<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub01/NguyenTanDung.jpg"
/></center>
Nói xong vấn đề giáo dục, thì tự nhiên chúng tôi nghĩ ngay
tới câu hỏi: Thế còn báo chí? Những điều tôi sẽ kể về
báo chí An Nam nó kỳ dị quá đến nỗi khó mà tin được.
Giữa thế kỷ XX này, ở một nước có đến 20 triệu dân mà
không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng
được như thế không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng
mẹ đẻ của chúng tôi. Lý do như thế này. Chính quyền Pháp
quyết định rằng không một tờ báo bằng tiếng An Nam nào
được xuất bản nếu không được viên toàn quyền cho phép,
rằng họ chỉ cho phép với điều kiện là bản thảo đưa
đǎng phải trình viên toàn quyền duyệt trước đã, và giấy
phép ấy họ thu hồi lúc nào cũng được. Tinh thần bản sắc
lệnh về báo chí là như thế đấy. (Chúng tôi bị cai trị
bằng chế độ sắc lệnh do viên toàn quyền ban bố chứ không
phải bằng những đạo luật đã được thảo luận và biểu
quyết ở nghị viện). Trên thực tế còn tệ hơn nữa. Mãi
đến bây giờ, chưa có người An Nam nào được phép xuất bản
một tờ báo cả.
Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay
vǎn học như ta thấy ở châu Âu và các nước châu á khác,
chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho
bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán
dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn,
ca tụng công ơn của nền khai hoá và ru ngủ dân chúng. Báo
đầu độc người ta như thế, thì ở Đông Dương cũng có ba
hay bốn tờ đấy.
Ngay cho đến cả những tờ thông tin thuần tuý về kinh tế và
thương mại, người ký giả bản xứ cũng chỉ xin được phép
bằng những biện pháp quanh co. Anh ta phải thuê tiền một
người Pháp có địa vị và được kính nể. Ông này đi gặp
quan cai trị và xin phép cho ông ta, là người Pháp. Vì ông ta
vẫn sẽ là sáng lập viên của tờ báo, mặc dầu ông chẳng
biết một tiếng An Nam nào gọi là có, ông chẳng phải bỏ
tiền túi ra lấy một xu nhỏ, chẳng phải đụng tí gì đến
công việc của tờ báo cả trừ việc đi gặp viên quan cai
trị. Chỉ việc cho mượn tên mình, người Pháp kia nhận
được hằng tháng một số tiền rất hậu mà người ký giả
bản xứ phải trả cho ông lâu dài, báo còn ra là còn phải
trả.
Trước khi đưa đi nhà in, tất cả các bài báo phải dịch ra
tiếng Pháp và đưa kiểm duyệt đã. Cấm ngặt những tờ thông
tin ấy không được đả động gì đến những vấn đề chính
trị hay tôn giáo, mà chỉ được đǎng những tin tức thông
thường, những vấn đề xét ra có lợi cho Nhà nước. Khi đất
nước bị một thiên tai nào, lụt lội, bão táp, đói kém, v.v.,
phòng kiểm duyệt cấm báo không được cho dân chúng biết
những tin "không vui" ấy, cấm báo không được mở lạc quyên
giúp những người bị nạn. Báo không có quyền nói gì, dù
chỉ bóng gió, đến việc bầu cử hội đồng thuộc địa hay
hội đồng hàng tỉnh. Có một tờ, dịch ra tiếng An Nam đạo
luật cấm những hành vi hối lộ trong việc tuyển cử, đã bị
kiểm duyệt trắng mất nửa tờ báo mà còn bị khiển trách
thêm nữa. Nhiều khi người ta cấm cả dịch đǎng những bài
đã đǎng ở các báo tiếng Pháp xuất bản ở Đông Dương.
Các bạn chớ tưởng rằng mấy tờ báo thông tin khốn khổ ấy
được tự do phân tích tất cả những cái thuộc về kinh tế.
Chẳng hạn, họ không được nói đến đời sống đắt đỏ,
đến việc mất mùa, đến việc buôn gian bán lậu của bọn con
buôn người Âu, đến việc xoay xở tiền nong bất lương của
bọn quan cai trị, đến những vụ đầu cơ đê tiện của bọn
chủ đồn điền và chủ nhà máy người da trắng. Vừa rồi,
người ta cấm báo chí không được đả động đến việc
Chính phủ nhượng quyền kinh doanh hải cảng Sài Gòn, nếu
không phải để tán dương công đức của công ty độc quyền
và lòng vô tư của Chính phủ. Có một tờ cũng đã "tán
dương", nhưng kém nhiệt tình, nên phòng kiểm duyệt trước
hết đã theo dõi bí mật, rồi đóng cửa hẳn tờ báo ấy.
Những người vào làng Tây, được hưởng quyền công dân
Pháp, có thể xuất bản báo, nhưng chỉ bằng tiếng Pháp mà
thôi - ở Nam Kỳ có 5, 6 tờ báo vào loại ấy. ở các vùng
khác, không có tờ báo nào, vì không có hay có ít người vào
làng Tây. Trong số các cơ quan ngôn luận ấy - thường là bán
nguyệt san - có hai hay ba tờ có khuynh hướng quốc gia hợp
pháp. Ghép hai tính từ trái ngược nhau ấy với nhau, có thể
kỳ dị đấy và cần giải thích đôi chút. Những tờ báo này
là của bọn tư sản bản xứ mới lên, có địa vị là nhờ
ở nền đô hộ Pháp. Nền đô hộ ấy đã sinh ra bọn này,
nhưng lại không để cho họ phát triển. Vì vậy, tầng lớp tư
sản nhỏ bé đó bị ngạt thở trong phạm vi chật hẹp và phụ
thuộc mà quan thầy ngoại quốc - cha đỡ đầu của họ- đã
dành cho họ. Và vì thế, họ hờn mát nhưng cũng nhè nhẹ thôi.
Bởi thân phận nửa dơi nửa chuột của họ, chẳng thuộc hoàn
toàn trong xã hội An Nam vì họ là những người vào làng Tây,
mà cũng chẳng thuộc trong tầng lớp "quý tộc" Tây vì họ
xuất thân ra là người An Nam - nên họ cảm thấy lúng túng
trong mọi việc. Đồng thời trong mọi hành động và tư tưởng
của họ, đều thấy cái mâu thuẫn xã hội và tâm lý ấy. Báo
của họ chỉ trích những vụ hà lạm, nhưng lại phỉnh nịnh
những kẻ hà lạm; họ than phiền về những đạo luật đè
nén áp bức, nhưng vẫn cậy thế vào nước mẹ; họ mủi lòng
cho số phận khốn khổ của người An Nam, nhưng vẫn ca tụng
công đức mơ hồ của một nền khai hoá tốt đẹp hơn. Họ
muốn chữa bệnh, nhưng lại không dám tìm và tấn công vào
nguồn gốc của bệnh.
<h2>Ảnh hưởng của họ bị cản trở mọi đường: </h2>
a) Vì chính sách ngu dân như các bạn đã biết, nên độc giả
chỉ có một dúm người rất hạn chế. Mỗi số phát hành
không bao giờ quá một hay hai nghìn bản, ấy thế mà bán không
hết.
b) Vì thái độ lừng chừng, vì không có chương trình cụ thể,
không có kế hoạch rõ ràng, không có khuynh hướng mạnh dạn,
nên mấy tờ báo ấy không thu hút được cảm tình của dân
chúng. Họ ngả nghiêng, hay đúng hơn, lơ lửng giữa dân chúng
mà họ không gần gũi được và những kẻ thống trị không ưa
họ.
c) Nhà nước thuộc địa cố tâm phá phách họ. Họ bị phá
bằng nhiều cách. Sau đây là những cách thông thường nhất:
1. Nhà nước báo cho công chức và nhân viên người bản xứ
biết rằng cấp trên đã coi những tờ báo ấy như làm cách
mạng, rằng những người nào đọc những báo đó sẽ bị ghi
danh sách riêng, và dĩ nhiên là bản danh sách ấy sẽ đính theo
báo cáo thǎng hay giáng chức.
Có nhiều công chức đã bị bắt buộc phải đổi đi chỗ khác
hay bị bắt về hưu chỉ vì đã vi phạm những điều rǎn đe
ấy.
2. Đối với những độc giả không phải là công chức (tôi
nói không phải là công chức chứ không nói tự do, vì ở đất
nước chúng tôi không ai được tự do cả, trừ bọn xỏ lá ba
que ra) thì viên quan cai trị cho gọi họ đến bàn giấy, ân
cần khuyên bảo họ điều hơn lẽ thiệt. Nếu họ không biết
nghe những lời khuyên tử tế ấy, thì họ bị cảnh sát theo
dõi. Và cứ mười lần thì có đến chín, báo chí và thư từ
của họ bị thất lạc như bị phép thần. Chính phủ hãy tạm
vui lòng như thế trong lúc chờ đợi cơ hội để tóm cổ họ
vì lẽ này hay lẽ khác.
3. Chính phủ cho bọn chủ nhà in lựa chọn nên làm việc cho
một tờ báo "tin vịt không biết điều" được ít tiền, hay
nên nhận in cho Nhà nước được lợi lộc và bảo đảm hơn
nhiều.
Vì thế, một tờ báo ở Sài Gòn đã buộc phải đổi chủ in
nhiều lần trong một tháng.
4. Chính phủ vi phạm quyền tự do thư tín, ngay cả thư
riêng của các ký giả. Những người này bị "ghi" vào sổ đen,
bị theo dõi, dò la, do thám và vu cáo. Chính phủ dùng cả áp
lực đối với gia đình, bà con thân thuộc và bè bạn họ
nữa. Chỉ nhờ địa vị có làng Tây và nhờ mánh khoé khôn
khéo kết thúc mọi bình luận bằng cách nịnh hót tâng bốc
hết mức nước mẹ bảo hộ, nhân từ, thiêng liêng, v.v. mà
họ thoát khỏi đi tù.
Báo chí bản xứ bằng tiếng Pháp bị phá phách như vậy đấy.
Những hành vi bất hợp pháp của lối trị an đê hèn ấy còn
được tǎng cường và bổ sung thêm bằng những điều lệ pháp
lý như thế này: "Mọi việc trưng bày hay gửi đi nơi khác
những bài hát, bức hoạ hay tranh ảnh trái đạo tôn kính đối
với các vị đại diện của Nhà nước, sẽ bị trừng phạt
bao nhiêu tháng tù và phạt tiền bao nhiêu phrǎng đó, v.v.".
Chưa hết đâu. Nền vǎn minh của thực dân đã dùng ngọn
đuốc cổ truyền thủ tiêu đến chút tự do cuối cùng của
người bản xứ. Đã làm cho người bản xứ phải đần độn
và câm, chúng vẫn chưa vừa lòng; chúng còn muốn họ phải
điếc nữa kia. Chúng bịt tai họ không cho họ nghe tiếng vang
của những biến cố bên ngoài. Chỉ đơn giản bằng một nét
bút, chúng đình chỉ hẳn đời sống tinh thần của cả một
dân tộc. Cũng sắc lệnh vừa kể trên định rằng: "Sự lưu
hành báo và tạp chí bất cứ bằng tiếng gì, có thể bị cấm
do một nghị định của quan toàn quyền". Các bạn có tin chắc
rằng quan toàn quyền nhân từ chẳng sơ suất gì mà không dùng
và lạm dụng quyền hành ấy. Báo chí bằng tiếng Pháp, xuất
bản ở Pari, gửi sang đều bị tịch thu ở Đông Dương. Sở
bưu chính, sở mật thám và các cơ quan hành chính cùng nhau làm
nhiệm vụ đê hèn ấy. Và người ta doạ trừng phạt những
người có tên nhận những tờ báo ấy. Người ta cấm ngặt
không cho đọc báo Nhật và Trung Quốc. Giữ một tờ tạp chí,
một quyển sách Trung Quốc nào đó có thể là một trọng tội
đối với người An Nam. Tôi biết nhiều nhà vǎn thân bị kết
án khổ sai chung thân vì đã đọc tạp chí Trung Quốc hồn, ẩm
bǎng và những bài cùng loại ấy của các nhà duy tân Trung
Quốc. Nǎm 1920, có nhiều người An Nam ở Bắc Kỳ bị kết án
từ hai đến nǎm nǎm tù, chỉ vì một người đã làm thơ ca
tụng tự do và các người khác đã nghe ngâm bài thơ ấy.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20120926/ho-chi-minh-bao-chi), một số
đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc
giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận
có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng
dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét