Hồ Cẩm Đào cam kết sẽ mở cửa rộng
thêm hơn nữa cho đầu tư nước ngoài vào vì ông ta biết
rằng đối với các chính quyền tư bản, đặc biệt là Hoa
Kỳ, vấn đề có hàng tiêu dùng rẻ vẫn quan trọng hơn những
giá trị căn bản nhưng trừu tượng như là tự do và nhân
quyền.

<h3>d. Càng phát triển càng tự do?</h3>

Mô hình phát triển của Trung Quốc là dùng tăng trưởng kinh
tế để đè bẹp tự do và dân chủ. Đặng Tiểu Bình đã
nói: "Làm giàu là vinh quang." Nhưng làm giàu cho ai? Ai vinh
quang? Theo số liệu chính thức của Trung Quốc thì từ năm
1980-1997, tức là những năm nền kinh tế Trung Quốc cất cánh,
tỷ lệ bất bình đẳng tăng 50%. Sau đó, tốc độ còn tăng
nhanh hơn; để rồi đến năm 2006 hơn 60% giá trị của tất cả
của cải và tài sản nội địa Trung Quốc đã thu gom vào tay
của dưới 1% tổng số hộ gia đình. [23] Gần 30% số hộ
nông thôn không đủ ăn, thu nhập trung bình dưới 1 Mỹ kim một
ngày. [24] Số người ăn xin trong các thành phố tăng lên gấp
bội vì các chính quyền địa phương bất lực và vì chính
sách hộ khẩu không còn có thể kiểm soát các luồng dân nông
thôn chảy vào thành phố để kiếm việc làm. [25] Mặt khác,
Trung Quốc đã trở thành nước tiêu dùng xa xí phẩm nhiều
thứ ba trên thế giới. [26]

Lý do chính cho sự cách biệt trên là chính trị chứ không
phải kinh tế. Nếu người dân Trung Quốc có tiếng nói chính
trị thì sự cách biệt nầy đã không xảy ra lớn và nhanh như
vậy. Câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu mô hình phát
triển kiểu Trung Quốc nầy có thể tồn tại lâu dài và đem
đến "an cư lạc nghiệp" cho nhân dân Trung Quốc không?
Antonio Gramsci, nhà tư tưởng chính trị người Ý theo truyền
thống Mác-xít, nói rằng bất cứ một chính quyền nào cũng
cần có hai vòng đai bảo vệ: Vòng ngoài là vòng "thiết giáp
của trấn áp"; vòng trong là vòng đồng thuận (vòng ý thức
hệ) được thiết lập để củng cố vòng ngoài và để biện
minh hay chính thống hóa sự trấn áp của chính quyền. Vòng
trong được cấu tạo với xã hội dân sự và là vòng đai
bảo vệ quan trọng nhất của chính quyền. [27] Vì "nhà
nước đảng" Trung Quốc hiện nay chủ yếu chỉ có một vòng
đai, vòng đai trấn áp bằng vũ lực, họ đã và đang phải
cố gắng hô hào và cổ vũ cho một loại chủ nghĩa dân tộc
(chủ yếu là chủ nghĩa Đại Hán) để tạo nên một ý thức
hệ đồng thuận có thể dùng làm vòng đai phía trong. Chủ
nghĩa dân tộc nầy được nhào nặn và sử dụng bằng nhiều
hình thức mà một số nhà nghiên cứu đã phân tích. [28]
Những thể hiện hết sức nguy hiểm của chủ nghĩa dân tộc
nầy trong các lĩnh vực quân sự và ngoại giao cũng đã được
người viết bài nầy phân tích trong một số nghiên cứu đăng
trên các tạp chí nước ngoài. [29] Nếu Trung Quốc không thể
giải quyết những mâu thuẫn trong nước bằng bạo lực được
thì Trung Quốc sẽ có thể dùng vũ lực để xuất khẩu các
mâu thuẫn đó ra bên ngoài như Nhật Bản đã áp dụng từ
cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 dưới học thuyết
"phú quốc cường binh" hay không? Các nước khác ở châu Á
có nên bắt chước mô hình phát triển Trung Quốc không?

<h2> 3. Phần viết thêm (Postscript)</h2>

Trong năm qua tình hình kinh tế xã hội của Trung Quốc chỉ
xấu thêm chứ không khá hơn. Theo các công bố chính thức của
chính phủ Trung Quốc vào đầu tháng 3 năm 2009 thì trong 5 tháng
trước đó đã có hơn 20 triệu công nhân trong các xí nhiệp
đã bị mất việc và đã phải chạy về nông thôn. Đây là
một con số lớn bằng tổng dân số của Australia. Cũng theo
các báo cáo chính thức, Trung Quốc cần tăng trưởng GDP
khoảng 9-10% mới có thể cung cấp việc làm cho khoảng 24 triệu
người đến tuổi lao động mỗi năm. Thủ tướng Ôn Gia Bảo
tuyên bố là GDP của Trung Quốc sẽ tăng khoảng 8% năm 2009.
[30] Nhưng theo phân tích của nhiều kinh tế gia nước ngoài thì
GDP Trung Quốc sẽ tăng tối đa khoảng 6,5% vì một số lý do
như sau. Lý do thứ nhất là tuy chính phủ Trung Quốc đã công
bố (ngày 9 tháng 11 năm 2008) một chương trình kích cầu với
tổng số tiền là 586 tỷ Mỹ kim cho 2 năm 2009-10 (khoảng 7,5%
GDP mỗi năm), trong thực tế thì chính quyền Trung Ương chỉ
hứa sẽ bỏ ra khoảng 175 tỷ Mỹ kim mà thôi. Số còn lại là
do đầu tư của địa phương và tư nhân.

Khó mà hiểu được trong lúc tình trạng kinh tế trong nước
và thế giới sa sút như trong năm qua thì làm sao địa phương
và tư nhân muốn đầu tư thêm. Nên nhớ rằng 40% GDP của Trung
Quốc là từ công nghiệp chế biến, 40% GDP là do xuất khẩu;
và xuất khẩu ròng (tức xuất siêu) là 12% GDP năm 2007-2008.
Đầu tư cho sản xuất các năm trước trung bình khoảng 45% GDP
và vì thế đã giúp Trung Quốc tăng xuất khẩu sang Mỹ, chẳng
hạn, khoảng 20% mỗi năm. Nhưng các con số trao đổi mậu dịch
song phương Trung-Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2009 đã cho thấy là
xuất siêu của Trung Quốc đối với Mỹ đã giảm gần đến
số không. Năm 2007 xuất siêu Trung Quốc sang Mỹ là 252 tỷ Mỹ
kim, tức khoảng 100 tỷ Mỹ kim nhiều hơn số tiền mà chính
quyền Trung Ương Trung Quốc nói là sẽ dành cho kích cầu trong
hai năm 2009-2010.

Nếu Trung Quốc vẫn dựa vào xuất khẩu để phát triển thay
vì tìm cách tăng mại lực của nhân dân, nhất là cho những
người có thu nhập thấp, thì kinh tế Trung Quốc khó mà phục
hồi nhanh chóng. Vì Trung Quốc không có quỹ an sinh xã hội,
người dân Trung Quốc phải để dành, khoảng 20% thu nhập,
để phòng những lúc khó khăn hay rủi ro. Các xí nghiệp lớn
của Trung Quốc cũng để dành tiền. Cho nên tổng số tiền
để dành của Trung Quốc là khoảng 45-50% GDP. Chính phủ lấy
tiền nầy để đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu. Đó là
lý do tại sao tỷ lệ đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu
chiếm khoảng 45% GDP. Phần lớn tiền để dành của các xí
nghiệp quốc doanh là tiền dự trữ ngoại tệ giữ ở nước
ngoài để cho nước ngoài vay mua hàng của Trung Quốc.

Theo một bài nghiên cứu đăng trong tờ <i>The Wall Street Journal
</i>thì phần lớn của cải của Trung Quốc đang nằm trong tay
của 140 tổng công ty quốc doanh. [31] Từ năm 2003-2008 tài sản
(assets) của các tổng công ty nầy mỗi năm tăng trung bình
khoảng 1,5 nghìn tỷ nhân dân tệ (1.5 trillion yuan) và giá trị
hàng bán ra (sales) mỗi năm tăng trung bình khoảng 1,3 nghìn tỷ.
Các công ty nầy được các ngân hàng quốc doanh cho vay 1,08
nghìn tỷ nhân dân tệ trong 6 tháng đầu năm 2009, con số lớn
hơn tổng số cho vay năm 2008. Trong khi đó chưa đến 5% của số
tiền nầy được cho các xí nghiệp nhỏ và vừa vay. Phần
lớn các xí nghiệp nhỏ và vừa nầy là của tư nhân và chính
phủ Trung ương ngăn cấm họ hoạt động trong những ngành
nghề kinh doanh có lợi nhuận lớn nhất.

Cũng theo bài báo trên thì người giàu càng ngày càng giàu
thêm và người nghèo càng ngày càng nghèo thêm. Hiện nay tại
Trung Quốc có khoảng 300 nghìn người có tài sản trên 10
triệu đồng nguyên mỗi người. Trong khi đó thì thu nhập của
nông dân và công nhân (hơn 65% của tổng số 1,3 tỷ người)
đã giảm xuống đến 41,4% GDP năm 2006—tức năm cuối cùng có
số liệu chính thức—so với 53% năm 1998. Ở các nước phát
triển như Nhật và Mỹ thu nhập của công nhân và nông dân
thường là từ 50-60% GDP. Thêm vào đó y tế và giáo dục cho
nông dân và công nhân một là, không có, hai là, nếu có, thì
rất tồi tệ. Theo báo cáo năm 2008 của Bộ Y Tế có khoảng 200
triệu công nhân và nông dân mắc bệnh từ những công việc
làm của họ.

Không phải giới cầm quyền Trung Quốc không biết là khoảng
cách giàu-nghèo đã đến mức trầm trọng. Trong một bài báo
đăng ngày 26 tháng 6 năm 2009 một tác giả khác cho biết là
trước đó vài ngày một thành viên của Bộ Chính Trị Đảng
Cộng Sản Trung Quốc công bố một vài con số chính thức về
phân cấp giàu-nghèo như sau: 70% của tất cả của cải tài
sản tại Trung Quốc tập trung trong tay của 0,4% dân số (tập
trung cao hơn tại Mỹ). Hay nói cách khác, 99,6% tổng dân số
Trung Quốc chỉ hưởng có 30% của cải của nước họ [32]
Giới cầm quyền Trung Quốc biết là phân cấp giàu-nghèo nầy,
chủ yếu là qua tham nhũng và lạm quyền của quan chức các
cấp, đã và sẽ gây thêm nhiều cuộc nổi dậy của quần
chúng mà họ dùng mỹ từ "sự kiện đại chúng" để gọi.
Vì thế, giới cầm quyền Trung Quốc đã dùng mọi thủ đoạn
- từ làm "công tác tư tưởng" đến đàn áp bằng vũ lực
để "trị an." [33] Theo Perry Link và Joshua Kurlantzick, hai
học giả về Trung Quốc, "Điều rất đáng lo ngại hơn là
chính phủ [Trung Quốc] đang chuyển sự thành công của họ trong
nước ra thành sự thành công ở nước ngoài, nơi mà "mô
hình Trung Quốc" về chủ nghĩa tư bản độc đoán đang rất
ăn tiền. Chính phủ các nước từ Syria đến Việt Nam đang ca
ngợi Trung Quốc." [34]

Nhiều người đang quan tâm, nếu không nói là quan ngại,
trước thái độ khâm phục Trung Quốc của một số lãnh tụ
và trí thức Việt Nam hiện nay cũng như trước các hoạt
động bành trướng của Trung Quốc tại Việt Nam và trong khu
vực Đông Nam Á. Các hành động khiêu khích của Trung Quốc
trên biển Đông Nam Á như vây quanh hay va chạm chiến thuyền
của Mỹ và bắt ngư dân Việt Nam buộc Mỹ gần đây phải
đưa ra hàng loạt chính sách cụ thể để chứng tỏ rằng Hoa
Kỳ vẫn còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền
lợi của họ cũng như của những quốc gia khác trong khu vực.
[35] Đây là vấn đề khá phức tạp và ngoài phạm vi bài
nầy. Nhưng cũng đã có một số phân tích về chính sách hiện
nay của Mỹ và Trung Quốc trên một số diễn đàn khác. [36]

Tháng 7-2009
<b>Ngô Vĩnh Long</b>

_______________________

<h2>Chú thích</h2>

[1] Hai tên gọi, Trung Quốc (<b>中國</b> zhongguó) và Trung Hoa
(<b>中華</b> zhonghuá), đã được sử dụng từ thời nhà Chu
(周) — từ thế kỷ thứ 10 đến năm 221 trước công nguyên
— để phân biệt với "thiên hạ" (<b>天下</b> <i>tian
xìa</i>), tức là những nước và dân tộc chưa được nhà Chu
thôn tính và khai hóa.

[2] Ngay sau khi nhà Chu vừa mới thôn tính nhà Thương (商) thì
Chu Công đã nói là người ta có thể chiếm một nước trên
lưng ngựa nhưng không có thể giữ nước đó trên lưng ngựa
được. Nghĩa là không có thể dùng vũ lực và bạo lực để
cai trị một cách ổn định được.

Để trị an, Chu Công quan niệm rằng phải có một ý
thức hệ bao trùm tạo ra được sự đồng thuận trong xã
hội, đặc biệt là trong các tầng lớp cai trị. Vì thế, Chu
Công và các vị vua đầu tiên của triều đại Tiền Chu hay
Tây Chu (1122-771 trước công nguyên) giới thiệu hai khái niệm
đi đôi với nhau là "Thiên" (天 ) và "Đức" (德).

Thiên là một động lực đạo đức bao quát cai quản toàn
thể vũ trụ và loài người và được nhà Chu dùng để thay
thế "Thượng Đế" (上 帝), ông tổ của nhà Thương và
cũng là vị thần làm mưa làm gió. Đức là hành động đứng
đắng của con người, hài hòa với các nguyên lý đạo đức
của vũ trụ. Thiên ngồi trên phán xét, một cách không thiên
vị, các hành động của người cầm đầu thiên hạ và cho
người nầy có quyền, gọi là "thiên mạng" (天 命), để
làm trung gian giữa thiên ý và nhân mạng, tức là vận mạng
của con người. Người có thiên mạng để cai trị (thiên tử
天 子) là người phải có Đức, tức là phải có trách nhiệm
đối với xã hội loài người bằng cách làm cho dân chúng
được "an cư lạc nghiệp." An cư lạc nghiệp có nghĩa là
xã hội ổn định và kinh tế phát triển cho hạnh phúc của
quần chúng. Khái niệm trên được coi như là một khế ước
giữa trời và người (thiên và thiên hạ) và trời không có
quyền tự hủy cái giao kèo đó. Khi có "thiên tai" làm cho
con người bị đau khổ, đó không phải là vì trời thất hứa
mà là vì giới cầm quyền không có chính sách đứng đắng và
hài hòa với các nguyên lý đạo đức của vũ trụ nên mới
gây mất ổn định. An lạc là nguyên lý trọng tâm. Nếu dân
chúng bị đau khổ, vì thiên tai hay là vì chính sách không
đứng đắng của nhà cầm quyền, thì quần chúng có quyền
"cách mạng" (革 命).

Hai luận điểm trên được nhà Chu phát triển như là một ý
thức hệ giúp cho triều đại nầy cai trị ổn định mấy
trăm năm. Sáu trăm năm sau giai đoạn Chu Công thi hành hai luận
điểm trên thì Khổng Tử dùng chúng làm cốt lõi cho hệ
thống tư tưởng của ông. Sau đó, các trường phái Nho học,
đặc biệt dưới thời Hán, thể chế hóa các luận điểm
nầy thành nền tảng của ý thức hệ cai trị mà các triều
đại đế chế Trung Quốc đã liên tục sử dụng để ổn
định xã hội và bảo vệ chính quyền. Một tầng lớp sĩ phu
đã được đào tạo và liên tục trưởng thành trong hơn hai
nghìn năm để điều hành và củng cố các thể chế đặt ra.
Vị trí của "Sĩ" phản ánh qua câu:
<blockquote> Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ Sĩ vi chi tiên
Có giang sơn thì Sĩ đã có tên
Thời Chu Hán vốn Sĩ nầy là quí…
<b> (Kẻ Sĩ—Nguyễn Công Trứ)</b>
</blockquote>

[3] Bài tham luận đó có tựa đề là: "Một vài nhận xét
về quan hệ giữa 'trách nhiệm xã hội, ổn định và phát
triển' trong lịch sử một vài nước Á Châu." Vì lý do kỹ
thuật, chỉ có phần nói về Trung Quốc đã được đưa lên
mạng hội thảo trước và hiện nay còn nằm tại đây: <a
href="http://hoithao.viet-studies.info/2008_NgoVinhLong.pdf">
http://hoithao.viet-studies.info/2008_NgoVinhLong.pdf</a>. Trong bài tham
luận của tôi tại hội thảo tôi đã dùng hơn một nửa thời
gian trình bày diễn tiến của mô hình phát triển Hàn Quốc
từ đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước cho đến năm 2007.
Sau hội thảo tôi đã phát triển phần Hàn Quốc nầy đến
gần 50 trang và hiện nay còn đang hiệu đính để có thể cho
xuất bản.

[4] "China's New Order and Past Disorders…", như trên, trang
348-349.

[5] Như trên, trang 339. Li Rui, <i> Lushan huiyi shilu </i> (Báo cáo
trung thực về Hội nghị Lư Sơn). Changsha: Hunan jiaoyu chubanshe,
1989.

[6] "China's New Order and Past Disorders…", như trên, trang
341-342.

[7] Wang Hui, như trên. "China's New Order and Past Disorders…",
như trên, trang 330-331.

[8] Perry Link and Andrew Nathan, eds. <i>The Tiananmen Papers</i>. New
York: Public Affairs, 2001.

[9] "China's New Order and Past Disorders…", như trên, trang
330-339. Muốn có thêm chi tiết, xin xem <i>The Tiananmen Papers</i>.

[10] Xem: William H. Thortorn, "Hu Goes There? Sino-globalism and the
Ghost of Tiananmen," <i>ZNet</i>, ngày 25 tháng 4 năm 2006. Bài nầy
có thể tải về từ: <a
href="http://www.zmag.org/content/print_article.cfm?itemID=10153&amp;sectionID=103">http://www.zmag.org/content/print_article.cfm?itemID=10153&amp;sectionID=103</a>

[11] Richard Baum, "Where is China Going?" <i>UCLA Asia Institute</i>,
ngày 13 tháng 12 năm 2002. Bài nầy có thể tải về từ:
http://international.ucla.edu/asia/print.asp?parentid=2799.

[12] Richard Spencer, "China Rich-Poor Gap is World's Worst,"
<i>Telegraph</i>, ngày 17 tháng 2 năm 2004. Bài nầy có thể tải
về từ: http://www.telegraph.co.uk.

[13] Jim Yardley, "Farmers Being Moved Aside by China's Real Estate
Boom," <i> The New York Times</i>, ngày 8 tháng 12 năm 2004. Bài nầy
có thể tải về từ: <a
href="http://www.nytimes.com/2004/12/08/international/asia/08china.html">http://www.nytimes.com/2004/12/08/international/asia/08china.html</a>

[14] Jim Yardley, "Bad Air and Water, and a Bully Pulpit in China,"
<i>The New York Times</i>, ngày 25 tháng 9 năm 2004. Bài nầy có thể
tải về từ: <a
href="http://www.nytimes.com/2004/09/25/international/asia/25fprofile.html">http://www.nytimes.com/2004/09/25/international/asia/25fprofile.html</a>

[15] Xem: Thomas G. Rawski, "What's Happening to China's GDP
Statistics?" <i> China Economic Review </i>12:4 (2001), Bài nầy có
thể tải về từ: <a
href="http://www.pitt.edu/~tgrawski/papers2001/gdp912f.pdf">http://www.pitt.edu/~tgrawski/papers2001/gdp912f.pdf.
</a> Arthur Waldron, "China's Economic Façade," <i>Washington
Post</i>, ngày 21 tháng 3 năm 2002. Bài nầy có thể tải về từ:
<a
href="http://www.taiwandc.org/wp-2002-01.htm">http://www.taiwandc.org/wp-2002-01.htm</a>

[16] William H. Thornton, "Sino-Globalization: Politics of the CCP/TNC
Symbiosis," <i>New Political Science</i>, Volume 29, Number 2, June 2007,
trang 217.

[17] Như trên.

[18] Guy Ryder, "Whose Miracle in China?" <i>New Perspectives
Quarterly </i> 23:1 (2006). Bài nầy có thể tải về từ: <a
href="http://www.digitalnpq.org/archive/2006_winter/ryder.hmtl">http://www.digitalnpq.org/archive/2006_winter/ryder.hmtl</a>

[19] "Sino-Globalization…", trang 219.

[20] "Who Should Own the Good Earth of China," <i>The Christian
Science Monitor</i>, ngày 15 tháng 3 năm 2006. Bài nầy có thể tải
về từ: <a
href="http://www.csmonitor.com/2006/0315/p08s01-comv.html">http://www.csmonitor.com/2006/0315/p08s01-comv.html</a>

[21] Jim Yardley, "China Unveils Plan to Aid Farmers, but Avoids Land
Issue," <i>The New York Times</i>, ngày 23 tháng 2 năm 2006. Bài nầy
có thể tải về từ: <a
href="http://www.nytimes.com/2006/02/23/international/23rural.html">http://www.nytimes.com/2006/02/23/international/23rural.html</a>

[22] Xem: Robert Marquand, "Hu Sets Out Blueprint for China's Future,"
<i>The Christian Science Monitor</i>, ngày 6 tháng 10 năm 2005. Bài
nầy có thể tải về từ: <a
href="http://www.csmonitor.com/2005/1006/p06s02-woap.htm">
http://www.csmonitor.com/2005/1006/p06s02-woap.htm</a>. Minxin Pei, "The
Chinese Communist Party," <i>Foreing Policy, </i>September/October 2005.
Bài nầy có thể tải về từ: <a
href="http://www.foreignpolicy.com/story/cms.php?story-id=3174&amp;print=1">
http://www.foreignpolicy.com/story/cms.php?story-id=3174&amp;print=1</a>.

[23] C. T. Kurien, "Giants of the East," <i>FrontLine </i>23:26, ngày
30 tháng 12 năm 2006—ngày 12 tháng giêng năm 2007. Bài nầy có
thể tải về từ: <a
href="http://www.hinduonnet.com/fline/fl2326/stories/20070112000507400.htm">
http://www.hinduonnet.com/fline/fl2326/stories/20070112000507400.htm</a>.

[24] Pranab Bardhan, "Does Globalization Help or Hurt the World's
Poor?" <i> ScientificAmerican.com</i>, ngày 26 tháng 3 năm 2006. Bài
nầy có thể tải về từ: <a href="http://www.sciam.com/">
http://www.sciam.com</a>.

[25] Jim Yardley, "China is Paying a Price of Modernization: More
Beggars," <i>The New York Times</i>, ngày 7 tháng 4 năm 2004. Bài nầy
có thể tải về từ: <a
href="http://www.nytimes.com/2004/04/07/international/asia/07beggars.html">
http://www.nytimes.com/2004/04/07/international/asia/07beggars.html</a>.

[26] Zijun Li, "Luxury Spending: China's Affluent Entering 'Enjoy
Now' Phase of Consumption," <i>World Watch Institute</i>, ngày 16
tháng 12 năm 2005. Bài nầy có thể tải về từ: <a
href="http://www.worldwatch.org/features/chinawatch/stories/20051216-1">
http://www.worldwatch.org/features/chinawatch/stories/20051216-1</a>.

[27] Antonio Gramsci, <i>Selections from the Prison Notebooks</i>.
London: Lawrence and Wishart (1971), trang 124, 238, 263, 363.

[28] Một ví dụ là: William A. Callahan, "History, Identity, and
Security: Producing and Consuming Nationalism in China," <i>Critical Asian
Studies </i>38: 2 (2006), trang 179-208.

[29] Một số bài tiếng Việt đã đăng trên <i>Tạp Chí
Thời Đại Mới</i>: <a href="http://tapchithoidaimoi.info/">
http://tapchithoidaimoi.info</a>.

[30] "Wen says China to grow about 8% despite crisis." Bài nầy có
thể tải về từ trạm: <a
href="http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific_business/view/413312/1/.html">
http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific_business/view/413312/1/.html</a>.

"PM Wen says China faces 'unprecedented' challenges over crisis."
Tải về từ trạm: <a
href="http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific_business/view/413202/1/.html">
http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific_business/view/413202/1/.html</a>.

[31] Willy Lam, "Rich China, Poor Peasants: A Country where weatlh
trickles up," <i> The Wall Street Journal</i>, July 24, 2009. Bài nầy
có thể tải về từ:<a
href="http://online.wsj.com/article/SB10001424052970203946904574301110723410346">
http://online.wsj.com/article/SB10001424052970203946904574301110723410346</a>.

[32] Alice Poon, ""A Country Whose People Are Poor Cannot Be Called a
Rich Country." Nguyên văn câu tiếng Anh như sau: "A few days ago,
Politburo member 蔡繼明 quoted a report issued by the authorities that
says presently 0.4 percent of China's population controls about 70 percent
of the country's wealth – the degree of wealth concentration is higher
than in America. In other words, the remaining 99.6 percent of China's
citizens share only 30 percent of its wealth." Bài nầy có thể tải
về từ:<a
href="http://www.asiasentinel.com/index2.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=1951&amp;pop=1&amp;page=0&amp;Itemid=324">
http://www.asiasentinel.com/index2.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=1951&amp;pop=1&amp;page=0&amp;Itemid=324</a>.

[33] Xem: Hugo Restall, "China Enters a Period of Eruptions," <i>Far
Eastern Economic Review</i>, July 2009. Bài nầy có thể tải về
từ:<a
href="http://www.viet-studies.info/kinhte/china_period_of_eruption.htm">
http://www.viet-studies.info/kinhte/china_period_of_eruption.htm</a>.

[34] Perry Link và Joshua Kurlantzick, "China's Modern
Authoritarianism: The Communist Party's ultimate goal is to stay in power,
not to liberalize," <i> The Wall Street Journal</i>, May 25, 2009. Bài
nầy có thể tải về từ:<a
href="http://online.wsj.com/article/SB124319304482150525.html#printMode">
http://online.wsj.com/article/SB124319304482150525.html#printMode</a>.
Nguyên văn tiếng Anh: "Even more worryingly, the government is
translating its success at home into success abroad, where the "China model"
of authoritarian capitalism is gaining currency. Governments from Syria to
Vietnam have sung its praises."

[35] Những tài liệu về chính sách của Mỹ gần đây
cũng như những bài vở về hoạt động của Trung Quốc tại
Việt Nam và khu vực trong những tháng qua có thể tải về
từ trạm: <a href="http://www.viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm">
http://www.viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm</a>.

[36] Một ví dụ là bài phỏng vấn Radio France Internationale
(RFI) tại đây: <a
href="http://www.rfi.fr/actuvi/articles/115/article_4360.asp">
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/115/article_4360.asp</a>.

© Thời Đại Mới

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20120927/ngo-vinh-long-dan-ap-de-on-dinh-va-phat-trien-mo-hinh-trung-quoc),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét