Vương Trí Nhàn - Việc tìm tòi học hỏi và nền giáo dục của người Việt (II)

<strong>Khi học thuật kém cỏi
lòng người sinh ra phù phiếm, phong tục trở nên bại
hoại</strong>

Học là gì, là học những điều chưa biết để biết mà đem
ra thực hành.

Ngày nay chúng ta lúc nhỏ thì học văn từ thơ phú, lớn lên ra
làm thì lại luật, lịch (1), binh, hình (2). Lúc nhỏ học nào
Sơn Đông, Sơn Tây (3), lớn lên ra làm thì đến Nam Kỳ Bắc
kỳ. Lúc nhỏ thì học thiên văn địa lý chính sự phong tục
bên Tàu (mà nay họ đã sửa đổi khác hết rồi); lớn lên ra
làm thì lại dùng đến địa lý thiên văn chính sự phong tục
của nước Nam, hoàn toàn khác hẳn.

Còn biết bao nhiêu những việc như thế, mòn bút khô môi
cũng chưa kể hết.

Tuy Nhật Bản Cao Ly cũng đọc sách Tàu, nhưng chỉ để làm
vui, còn ra làm thì đều theo sách của nước họ -- chưa bao
giờ thấy họ học và dùng những gì mà mắt không trông thấy,
chân không đặt đến như lối học của ta.

Không có một nền học thuật sáng suốt thì phong tục sẽ
ngày một bại hoại, lòng người sẽ ngày một giả dối phù
phiếm trống rỗng. Tập tục sẽ làm thay đổi con người, dù
người tốt cũng không tránh khỏi ảnh hưởng.

(1) Phép tính thời gian, một việc mà quan lại ngày xưa phải
biết
(2) việc xử tội
(3) Tên các tỉnh của Trung quốc
<div
class="rightalign"><em>Nguyễn Trường Tộ
Tám việc cần làm gấp, 1867</em></div>

<strong>Nói láo nói linh</strong>

Ngày xưa ta nhắm mắt lại, một là văn minh Tàu, hai là văn
minh Tàu, bị độc khoa cử làm mờ ám trí khôn đã đành, đến
ngày nay đã hé mắt thấy người Tàu vận động nhiều việc
rất to tát, như gửi học sinh du học khắp hoàn cầu, như bỏ
quân chủ lập dân chủ mà ta cũng an nhiên (1) bất động, nhất
thiết chẳng biết gì là gì.

Chẳng những thế mà thôi, lại còn mấy anh sang Tàu về nói
láo nói linh, chê người nọ hạch người kia, mà tự mình xem ra
cũng không có bản lĩnh gì cho người ta đủ kính phục, tinh
chất (2) của người Tàu không hề học đến, chỉ khéo đem
về một cái láu lỉnh và một cái bao tử trống.

(1) điềm nhiên, bình thản
(2) cái hay, cái tốt đẹp
<div
class="rightalign">Phan Châu Trinh
Đạo đức và luân lý Đông Tây, 1925</div>

<strong>Không học nên thiếu tư cách làm người</strong>

Người mình thiếu cái tư cách lao động [của con người] ngày
nay.

Nguyên nhân xa xôi (1) có nhiều, mà nhất là không học. Đây
nói học không phải thường cầm viết (2), ôm sách đi tới
trường như học trò. Không học nghĩa là không biết tập cách
siêng năng kiệm ước (3) và lo trau dồi cái nghề của mình cho
tinh xảo, sửa sang tính nết của mình cho có tư cách công nhân
(4). Không học thì nghề đã không tinh mà tư cách cũng kém,
điều hư tật xấu không chừa, lời phải điều hay không biết
bắt chước.

Còn cái nguyên nhân cụ thể (5) to nhất là ham chơi.

Nhân phong trào lao động thế giới hết bị khinh rẻ như ngày
xưa, nhiều người vào sở này, tới xưởng kia, tự xưng là
làm thực nghiệp, kỳ thực không chăm nghề gì không được
việc gì, rày đây mai đó lỡ dở thành người thất nghiệp.

Lại có kẻ du thủ du thực phóng đãng quen nết, nay gặp
sở nào thuê mướn làm công, làm mấy cũng không đủ tiêu,
lại xoay bày cách chơi bời cờ bạc mà quơ quét của bọn làm
công, làm sâu mọt trong đám lao động.

(1) Nguyên văn là viễn nhân. Nhân ở đây là nguyên cớ nguyên
do chứ không phải nhân là người. Chúng tôi dịch ra để đỡ
mất thời giờ của bạn đọc
(2) cầm bút
(3)dè dặt và có chừng mực
(5) đây chỉ người làm việc nói chung chứ không phải công
nhân theo nghĩa hiện đại
(5) cận nhân

<div class="rightalign"><em> Huỳnh Thúc Kháng
Hai chữ lao động, Tiếng dân, 1930</em></div>


<strong>Cái hay của người đến mình trở thành cái dở</strong>

Phương Tây thường nhờ cái nguyên lý của sự lợi mình
và chủ nghĩa riêng một mình (1) để phát triển được cái
sức làm giàu chung cho xã hội, nhờ cái nguyên lý ganh đua (2)
nên sản nghiệp phát đạt và khoa học tiến bộ.

Ở nước ta, nói tới sự ganh đua thì chỉ muốn xâm
chiếm người khác; nói về sự lợi mình và chủ nghĩa riêng
từng người thì bỏ cả hạnh phúc xã hội chẳng tưởng đến
chi.

Có thể nói một câu là những đức tính tốt ta dường
như hết cả, mà chỗ hay của người chưa học được một
chữ nào, những điều góp nhặt được phần nhiều là chỗ
kém của ta đấy thôi.

(1) ngày nay hay nói nguyên lý tư lợi và chủ nghĩa cá nhân
(2) cạnh tranh

<div class="rightalign"><em>Nguyễn Xuân Dương
Sự so sánh về tư tưởng kinh tế Đông Tây An Nam tạp chí,
1931</em></div>

<strong>Học không biết cách,
luật pháp hồ đồ, cương thường giả dối</strong>

Về đạo cương thường, cứ nói rằng ta thâm nhiễm (1) của
Tàu nhiều lắm rồi, nhưng tôi xét ra chưa có điều gì gọi là
thâm nhiễm cả.

Trong hết cả số người theo Nho học thì hoạ là có mấy
ông vào bực giỏi, hiểu biết được đạo Khổng Mạnh. Còn
những bực nhoàng nhoàng thì thường cứ thấy người ta học
cũng học, học cho thuộc cách mà thôi, chứ không có định
trong bụng rằng theo những điều nào, kháp (2) đạo ấy vào
tính tình riêng của người nước mình nó ra sao...

Vua Gia Long bỏ luật Hồng Đức (3) đi, mà làm ra cả một pho
luật mới chép tuốt cả của Tàu, cả từ điều nước mình
có, cho đến những điều mình không có, cũng bắt chước.
Thành ra luật pháp cũng hồ đồ, cương thường đạo lý toàn
là giả dối, không có điều gì là có kinh có điển.

(1) ảnh hưởng sâu sắc
(2) tức khớp, ghép lại cho khít, cho phù hợp
(3) bộ luật cổ của nước ta có từ thời Lê, tham
khảo nhiều từ bộ luật của đời Đường

<div class="rightalign"><em>Nguyễn Văn Vĩnh
Đông dương tạp chí, 1913</em></div>

<strong>Không học được cách tư duy hợp lý</strong>
Người mình vốn có cái thiên tính dễ đồng hoá, nghĩa là
có tư cách (1), dễ am hiểu dễ thu nạp lấy những gì khác lạ
với mình, dễ đem những điều hay điều dở của người ngoài
mà hoá làm của mình.

Nhưng cái tài đồng hoá đó thường thường chỉ là cái khoé
tinh (2), biết xem xét và bắt chước của người, phảng phất
ở bề ngoài, chứ không thấu triệt được đến chỗ căn để
(3), chỗ tinh tuý.

Cái cách đồng hoá dễ dàng thô thiển đó thiết tưởng
không phải là cái tính tốt.

Như học trò ta học rất mau, nhớ cũng rất mau, nhưng
chưa chắc đã hiểu được thấu, đã hoá được hẳn những
cái người ta dạy mình, và chưa chắc cái học tiếp thu được
dễ dàng như vậy nó đã làm cho óc được khôn ra, người
được chín ra chút nào.

Có những người mặc thì mặc theo đúng mốt tối tân ở
Paris, nói năng ba hoa đi đứng đường đột; bề ngoài như vậy
mà bề trong nghị luận mơ hồ, tư tưởng lộn xộn, không có
thống hệ (4), không biết bắt chước lấy cái lối nói năng
gãy gọn, biện lẽ phân minh như người Tây phương.

(1) nghĩa cũ: tài lực trình độ khả năng
(2) mánh khóe ranh ma
(3) gốc rễ
(4) ngày nay hay nói ngược lại: hệ thống

<div class="rightalign"><em>Phạm Quỳnh
Giải nghĩa đồng hoá, Nam Phong, 1931</em></div>

<strong>Không có học thuyết của mình</strong>

Về đường học thuật và tư tưởng thì xưa nay ta chỉ có
mấy lối học của Tàu truyền sang: trong đời nhà Lý và nhà
Trần thì sự học của ta theo lối huấn hỗ (1) của Hán nho và
Đường nho, rồi từ đời Lê về sau thì theo cái lối học
của Tống nho.

Ta chỉ quanh quẩn ở trong phạm vi của lối học ấy,
chứ không thoát ly được mà sáng lập ra cái học thuyết nào
khác.

Phần nhiều người trong nước lại có cái tư tưởng
rằng những điều thánh hiền nói ở trong các kinh truyện đã
đủ hết cả rồi, không ai biết được hơn nữa, cho nên kẻ
học giả chỉ chăm chăm theo cho đúng những điều ấy mà tiễn
lý (2) thực hành, chứ không ai để ý mà tìm cho đến cái chân
lý nó thường lưu hành biến hoá.

Cũng có người đạt tới chỗ uyên thâm của Nho giáo, song
những người ấy lại cho rằng cáí học sâu xa là tự mình
phải lý hội (3) lấy, chứ không thể lấy văn từ ra mà tuyên
bố được.

Bởi vậy các tiên nho ở ta chỉ làm văn thơ để tả cái
tính tình của mình mà thôi, không hay làm sách vở để phát
minh tư tưởng. Kết quả thành ra cái học Nho giáo thì rộng
khắp cả nước mà cái học thuyết thì không thấy có gì là
phát minh vậy.

(1) lối học bám vào từng chữ để giải thích
(2) theo cái lý vốn có
(3) hiểu

<div class="rightalign"><em>Trần Trọng Kim
Nho giáo, 1930</em></div>


<strong>Việc bắt chước dễ dãi thường gây nhiễu
loạn</strong>

Tính bắt chước vốn là tính tự nhiên của loài người,
dẫu ở nước nào cũng thế cả. Nhưng giá ta có sẵn cái tinh
thần tốt rồi chỉ bắt chước lấy những điều có bổ ích
thêm cho tinh thần ấy thì thật là hay lắm.

Chỉ hiềm vì mình để cái tinh thần của mình hư hỏng
đi, mà lại mong bắt chước sự hành động của người ta, thì
sự bắt chước ấy lại làm cho mình dở hơn nữa.

Vì đã gọi bắt chước là chỉ bắt chước được cái
hình hài bề ngoài mà thôi, còn cái tinh thần ở trong, phi(1)
lâu ngày nhiễm (2) lấy được mà hoá (3) đi, thì khó lòng mà
bắt chước được.

Thành thử bao nhiêu những sự bắt chước của mình chỉ
là làm loạn cả tính tình tư tưởng và phong tục của mình.

Có lắm người vọng tưởng (4) rằng mình cố bắt
chước được người ngoài là mình làm điều có ích cho sự
tiến hoá của nòi giống. Không ngờ rằng sự bắt chước vội
vàng quá lại thành cái độc, gây ra các thứ bệnh cho xã hội.

Mà sự lầm lỗi ấy chỉ mỗi ngày một thêm ra chứ không
bớt đi được.

(1) không phải
(2) thâm nhập
(3) biến dạng, tiêu hóa. Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu
ghi: phàm vật này mất đi mà vật kia sinh ra gọi là hoá
(4) nghĩ lầm

<div class="rightalign"><em> Trần Trọng Kim
Nho giáo, 1930</em></div>


<strong>Mô phỏng lâu ngày quên cả sáng tạo</strong>

Từ Lê Hồng Đức bắt đầu gieo cái mầm cẩu thả, rồi
Mạc Trịnh lại càng tài bồi (1) cho thành cái rừng cẩu thả.
Cẩu thả nên toàn mô phỏng, mô phỏng thì không còn biết
biến hoá nữa.

Như người học vẽ tranh mà làm cách lồng phóng hay là
can-ke (2) thì thế nào cũng không đúng.

Kỳ cạch mãi càng không đúng, bấy giờ khoanh tay lại, lắc
đầu le lưỡi mà rằng "Bức vẽ mẫu là thiên tài trời đã
định, mà mình là bất tài trời đã định"...

Bấy giờ dẫu có ai hoán tỉnh cho biết cũng không tin, có ai
biệt sáng biệt lập (3) cái gì cũng không thèm ngó tới. Rồi
lại sinh đố kỵ nữa, dân gian thì vùi dập của nhau đi,
triều đại thì phá hoại của nhau đi.

(1) vun đắp
(2) bắt chước một cách máy móc, tô lại như nguyên mẫu
(3) sáng tạo, làm cho khác những cái đã có

<div class="rightalign"><em>Nguyễn Trọng Thuật
Điều đình cái án quốc học, Nam Phong, 1931</em></div>

<strong>Mình lại rẻ mình, bản thân tự làm hỏng</strong>

Cách học muốn cho bằng người thì phải biến hoá khác đi.
Nay cứ toàn mô phỏng, thấy không thể theo cho bằng được,
bèn sinh lòng tự tiện (1), là mình tự khinh cái tài của mình;
tự tiện quá rồi tự khí (2) tự bỏ cái tài của mình, cho
mình là đồ bỏ.

Mà đồ bỏ thật, vì học không có cái gì dùng được như
mẫu của người.

Cũng vì thế mà bao nhiêu cái hay không còn gì nữa.

Trước khi vì học thuật nước nhà mà hy vọng, ta phải
hết sức từ bỏ cái căn bệnh cẩu thả, cái tính tự tiện
tự khí. Không thì về xã hội lại cứ lười biếng a dua không
suy xét lựa chọn, không có cái tinh thần tự giác tự tin. Về
kẻ học giả lại cứ tham cận lợi (3), nhai văn nuốt chữ,
lấy học đường của nước văn minh làm con đường tắt hiển
vinh, học đến bao giờ cũng chung vô sở đắc (4).

(1) tự tiện đây là tự coi rẻ mình coi mình là hèn; khác
với tự tiện có nghĩa làm theo ý thích hiện nay hay dùng
(2 ) tự làm hỏng mình
(3) lợi ích trước mắt
(4) cuối cùng vẫn không có gì là của riêng mình
<div
class="rightalign"><em>Nguyễn Trọng Thuật
Điều đình cái án quốc học, 1931</em></div>

<strong>Chỉ lo nuôi không lo dạy</strong>

Những bậc cha mẹ ở nước mình đẻ con thì muốn cho
nhiều mà dạy con thì thật cẩu thả và biếng nhác. Những ông
bố hoặc là nhà kinh doanh, hoặc là người tòng sự các sở
công sở tư, suốt ngày suốt tháng đầu tắt mặt tối về sự
mưu sinh, có lúc nào rảnh rang thì dành cho các cuộc tiêu khiển
như bài bạc hát xướng mà các ông cho là mình có quyền
được hưởng sau khi làm việc.

Đại để thì đẻ con ra, nuôi chúng như vỗ lợn rồi xin
cho chúng một chỗ ngồi trên ghế nhà trường, là tưởng đã
làm xong cái trách nhiệm của người cha rồi vậy.

Đến những bà vợ… Thỉnh thoảng các bà rờ đến con
thì liệu hồn những vú già vú em! Con các bà không hề bị
trừng phạt mà chính đầy tớ các bà lại là cái bia chịu
đạn.

Trong nhiều gia đình, sự thân mật quá độ và lầm lạc
đã hầu thành hỗn xược.Trước mặt cha mẹ, con cái nói năng
chẳng dè dặt chút nào. Họ nói với cha mẹ như với bạn.

<div class="rightalign"><em> Thái Phỉ
Một nền giáo dục Việt Nam mới, 1941</em></div>


<strong>Sẽ có lúc mất hết đạo lý?</strong>

Song song với vấn đề nghèo khổ, còn phải giải quyết
vấn đề giáo dục.

Khi ta tò mò đi vào các làng xóm ngày nay, ta bị sửng sốt
vì vẻ hỗn xược và thô lỗ của trẻ con nông thôn. Xưa kia
hầu như nơi nào cũng có một ông thầy đồ. Xung quanh chiếc
sập của ông, lũ trẻ dù không học được bao nhiêu chữ cũng
đều nom thấy chiếc roi mây dài treo trên vách và nghe đi nghe
lại câu răn dạy của đạo nho "Tiên học lễ hậu học
văn".

Ngày xưa, thầy và bạn học bao quanh lũ trẻ và ngăn chúng
làm điều xấu.

Ngày nay chẳng ai chú ý đến chúng. Trong vòng mười năm
nữa, sẽ rất khó dắt dẫn cái dân tộc lúc đó đã mất hết
đạo lý. Một trào lưu cá nhân chủ nghĩa đã phát huy hết
hiệu quả của nó trong một số môi trường.

<div class="rightalign"><em>Nguyễn Văn Huyên
Vấn đề nông dân Việt Nam ở Bắc Kỳ, 1939</em></div>

<strong>Không chú trọng học thuật sẽ thành dân tộc bỏ
đi</strong>

Dễ thường không có nước nào mà những người tự nhận
là học giả lại lạnh lùng với việc học như ở nước mình.
Người mình vẫn được tiếng là hiếu học, nhưng đúng ra
chỉ là hiếu lợi và hiếu danh. Khi sự học không đưa đến
cho mình lợi và danh thì ít ai còn thèm màng đến nó nữa.

Cho đến ngày nay, trong một trăm người bước chân ra khỏi
nhà trường, không có lấy năm ba người để tâm vào việc
học. Giữa một vũ trụ đầy những sự huyền bí, người mình
như khách qua đường bưng mắt mà đi vì sợ mệt mắt. Tinh
thần của mình bạc nhược như vậy không trách gì mình thua
kém.

Đã thế lại còn kiêu căng. Thỉnh thoảng có tấp tểnh
bước vào rừng học thì cũng chỉ chạy theo những vấn đề to
lớn, tựa hồ như chỉ những vấn đề ấy mới xứng với tài
trí của mình. Có biết đâu rằng tinh thần học thuật ngày nay
căn cứ vào lòng khiêm tốn.

Người ta đã mất công nghiên cứu mà nói ra một điều
gì cũng cẩn thận dè dặt. Người mình đã không chịu tìm tòi
gì mà lại thường cẩu thả.

…Nếu dân tộc này không bao giờ tự dựng lên được
một nền học thuật thì chẳng nói hai mươi triệu, có đông
đến hai trăm triệu cũng là một dân tộc bỏ đi, một dân
tộc không có trên pho lịch sử văn minh loài người.

<div class="rightalign"><em> Hoài Thanh
Vấn đề học thuật nước ta chỉ là một vấn đề tâm lý
và luân lý, Sông Hương, 1936 </em></div>

<em>Trích từ chuyên mục "Người xưa cảnh tỉnh" đã in trên
Thể thao và văn hóa 2005-2007. Các đầu đề nhỏ và chú thích
là của người biên soạn.</em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13909), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét