Để có thể định nghĩa thế nào là toàn trị thường người
ta phải viết cả một tập sách lý thuyết dầy về cấu trúc
chính quyền, xã hội của một nhà nước toàn trị. Đó là
một công việc cực nhọc nhưng lại hay không được đánh giá
cao, bởi vì ngoài việc những cuốn sách đó luôn là quá khó
hiểu đối với những người bình thường không có hiểu biết
nhiều về chính trị mà còn vì những định nghĩa mang tính hàn
lâm (về toàn trị) không thể chỉ ra được những đặc điểm
mang tính bản chất của chế độ toàn trị đó là tính phi
nhân tính của nó, sự nguy hiểm của nó đối với nhân loại,
mức độ sợ hãi và tuyệt vọng của người dân trong những
chế độ đó phải trải qua. Không những thế việc định
nghĩa hay xác định khái niệm về chế độ toàn trị thường
dễ trở nên rối rắm và phức tạp do thường được đem ra so
sánh với chế độ dân chủ tự do. Với cách tiếp cận kiểu
như vậy thường dẫn con người ta đến sự bế tắc. Sự khác
biệt là quá lớn đến độ mọi sự so sánh sẽ dẫn đến
đơn giản hoá, bóp méo, và dẫn tới kết luận "như nhau về
mặt đạo lý" mà có thể tóm tắt bằng kiểu lập luận
thông thường như thế này:"Bọn chúng là quân ăn thịt, nhưng
chúng ta cũng có phải những người ăn chay ngoan đạo đâu?".
Cách tiếp cận tốt hơn để định nghĩa một chế độ toàn
trị là so sánh nó với một chế độ độc tài thông thường
(authoritarianism - ND). Mặc dù sự khác biệt vẫn rất lớn,
nhưng có lẽ dễ chấp nhận và nắm bắt hơn. Lấy ví dụ,
dưới một số chế độ độc tài thông thường (như độc tài
quân sự –ND), công đoàn bị cấm hoạt động và đó là việc
vi phạm quyền tự do lập hội đoàn của công dân. Trong những
chế độ toàn trị thì còn tệ hơn nữa, họ luôn có 100% công
nhân tham gia công đoàn, nhưng công đoàn chỉ là "cánh tay nối
dài" của Đảng nhằm kiểm soát chặt chẽ gắt gao lực
lượng lao động và ngăn cản không cho những hoạt động công
đoàn nghiêm chỉnh và chính đáng diễn ra. Điều đó có nghĩa
là đối với bất kỳ ai muốn đứng ra đấu tranh nhằm bảo
vệ quyền lợi của công nhân, họ không những phải đối mặt
với chủ lao động, mà bản thân việc này đã là khó rồi, mà
còn phải đối đầu với một tổ chức khổng lồ những kẻ
mánh khoé chuyên nghiệp và có trong tay quyền lực không giới
hạn. Nhưng nếu chúng ta tiếp cận bằng cách so sánh "công
đoàn" trong các chế độ toàn trị với công đoàn trong các
chế độ dân chủ tự do, thì sự khác biệt sẽ bị xoá nhoà
và đánh lạc hướng bởi một loạt so sánh chi tiết về cấu
trúc, thủ tục,… dễ gây khó hiểu, khó nắm bắt cho những
người không có chuyên môn. Hệ quả của việc so sánh "thấy
cây không thấy rừng" như vậy dễ dẫn đến một cảm
tưởng sai lầm là cả hai hệ thông công đoàn đều giống nhau,
và nếu có khác gì thì là chế độ toàn trị không giống như
các chế độ độc tài thông thường ở điểm nó cho phép công
đoàn hoạt động.
Điều tương tự như vậy cũng xảy ra nếu chúng ta so sánh bất
cứ tổ chức, xã hội nào trong chế độ toàn trị với những
bộ phận "tương ứng" trong các chế độ tự do dân chủ.
Chính vì vậy chế độ toàn trị có thể xem là chế độ độc
tài mà đã tiến thêm một bước dài trên con đường độc
tài. Thay vì đóng cửa, xoá bỏ những tổ chức xã hội dân
sự (như đối với một số chế độ độc tài quân sự –
ND), chế độ toàn trị thay thế chúng bằng các tổ chức xã
hội dân sự giả hiệu có vẻ giống như trong các chế độ
tự do dân chủ, nhằm ngăn cản bất cứ một hành động độc
lập nào ngoài vòng kiểm soát của Đảng trong xã hội. Chính
vì thế chế độ độc tài toàn trị còn tồi tệ và độc tài
hơn rất nhiều so với những chế độ độc tài thông thường.
Không giống như những chế độ độc tài thông thường, chế
độ độc tài toàn trị luôn kiểm soát mọi mặt của cuộc
sống trong xã hội. Nó không những buộc con người trong chế
độ phải sống như những nô lệ (của nhà nước toàn trị
–ND) mà còn buộc họ phải sống thường xuyên trong những sự
giả dối. Trên hết nó làm cho toàn xã hội băng hoại đến
mức độ việc quay trở lại với tự do và dân chủ là gần
như không thể.
Quả vậy, trong khi chưa có một chế độ độc tài toàn trị
nào chuyển đổi trong hoà bình sang dân chủ (trừ phi do có sự
can thiệp và chiếm đóng quân sự của nước ngoài), rất
nhiều các chế độ độc tài thông thường đã làm được như
vậy trong vòng mười, mười lăm năm qua. Hơn nữa sự chuyển
đổi từ độc tài sang dân chủ ở các nước này thường
diễn ra rất nhẹ nhàng, nhanh chóng và hoà bình, thường bắt
đầu bằng cái chết của nhà độc tài (như ở Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha), hay bằng một cuộc đảo chính (ở Paraguay), hoặc do
không thể đàn áp nổi lực lượng đối lập (ở Philipine), do
sức ép của cộng đồng quốc tế (Nam Triều Tiên, Chilê),
thậm chí đôi khi do chính những nhà độc tài tự nguyện từ
bỏ quyền lực độc tài của mình (như ở Thổ Nhĩ Kỳ,
Achentina). Nhưng đối với những quốc gia toàn trị, những
chuyện trên hoàn toàn không thể xảy ra. Lãnh tụ tối cao chết
(diễn ra thường xuyên) hay bị hạ bệ, nhưng hệ thống chính
trị vẫn không đổi, vẫn sẵn sàng nghiền nát mọi sự đối
lập, chống đối với mức độ tàn bạo vốn có. Các chế
độ toàn trị không những không chịu sức ép quốc tế mà
thậm chí còn được ủng hộ, được đối xử đặc biệt
bởi các nước tự do dân chủ. Chẳng có một quốc gia tự do
dân chủ nào dám áp đặt sức ép lên chế độ toàn trị ở
quốc gia láng giềng của mình.
Phần lớn trong những xã hội độc tài chuyển sang dân chủ
kể trên, những ảnh hưởng của thời gian nằm dưới chế
độ độc tài còn tồn tại, kéo dài hàng năm, thậm chí hàng
thập kỷ. Như Plato đã nói mọi chế độ dân chủ đều có
mầm mống độc tài và mọi chế độ độc tài đều có mầm
mống dân chủ. Bởi độc tài và dân chủ đều là sản phẩm
của văn minh nhân loại.
Nhưng điều đó có lẽ không đúng lắm đối với một chế
độ độc tài toàn trị. Cái xã hội orwen (Orwen là nhà văn Anh
có những kiệt tác văn học về các chế độ toàn trị như
Animal Farm, 1984 – ND) đó được xây dựng trên nền tảng một
học thuyết, như một thứ tôn giáo, được cài đặt vào mọi
tế bào trong cấu trúc xã hội. Cho dù đến lúc mà cả xã hội
không còn ai tin tưởng vào cái học thuyết ấy nữa, thì hệ
thống chính trị của nó vẫn tồn tại cho đến khi nó vắt
cạn của xã hội "toàn bộ của cải, tài nguyên, đất đai,
và nguồn lực" (1)
<h2>I. Xem xét dưới góc độ chính trị</h2>
Với những sự kiện diễn ra trong thập kỷ qua, không nghi ngờ
gì nữa chúng ta đang chứng kiến ngày tàn của các chế độ
xã hội chủ nghĩa, các chế độ toàn trị được xây dựng
trên công thức "chủ nghĩa xã hội khoa học" này đang đi
vào cơn khủng hoảng. Bản thân khái niệm "chủ nghĩa xã hội
khoa học" đã là khái niệm gây tranh cãi, phản khoa học ngay
từ đầu thế kỷ này, nó cũng chỉ như những giấc mơ Utopia
khác của nhân loại (Utopia là xã hội lý tưởng trong tác phẩm
cùng tên của Sir Thomas Moore ở thế kỷ 16. Trong lịch sử
triết học của nhân loại trường phái dựa vào các xã hội
lý tưởng (utopia dream) gồm có Plato (Utopia là xã hội Athen cổ
đại), Khổng Tử (Utopia của ông là xã hội nhà Chu (đời Chu
Công)), và Marx –Angel (Utopia là "chủ nghĩa xã hội khoa
học")… – ND). Những kết quả của khoa học tự nhiên hiện
đại về Gene và Thần kinh học đã chứng minh rằng việc tạo
ra những "con người mới" hoàn hảo bằng cách tạo ra môi
trường sống hoàn hảo là không thể, những kết quả mà Stalin
đã phải gọi là "khoa học dởm của bọn tư bản". Trái
ngược với lý thuyết Marxit, hệ thống "lao động tập
thể" đã tỏ ra vô cùng kém hiệu quả so với hệ thống lao
động khuyến khích cá nhân. Ngay từ những năm 50 của thế
kỷ, những dự đoán về "chủ nghĩa xã hội khoa học" đều
đã sai, trong khi việc "tư bản dãy chết trên toàn thế
giới" vẫn chưa thấy xảy ra.
Mặc dù vậy hệ thống xã hội toàn trị vẫn còn tiếp tục
tồn tại và gây ảnh hưởng. Những động lực bên trong, sự
thiếu hụt cơ chế kiểm soát ngược (trừ cơ chế tự động
đàn áp đối lập), sự bám chắc lấy quyền lợi của tầng
lớp thống trị, vẫn giữ cho chúng tiếp tục hiện diện.
Tuyên truyền thay thế cho những thành tựu, cưỡng bức thay
thế cho niềm tin, sự sợ hãi và lãnh cảm thay thế cho những
nhiệt tình cách mạng. Về mặt đối nội, hầu như không thể
có sự thách thức đáng kể từ phía nhân dân vì nhà nước
toàn trị quá mạnh mẽ và tàn bạo. Về mặt đối ngoại các
nhà nước toàn trị nhận được sự cảm thông về mặt tư
tưởng và nỗi ám ảnh chiến tranh hạt nhân giúp chúng không
bị thách thức trên trường quốc tế.
Tuy nhiên có hai yếu tố sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chế
độ toàn trị đó là sự hữu hạn của tài nguyên trong nước
và gánh nặng cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng. Cho dù các
chế độ toàn trị có cố tỏ ra hiền từ đến bao nhiêu đi
nữa thi sự tồn tại các chế độ dân chủ phú cường và
khả năng tự bảo vệ của họ sau chiến tranh cũng đã là
thách thức đáng kể cho việc giành quyền bá chủ thế giới
của hệ thống toàn trị độc tài. Thêm vào đó, sự mở rộng
ảnh hưởng của các chế độ toàn trị ra thế giới thứ ba
tạo ra những quốc gia sản xuất không hiệu quả (theo lối XHCN
–ND), không thể tồn tại nếu không có sự trợ giúp từ các
quốc gia lớn hơn trong hệ thống toàn trị. Tất cả những chi
phí để trợ giúp các nước toàn trị nghèo hơn cộng với
những sự lãng phí ghê gớm của những nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa tại nội địa cuối cùng cũng đã làm cạn kiệt
tài nguyên của thế giới toàn trị. Hệ thống toàn trị không
còn có thể tồn tại theo dạng truyền thống để mà "một
mình thực hiện nhiệm vụ lịch sử cao cả là giải phóng nhân
loại khỏi bóng đêm tư bản" được nữa.
Một điều đáng chú ý ở đây là sự khủng hoảng của chủ
nghĩa toàn trị trùng hợp với sự hồi sinh kinh tế của thế
giới phương Tây và điều đó lại càng làm cho tuyên bố về
"sự dẫy chết của tư bản" khó xảy ra. Hơn thế nữa sự
hồi phục kinh tế này lại đạt được nhờ biết đảo
ngược các xu thế xã hội chủ nghĩa trong lòng các nước này
bằng việc thắt chặt chính sách quản lý tiền tệ, giảm
thuế thu nhập, tư hữu hoá một loạt các ngành công nghiệp mà
trước đó còn là công hữu, cũng như đưa ra những biện pháp
nhằm giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của nhà nước lên
nền kinh tế. Sự thành công đáng kể của đường lối phục
hồi kinh tế này của một số quốc gia tư bản phương Tây là
sức lôi cuốn khó cưỡng lại đối với những nước khác.
Thậm chí ngay tại những quốc gia như Pháp, Australia, New Zealand,
những nơi mà các đảng dân chủ xã hội đang nắm quyền, họ
vẫn buộc phải từ bỏ những nguyên lý xã hội chủ nghĩa và
tiến hành những chính sách tương tự nhằm giữ được sức
cạnh tranh trên trường quốc tế.
Thật không có gì ngạc nhiên khi các chế độ toàn trị – nơi
mà chủ nghĩa xã hội không những chỉ là một lý tưởng mà
còn được thể hiện vào từng cấu trúc nhỏ của xã hội –
chính là những kẻ bại trận thảm hại nhất. Đột nhiên
khoảng cách giữa họ với các nước phát triển trở nên
khổng lồ. Trong khi các nước phát triển đang đi vào giai
đoạn phát triển hậu công nghiệp thì những quốc gia toàn
trị vẫn còn đang phải vật lộn để hoàn thành giai đoạn
công nghiệp hoá. Trong khi nền kinh tế của thế giới tự do
đang mở rộng, thì nền kinh tế của những quốc gia toàn trị
trao đảo, chẳng còn tài nguyên thiên nhiên và con người cho
họ thực hiện những bước "đại nhảy vọt" nữa. Do đó
có thể tóm tắt lại rằng sự lựa chọn hiện nay đối với
những chế độ toàn trị chỉ còn bó hẹp lại hai đó là:
hoặc là phải tự thay đổi hoặc là bị sụp đổ. Thế cho
nên không có gì là lạ khi phần lớn trong số đó đang tiến
hành cải cách, tái cấu trúc, tái hiệu chỉnh.
Mặc dù vậy không rõ là những kẻ cai trị ở các chế độ
toàn trị đã hiểu được hoàn toàn sự khủng hoảng này chưa
và sẽ sẵn sàng cải cách, thay đổi đến mức nào. Như chúng
ta đã biết một vài quốc gia toàn trị đã bắt đầu quá
trình này khá sớm so với những quốc gia khác và đến lúc này
đã tiến được xa hơn. Ví dụ như Hungary, Nam Tư, Ba Lan đã
phá bỏ chế độ hợp tác xã từ những năm 50, trong khi đó
sự chấm dứt của các công xã ở Trung Quốc chỉ diễn ra sau
cái chết của Mao, còn Liên Xô hiện nay mới đang dự tính phá
bỏ các nông trang. Tuy nhiên ngay ở các nước Đông Âu hiện
nay, ngoại trừ Hungary, các đảng CS nắm quyền vẫn chưa đánh
giá hết được mức độ khủng hoảng của hệ thống chính
trị toàn trị, vẫn cố nắm vững quyền lực và bắt mọi
cải cách phải vào cái "khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội"
(giống như cụm từ "định hướng XHCN" –ND). Tại Đông
đức, sự phản kháng của công chúng đã giúp lật nhào một
chế độ toàn trị cứng rắn và bảo thủ. Trong khi đó Liên
Xô và Trung Quốc vẫn hy vọng rằng chế độ có thể tiếp
tục tồn tại với những hiệu chỉnh bên trong, nhất là Trung
Quốc sau sự kiện Thiên An Môn đang cố củng cố thành luỹ.
Mô hình cải cách ở Liên Xô và Trung Quốc hoàn toàn bỏ qua
những bài học thực tế ở Đông Âu, mô hình Đông Âu đã
từng được thử và thất bại dẫn đến hai nước này phải
tiến hành những cải cách cơ bản hơn với tốc độ mỗi
nước khác nhau.
Thật mỉa mai, ngay cả khi lực lượng đối lập đủ mạnh như
ở Balan, cũng chấp nhận theo "khuôn khổ chủ nghĩa xã hội"
và do đó đánh mất tư cách là một lực lượng chính trị
thực sự có thể đưa ra một con đường đi hoàn toàn mới. Cho
dù đây chỉ là chiến thuật "lùi một bước tiến hai
bước" của lực lượng đối lập hay thực sự họ tin vào
một "loại chủ nghĩa xã hội khác" thì kết cục cũng
giống nhau mà thôi. Một lực lượng đối lập mà thay vì đưa
ra một con đường mới đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng
lại chỉ cố gắng giành quyền lực từ một chính quyền thối
nát đã mất hết lòng tin của nhân dân thì sớm hay muộn cũng
sẽ đánh mất lòng tin của nhân dân (điều này thì tác giả
đã đoán đúng vì Công đoàn đoàn kết hiện đã thất bại và
mất quyền ở Balan –ND). Những kiểu lực lượng đối lập
như vậy có lẽ chỉ có tác dụng để đối lập với sự
độc quyền lãnh đạo của đảng toàn trị hơn là niềm hy
vọng của nhân dân.
Chính vì vậy tình hình Balan hiện nay cho thấy cả hai phía cùng
đang rất thoả mãn với vai trò mới của mình trong cuộc mua
bán mặc cả. Những người cộng sản, những người rõ ràng
không còn có thể độc quyền cai trị được nữa, thì cho
rằng họ đã tìm ra một lối thoát lý tưởng để có thể
vẫn giữ được quyền lực của mình mà không phải dùng đến
quân đội để đàn áp bằng cách tham gia làm đối tác cao cấp
trong công ty với 65 phần trăm cổ phiếu trong tay; trong khi đó
phe đối lập nghĩ rằng họ có thể làm quyền lực của đảng
cộng sản giảm dần cho đến độ nó chỉ còn là hình thức
và lúc đó sẽ giải thể chủ nghĩa xã hội mà không cần
phải đối đầu với chính quyền và do đó không phải đổ
máu.
Quá để ý đến đối tác của mình nên cả hai bên đều không
thèm để ý đến câu trả lời cho những câu hỏi: thái độ
của người dân đối với hợp đồng của họ là như thế
nào? Liệu những người dân có đáp ứng lại bằng việc
nhiệt tình tăng năng xuất sản xuất và hiện đại hoá nền
kinh tế mà không lo lắng đến cuộc sống trước mắt? trong khi
cả thế giới đang vỗ tay với những gì gọi là "cách mạng
nhung" diễn ra ở Balan thì không ai hỏi liệu thoả ước mới
giữa hai bên này là một lời giải hay chỉ là kéo dài cơn
đau?
Những "thoả thuận bàn tròn" vừa được ký, người dân
đã phản đối nó. Hậu quả là chúng ta phải chứng kiến một
tình huống chưa từng có trong lịch sử nhân loại: Bên đối
lập đang thắng cuộc phải đi thuyết phục quần chúng đang
ngại ngùng để bỏ phiếu cho bên chính quyền đang thua để
tránh không giành chiến thắng. Liệu chúng ta có thể tưởng
tượng ra hài kịch tương tự diễn ra trong những cuộc bầu
cử có Marcos ở Philipine hay những cuộc trưng cầu dân ý ở
Chile? Liệu những động thái kiểu như vậy của phe đối lập
mà diễn ra ở các quốc gia trên thì thế giới có vỗ tay?
Tình huống còn có thể xấu hơn nữa: người dân Balan sẽ bầy
tỏ sự khinh thị của mình với bản hợp đồng giữa phe đối
lập và chính quyền cộng sản. Sự suy sụp và khủng hoảng
về kinh tế sẽ dẫn đến những làn sóng đình công và lộn
xộn. Liệu lúc đó công đoàn đoàn kết có tay trong tay với
cảnh sát để "làm cho công nhân bình tĩnh trở lại" hay họ
lại tham dự vào phong trào đấu tranh của công nhân và do đó
mất quyền lãnh đạo chính phủ? Tóm lại, bằng việc ký
"thoả thuận bàn tròn" với chính phủ công đoàn đoàn kết
đã tự đưa mình vào tính huống không thể thắng; do đó trong
tương lai không xa công đoàn đoàn kết sẽ bị mất uy tín đã
được gây dựng của mình hoặc sẽ phải đối mặt trực
diện với những người cộng sản theo cái cách mà ngay từ
đầu họ đã muốn tránh.
Mặc dù có cố tỏ ra thật lạc quan, tôi vẫn phải cho rằng
kịch bản đáng buồn này sẽ có nhiều khả năng xảy ra (thực
tế đã xảy ra đúng như tác giả dự báo –ND). Tháo dỡ chế
độ xã hội chủ nghĩa không phải là một việc đơn giản và
dễ dàng. Magret Thatcher đã phải mất 10 năm để làm được
điều đó ở Anh quốc, cho dù chủ nghĩa xã hội ở đó chưa
bám rễ sâu như ở các nước Đông Âu. Ngay cả như thế, quá
trình diễn ra ở Anh quốc cũng khá trắc trở, lúc đầu nó làm
cho nhiều người dân hết sức khó chịu, và nhiệm vụ này
vẫn còn đang phải tiếp diễn. Dó đó nếu quá trình này diễn
ra ở các nước xã hội chủ nghĩa thuần tuý, thì những gì mà
người dân phải chịu đựng còn kinh khủng hơn gấp nhiều
lần. Quá trình thoát khỏi chủ nghĩa xã hội càng diễn ra từ
từ, xã hội càng phải chịu đựng nhiều hơn. Hơn nữa, như
kinh nghiệm của Hungary cho thấy, cải cách càng từ từ, mức
độ thành công càng thấp. Do đó sự chuyển đổi thoát khỏi
chủ nghĩa xã hội càng diễn ra chậm rãi bao nhiêu, kết quả
kinh tế càng thấp và sự phản kháng của xã hội càng cao bấy
nhiêu. Điều này đặc biệt đúng với Liên Xô, nơi tình hình
tồi tệ hơn các nước Đông Âu rất nhiều, đối với họ
không còn thời gian cho những thử nghiệm và lần mò nữa.
Nếu như người dân Anh quốc sẵn sàng chấp nhận một giai
đoạn khó khăn trong lúc tháo dỡ chủ nghĩa xã hội, thông qua
một cuộc bầu cử tự do, dân chủ và công bằng, và sau đó
cùng nhau bình thản đón chờ khó khăn, thì sự khó khăn do một
chính phủ cộng sản bị căm ghét áp đặt lên toàn xã hội,
không bao giờ được toàn xã hội xem như là một loại
"thuốc đắng giã tật" họ giành cho mình, ngay cả khi điều
đó được phe đối lập ủng hộ. Một đảng đã đè nén, bóc
lột người dân đến hàng thập kỷ (và cuối cùng cũng chính
vì họ mà có sự khủng hoảng) không còn đáng được người
dân tin cậy nữa. Đặc biệt người ta không thể mong những
nhà tư sản, những nhà thầu khoán, đối tượng bị công kích
và đàn áp ghê nhất của những người cộng sản trong thời
gian họ nắm quyền, và là những thành phần đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế – lại có thể bắt đầu
đẻ những quả trứng vàng vào cái tổ của cộng sản. Những
người dân Xôviết hiện nay hẳn không thể quên được số
phận của những người đã tin vào những khẩu hiệu của
chính quyền cộng sản trong những năm 20 để "tự làm giầu
bản thân", để trở thành những chủ nông trại, những nhà
kinh doanh tư sản. Hàng triệu người trong số đó đã kết thúc
cuộc đời của mình trong những trại tập trung ở Siberia sau
khi chính sách tân kinh tế (NEP) bị Stalin đóng cửa (xem thêm
cuốn Sách Đen Chủ Nghĩa Cộng Sản – Phần về Liên Xô - ND).
Những kinh nghiệm kiểu như vậy cũng đã lặp đi lặp lại
nhiều lần tại các nước đông Âu, các chính quyền cộng sản
nhanh chóng chấm dứt các sở hữu tư nhân. Do đó, như lãnh
đạo đảng cộng sản Hungary Imre Pozegay phát biểu gần đây,
hệ thống cộng sản không thể chuyển đổi được mà chỉ có
thể bị giải tán.(2)
Tuy nhiên kết luận này thậm chí được coi là không thể chấp
nhận được ngay cả ở Vaxava chứ đừng nói đến ở Maxcơva
hay Bắc Kinh. Đảng cộng sản cầm quyền, như ta vẫn thấy ở
Trung quốc trong mùa xuân năm nay, vẫn sẵn sàng giết chóc và
đàn áp "vì chủ nghĩa xã hội" (hay vì để cố nắm vững
lấy quyền lực độc tôn – cũng vậy cả thôi). Và tất nhiên
họ có lý khi làm việc đó, bởi cái "giai cấp mới" (từ
của Milovan Djilas) này ngay từ khi ra đời đã phạm không biết
bao nhiêu tội ác với dân tộc và một khi không còn quyền lực
trong tay họ sẽ bị nhân dân đưa ra toà để phán xét. Hiếm
có một gia đình nào dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mà
không bị ảnh hưởng bởi sự đàn áp từ phía đảng cộng
sản nắm quyền qua các giai đoạn lịch sử, sự thù hận trong
các xã hội xã hội chủ nghĩa chất cao như núi. Giai cấp
thống trị ở các nước này dĩ nhiên không có con đường nào
khác là phải bằng mọi giá bám vào quyền lực và để làm
như vậy họ lại càng tạo ra thêm tội ác.
Cũng chính vì vậy mà các lực lượng đối lập ở các nước
xã hội chủ nghĩa thường không giám kêu gọi đối đầu trực
diện với chính quyền hay đứng lên làm cách mạng. Không
giống như trong một chế độ độc tài thông thường, nơi mà
nhóm thống trị chỉ là một dúm người, chế độ độc tài
toàn trị tạo ra hẳn một giai cấp những kẻ thống trị. Tại
Liên Xô, Gorbachov đã ước tính số lượng thành viên của
đẳng cấp quan liêu này là 18 triệu, kèm theo một bộ máy đàn
áp khổng lồ. Người ta có thể đầy Ferdinan Marcos (nhà độc
tài của Philipine – ND) và mấy cận thần của ông ta ra Hawai,
hay tống ngục mấy viên tướng độc tài ở Achetina, nhưng 18
triệu người thì biết đuổi đi đâu? và hãy luôn nhớ rằng
18 triệu con người đó sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ
mạng sống và đặc quyền, đặc lợi của mình. Cho nên một
cuộc cách mạng nếu nổ ra ở một chế độ toàn trị thì
kết quả sẽ là cái gì nếu không phải là một bể máu?
Vì vậy một sự dịch chuyển dễ dàng và êm thấm từ toàn
trị sang dân chủ là điều gần như không thể xảy ra. Bởi vì
chế độ toàn trị đã tái cấu trúc lại toàn bộ xã hội
đến từng chi tiết theo hệ tư tưởng của mình, nó đã thay
thế tất cả những tổ chức chính quyền và xã hội bằng
những tổ chức giả hiệu. Bằng việc làm đó nó đã tạo ra
cả một giai cấp những kẻ tổ chức, giám sát, và cai trị
chuyên nghiệp nhưng không có khả năng làm việc gì khác (có
nghĩa là chỉ biết làm chính trị, làm công tác đảng hay hội
đoàn (của đảng) mà không hề biết làm chuyên môn – ND).
Những kẻ này không chỉ gắn với chế độ toàn trị do những
đặc quyền đặc lợi mà nó đem lại cho họ mà còn bởi vì
chính mạng sống của họ gắn liền với sự tồn vong của
chế độ do chế độ toàn trị thường kéo cả một bộ phận
con người trong xã hội cùng tham gia vào các hoạt động tội
ác của nó. Trong các nước cộng sản, cũng giống như trong tác
phẩm "những kẻ bị ma ám" của đại văn hào Dotoievski,
một công nghệ xã hội phức tạp ("đấu tranh giai cấp")
được xử dụng để gắn giai cấp thống trị vào cái vòng
sinh sát. Những kẻ cai trị ngoài việc "quản lý nhà nước
bằng các mệnh lệnh" ra không biết cách quản lý nào khác
thực sự đã trở thành trở ngại của sự tiến bộ của xã
hội, nhưng vẫn là một lực lượng mạnh không dễ gì bị
tước bỏ quyền lực. Họ là nhà nước trong nhà nước, họ
như là lực lượng chiếm đóng nhưng lại không thể bị lật
đổ bằng đảo chính hay bị buộc phải thoái lui vì họ chẳng
có chỗ nào mà lui cả. Trong kỷ nguyên của vũ khí nguyên tử,
khó có thể tưởng tượng được sự chiếm đóng của lực
lượng ngoại bang đối với các quốc gia toàn trị (như
trường hợp Đức quốc xã -ND), do đó chế độ toàn trị chỉ
có thể bị sụp đổ hoàn toàn bằng một cuộc nội chiến hay
sự sụp đổ của nền kinh tế (hoặc cả hai). Một lực
lượng đối lập có tổ chức tốt và đủ mạnh có thể giúp
giảm thiểu bạo lực, nhưng những lực lượng đối lập như
thế khó có thể tồn tại trước sức mạnh của các chế độ
toàn trị.
Tuy thế, tôi cũng phải thừa nhận rằng có những điểm khác
biệt giữa các chế độ toàn trị đang tồn tại và sự khác
biệt này có thể sẽ đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn
cuối của cuộc khủng hoảng. Vì vậy Hungary sẽ có cơ hội
để chuyển sang dân chủ một cách êm thấm và hoà bình hơn so
với các nước khác vì ít nhất ba lý do sau đây. Thứ nhất
chế độ cộng sản ở đây, trong vòng 30 năm qua, có tự do hơn
so với các nước khác; do đó giai cấp thống trị ở đó –
những người không dính tay nhiều vào các cuộc đàn áp – có
thể buớc xuống khỏi vũ đài chính trị mà không sợ bị nhân
dân đưa ra toà. Lý do thứ hai là khi cơn khủng hoảng ập đến
đối với các chế độ toàn trị, thì Hungary đã tiến trước
các nước khác từ rất lâu trong việc cải cách nền kinh tế
và tháo dỡ chủ nghĩa xã hội. Lý do thứ ba là dường như giai
cấp thống trị tại Hungary nhận thức được mức độ của
cuộc khủng hoảng hiện tại và chấp nhận khả năng nhường
lại quyền lực.
Các nước Đông Âu nói chung sẽ có cơ hội phục hồi tốt hơn
so với Liên Xô. Không hẳn bởi họ thực hiện cải cách kinh
tế trước Liên Xô mà do họ đến với chủ nghĩa xã hội
chậm hơn nhiều so với Liên Xô và chưa tiến quá xa trên con
đường chủ nghĩa xã hội như Liên Xô, đặc biệt là trong
lĩnh vực nông nghiệp. Hơn thế nữa sự thù hận đối với
cộng sản và chủ nghĩa cộng sản ở đó thấp hơn nhiều so
với ở Liên Xô, bởi đối với họ xét cho cùng chủ nghĩa xã
hội là do "người Nga" mang đến. Tuy vậy, nếu ai đó hy
vọng sự sụp đổ nhanh chóng của chế độ cộng sản sau cái
chết của "học thuyết Bredơnhev" thì họ có lý do để
thất vọng. Chỉ cần nhìn vào Afganistan sau khi quân Liên Xô đã
rút hết cũng có thể thấy tầm quan trọng của cái "giai cấp
mới" kia trong chế độ toàn trị là như thế nào. Sự khác
biệt giữa một quốc gia truyền thống và một quốc gia cộng
sản là vô cùng lớn, cũng giống như sự khác biệt giữa độc
tài toàn trị và độc tài thông thường, giữa chiếm đóng và
tự chiếm đóng vậy. Điểm mấu chốt ở đây không phải là
ai đã mang chủ nghĩa cộng sản hay bằng cách nào mà nó vào
được một quốc gia, một khi nó đã cắm rễ ở đó. Cho dù
đã có rất nhiều đổi thay gần đây trong các chế độ toàn
trị, quá trình chuyển đổi từ toàn trị sang dân chủ còn lâu
nữa mới được hoàn thành.
Không cần phải nói cũng có thể biết, sự dịch chuyển khó
khăn nhất sẽ diễn ra tại Liên Xô, cái nôi của chủ nghĩa xã
hội, nơi mà đã có ít nhất 3 thế hệ sinh ra và lớn lên
dưới sự cai trị của chế độ toàn trị. Những vấn đề
về sắc tộc sẽ càng làm cho vấn đề thêm phức tạp. Đất
nước này chậm chân hơn nhiều các quốc gia láng giềng trong
việc đổi mới kinh tế những đã tiến xa hơn rất nhiều trong
việc đàn áp. Nhưng ngay cả khi có một phép lạ xảy ra khiến
tất cả những người cộng sản biến mất hoàn toàn trong các
nước xã hội chủ nghĩa thì chúng ta cũng đừng ngây thơ mà
tin rằng khủng hoảng đã được giải quyết, bởi không như
một chế độ độc tài thông thường, chế độ toàn trị để
lại một xã hội tổn thương và biến dạng, một nền kinh tế
bị phá huỷ, những nguồn tài nguyên bị cạn kiệt, và một
sự thoái hoá tổng thể.
(còn tiếp)
__________________________
<em>Đây là Chương I (Totalitarianism in Crisis: Is there a smooth
transition to democracy?) của cuốn sác Chủ nghĩa toàn trị giữa
ngã ba đường (Totalitarianism at the crossroad) - Chủ biên Ellen
Frankel Paul (Giáo Sư chính trị học tại đại học Oxford), Nhà
xuất bản: New Brunswick, 1990).</em>
Nguồn: http://tgtn.net/diendan/index.php?showtopic=2656
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/14177), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét