"<em>Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.
Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được,
trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và
quyền mưu cầu hạnh phúc</em>".
"<em>Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và
luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi</em>".
Theo tư duy của Hồ Chí Minh, đó là những lời bất hủ về
tinh thần của nền cộng hòa, mà Người tiếp nhận được từ
bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Bản Tuyên
ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.
Những lời bất hủ ấy cũng đã được Hồ Chí Minh đưa vào
Việt Nam qua Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và
Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.
Với khát vọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
cho đất nước; ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học
hành, thoát khỏi áp bức bất công cho nhân dân, Hồ Chí Minh
cũng đã đến với chủ nghĩa "Tam dân": <em>Dân tộc độc
lập – Dân quyền tự do – Dân sinh hạnh phúc</em>, như đến
với những giá trị của tinh thần cộng hòa ở phương Đông.
Mục tiêu tối thượng là giải phóng thuộc địa từ tay thực
dân Pháp giành lại độc lập cho đất nước và lợi quyền cho
nhân dân, đã thúc đẩy Hồ Chí Minh đến với Lênin, qua bài
viết của Lênin về vấn đề thuộc địa. Vấn đề này, ở
khía cạnh giải phóng các dân tộc thuộc địa khỏi áp bức
bóc lột, bất công do đế quốc thực dân gây ra, thiết nghĩ
cũng không nằm ngoài tinh thần cộng hòa – là cái mà Hồ Chí
Minh cần tìm, chọn cho Việt Nam.
Tinh thần cộng hòa theo tư duy và hành động cách
mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với việc lựa chọn chính
thể cho Việt Nam sau khi giành được độc lập, bao gồm một
số nội dung cơ bản như:
<ul><li>Nền cộng hòa dân chủ.</li>
<li>Sứ mệnh và tầm nhìn của nền dân chủ cộng hòa ấy là:
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.</li>
<li>Tất cả quyền bính là của toàn thể nhân dân, không phân
biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Tất
cả quyền bính đó, được cụ thể hóa trong 11 điều (từ
điều 6 đến 16) của Hiến pháp năm 1946, đến nay vẫn còn
nguyên giá trị của tính thần cộng hòa, dân chủ.</li>
<li>Tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật –
ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa
xã hội, là cơ sở pháp quyền cho sự phát triển của khối
đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.</li></ul>
Trải qua trên 65 năm, Hiến pháp năm 1946 đã qua 3 lần sửa
đổi vào các năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Ba lần sửa đổi
đó, mà nhất là lần sửa đổi năm 1992 đã có khoảng cách
khác biệt khá xa với tinh thần cộng hòa, dân chủ mà Hiến
pháp năm 1946 đã chọn.
Hiến pháp năm 1992, chọn chế độ chính trị là xã
hội chủ nghĩa trong cụm từ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa thay
cho Dân chủ Cộng hòa của Hiến pháp 1946.
Vậy xã hội chủ nghĩa (XHCN) là gì mà vừa thay cho Cộng
hòa Dân chủ, lại vừa gắn kết với cộng hòa trong cụm từ
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa?
XHCN được đề cập ở đây là một hình thái xã hội
(xã hội XHCN), mà những người phát kiến ra nó đã đưa vào
đó những ý tưởng rất nhân văn, rất đáng được trân
trọng. Nhưng mô thức tổ chức vận hành của hình thái xã
hội XHCN cả trên góc độ lý thuyết lẫn thực tiễn, lại có
không ít những nội hàm không hợp lý, quá lạc hậu, nhất là
lạc hậu so với sự phát triển của xã hội hiện đại vốn
mang những đặc tính cơ bản đã được sàng lọc, lựa chọn
trong quá trình tiến hóa của lịch sử nhân loại, bao gồm kinh
tế thị trường, xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền.
Nền tảng chính trị tư tưởng và là kim chỉ nam của sự phát
kiến hình thái xã hội XHCN là học thuyết Mác – Lênin. Mà
với nhiều kết quả nghiên cứu, lý luận và tổng kết thực
tiễn cho biết – học thuyết Mác-Lênin có cái trước đúng nay
vẫn đúng, có cái trước đúng nay không còn phù hợp vì bối
cảnh xã hội đã có quá nhiều thay đổi, có cái trước và nay
đều không đúng. Đơn giản chỉ vì nó "<em>không phải là
một học thuyết đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy,
bất di bất dịch nào đó</em>", như cách nói của chính Lênin.
Vì thế, mô thức tổ chức xã hội XHCN, tự thân nó có nhiều
khuyết tật gây bất ổn cho hệ thống giải pháp phát triển
và hoàn thiện xã hội. Những khuyết tật gây bất ổn đó đã
và đang tồn tại gắn liền với một số đặc trưng cơ bản
như:
Tổ chức xã hội theo thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội. Coi
Nhà nước XHCN là Nhà nước chuyên chính vô sản và trên thực
tế đã không tránh khỏi tình trạng lấy vô sản chuyên chính
dân tộc đánh vào khối đại đoàn kết dân tộc.
Mô thức tổ chức và vận hành nền kinh tế bị chi
phối hầu như tuyệt đối bởi chế độ công hữu tư liệu
sản xuất (bao gồm cả ruộng đất) là nền tảng, kinh tế Nhà
nước là chủ đạo và phương thức kế hoạch hóa tập trung,
bao cấp thay cho phương thức thị trường. Chọn mô thức tổ
chức và vận hành như thế là không phù hợp với tinh thần
"lấy dân làm gốc", không khuyến khích và tạo điều kiện
cho việc phát triển mọi nguồn lực của dân từ khu vực dân
doanh.
Trong khi đó, khu vực kinh tế Nhà nước, nhất là các tổng
công ty và tập đoàn kinh tế lớn được quá nhiều ưu ái, giao
cho quá nhiều nguồn lực (cả nguồn lực cứng lẫn nguồn lực
mềm) vượt quá tầm quản lý (cả quản trị kinh doanh và quản
lý nhà nước), và hệ lụy khôn lường đã và đang đến là
vừa kinh doanh không hiệu quả, vừa làm vẩn đục môi trường
kinh doanh, tạo quá nhiều lỗ hổng cho cạnh tranh không lành
mạnh, gây lãng phí, thất thoát và tham nhũng vô phương cứu
chữa.
Đảng nắm quyền lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối
mọi mặt hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, xã
hội của đất nước, và trên thực tế quyền lãnh đạo đó
đã trở thành siêu quyền lực, (có nơi có lúc là Đảng trị
cộng với sùng bái cá nhân) đặt lên trên dân quyền và pháp
quyền. <span class="underlined-text">Sự hiện hữu của siêu quyền
lực như vậy, không phù hợp với tinh thần đề cao dân chủ
và thượng tôn pháp luật</span>. Tập trung thái quá quyền lãnh
đạo của Đảng làm cho Đảng bị tha hóa và cũng làm cho các
bộ phận quyền lực khác của hệ thống chính trị nói riêng
và toàn xã hội nói chung (bao gồm quyền của người dân và
công dân) bị vô hiệu hóa, trở thành hữu danh vô thực. Hệ
lụy đã và đang đến là, đã mất quyền thì cũng mất luôn
trách nhiệm xã hội, khiến cho xã hội không có người làm
chủ đích thực và trở thành chỗ dung thân hợp pháp cho thói
vô trách nhiệm và vô cảm.
Mô thức tổ chức vận hành xã hội XHCN với những đặc trưng
vốn hàm chứa nhiều khuyết tật gây bất ổn cho giải pháp
phát triển và hoàn thiện xã hội như vậy thực sự không còn
đáng được tồn tại trong sự lựa chọn thể chế chính trị
mà Hiến pháp cần có.
Mô thức tổ chức vận hành xã hội XHCN như vậy, cũng có
khoảng cách khác biệt quá xa với tinh thần của nền cộng hòa
theo tư duy Hồ Chí Minh. Do vậy, cũng không thể ghép "XHCN"
đó với "cộng hòa" trong cụm từ "Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa" để giữ lại cái tên nước Việt Nam là nước
"Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" như đã ghi trong
Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.
<span class="underlined-text">Hiến pháp năm 1992 so với Hiến pháp
năm 1946 là một bước thụt lùi.</span> Không có những đột
phá về cải cách thể chế trong sửa đổi Hiến pháp năm 1992
khó có thể có được kết quả lập hiến ngang tầm với giai
đoạn phát triển mới.
<h2>Mấy kiến nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992</h2>
Xin nêu mấy vấn đề, cũng có thể coi là những ý
tưởng muốn góp vào Hiến pháp sửa đổi:
- Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải
đảo, vùng biển và vùng trời. Các dân tộc Việt Nam là một
khối thống nhất, đều bình đẳng, không phân biệt nòi
giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, đảng phái.
- Chế độ chính trị mà Việt Nam lựa chọn đưa vào Hiến
pháp là Cộng hòa (hoặc Cộng hòa – Dân chủ hay Cộng hòa –
Dân chủ – Nhân dân). Sứ mệnh với tầm nhìn xa của chính
thể Cộng hòa là bảo vệ nền độc lập, thống nhất toàn
vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh.
- Lợi quyền lớn nhất, cao nhất kể cả quyền sửa Hiến pháp
là của toàn dân. Nghiêm cấm bất kỳ sự áp đặt lợi quyền
nào khác lên trên lợi quyền của dân, do dân, vì dân.
- Nhà nước của nước Cộng hòa Việt Nam (hoặc Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa hay Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Việt nam) là Nhà
nước pháp quyền tam quyền phân lập, của dân, do dân, vì dân
chứ không thể chỉ phân công ba quyền dưới sự lãnh đạo
thống nhất của Đảng như hiện nay.
- Điều 4 của Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 đều
khẳng định Đảng Cộng sản Việt nam là lực lượng duy nhất
lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo xã hội Việt Nam. Thiết
nghĩ, trong Hiến pháp sửa đổi, điều này nên dành cho những
quy định của Hiến pháp về Đảng cầm quyền. Đảng cầm
quyền phải trung thành với Hiến pháp và tuân thủ pháp luật,
được nhân dân lựa chọn với những giới hạn thời gian
nhất định, chịu sự giám sát, phán xét và xử lý của nhân
dân theo Luật định.
- Với tầm của Hiến pháp, cần có quyết sách đúng và rõ về
chủ quyền và quyền sở hữu về đất đai.
Đất đai là tài nguyên và môi trường tự nhiên, như tài
nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên nước, thời tiết
khí hậu và đa dạng sinh học, vùng trời, vùng biển và hải
đảo... thuộc chủ quyền quốc gia, Nhà nước được trao
quyền quản lý, ai khai thác sử dụng phải được Nhà nước
cho phép, chịu sự chế tài của pháp luật và phải nộp thuế
cho Nhà nước.
Đất được đưa vào sử dụng, trở thành sản phẩm của lao
động (thậm chí cả lao động cha truyền con nối), là tài sản
của chủ thể sản xuất kinh doanh nhất định. Trong sản xuất
nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất, là yếu tố của
sản xuất, như các yếu tố công cụ khác là vật sở hữu
của nông dân, không có lý gì đất ở đây không phải là vật
sở hữu của nhà nông. Đất là yếu tố cấu thành tài sản
trong bất động sản, vốn là một thể thống nhất không thể
chia cắt được, tất yếu phải là tài sản, là vật sở hữu
của chủ thể kinh doanh bất động sản.
Vì thế với tầm Hiến pháp, lần sửa đổi này, cần có
quyết sách đúng về chủ quyền quốc gia về tài nguyên và môi
trường tự nhiên, trong đó có tài nguyên đất. Và cần có sự
thừa nhận quyền sở hữu của các chủ thể sử dụng đất
với tư cách là tài sản, là tư liệu sản xuất, là yếu tố
của sản xuất như bao nhiêu yếu tố khác vốn đã là sở hữu
của họ, trong đó có chủ thể là tư nhân (là chủ sở hữu
tư nhân), có chủ thể là tổ chức xã hội (là sở hữu tập
thể) và có chủ thể là Nhà nước (là sở hữu Nhà nước).
Đất đai là tài sản có chủ sở hữu rõ ràng, trong kinh tế
thị trường việc dịch chuyển quyền sở hữu dưới hình
thức mua bán đất là tất yếu. Nhà nước khi có nhu cầu vì
quốc kế dân sinh thường phải trưng mua theo cơ chế và giá
cả thị trường.
- Mô hình kinh tế tổng quát bị chi phối bởi thể chế kinh
tế nặng về công hữu là nền tảng, kinh tế Nhà nước là
chủ đạo, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp đã không còn
phù hợp, thiết nghĩ phải thay đổi trong việc sửa đổi Hiến
pháp năm 1992.
Mô hình kinh tế được lựa chọn, thay thế có những đặc
trưng cơ bản là: (1) Kinh tế thị trường hiện đại; (2) Hai
loại hình – công hữu và tư hữu về tư liệu sản xuất chủ
yếu; ba khu vực – kinh tế công, kinh tế tư nhân và kinh tế
hỗn hợp; với đa dạng các chủ thể kinh doanh bình đẳng
trước pháp luật, cùng phát triển trong môi trường cạnh tranh
lành mạnh, không coi công hữu là nền tảng và cũng không coi
kinh tế Nhà nước là chủ đạo, mà chỉ xác định đúng mức
vai trò của Nhà nước pháp quyền đối với nền kinh tế thị
trường Việt Nam; (3) Thực thi dân chủ trong kinh tế, mà vấn
đề cốt lõi là quyền của người dân và thực quyền kinh
doanh của doanh nghiệp; (4) Liên kết hợp tác và hội nhập
quốc tế.
<em>Đào Công Tiến</em>
_________________
[*] Bài viết trên đây của PGS.TS Đào Công Tiến, đảng viên 60
năm tuổi đảng, nguyên hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP.HCM,
bài đã trích đăng Tamnhin.net.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/14126), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét