<div class="special_quote"> "Cuối hè. Không ít gia đình phải
nghĩ đến chuyện trường lớp. Học và kiếm tiền là chuyện
dài và còn thiết thân với nhiều người. Trong hai chuyện đó
cái nào khó? Thực chả có chuyện nào là khó cả nếu đích
chỉ là học cho qua quít hay lượm vài đồng bạc lẻ thì ngay
con nít ở đâu cũng thường làm được. Mọi cái chỉ khó dần
nếu ta muốn tìm cách đi cho bài bản hướng đến đỉnh mà
thôi"- Bài viết mới của cây bút quen thuộc: tiến sĩ Phạm
Ngọc Cương (Toronto, Canada)</div>
<h2>Lòng vòng qua vài nền giáo dục:</h2>
Việt Nam nhận ảnh hưởng của rất nhiều nền giáo
dục khác nhau: Tàu, Pháp, Nga, Mỹ...đủ cả. Nhưng do vị trí
địa lý, hoàn cảnh lịch sử, sự chọn lựa chính trị, và ý
chí con người mà cho đến tận giờ có hai nền giáo dục vẫn
ảnh hưởng mạnh đến tư duy giáo dục Việt Nam là Trung và
Xô.
Giáo dục Trung Hoa về cơ bản có thể gọi là nền
giáo dục có quán tính luôn ngoái nhìn về đằng sau. Người
Tàu dậy nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác rằng vua sáng
nhất của họ là Nghiêu- Thuấn- Vũ. Vạn thế sư biểu là
Khổng Tử... Phương cách giáo dục của Tàu trải qua cả mấy
ngàn năm cũng chỉ là làm sao đúc người nay cho giống được
người xưa vì xưa là khuôn vàng thước ngọc. Luôn ngoái lại
đằng sau đầy hoài niệm vì quá ít niềm tin vào năng lực
thực tại! Líu lo ca ngợi cái quá khứ là vĩ đại là muôn năm
thì mặc nhiên phủ định đà tiến hóa của lịch sử, triệt
tiêu sức sáng tạo và không dám cả dụi mắt mà nhìn cho kỹ
cái hiện hữu, đón nhận và thích ứng với cái mới cái hay
hơn phải đến và tất đến trong tương lai.
Việt Nam đã và đang đánh mất rất nhiều thời gian
và trí tuệ của cả thầy, trò, tiền của, tâm huyết và hi
vọng của toàn xã hội trong việc nhồi nhét nhau tới bội
thực các món như triết học Marx- Lê Nin, kinh tế chính trị
học Marx-Lê Nin, Chủ nghĩa cộng sản khoa học, tư tưởng Hồ
Chí Minh, Lịch sử đảng...Việc này có thể gọi đủ tên từ
thói thích ăn mày dĩ vãng tới giáo điều, xơ cứng, phi thực
tế, nhưng về gốc rễ cũng là một kiểu dập theo quán tính
giáo dục hướng cổ, cốt đào tạo lòng trung của Trung Hoa.
Chỉ từ khi Trung Quốc nhoài người ra ôm cái tư duy giáo dục
thực tiễn của phương Tây họ mới thoát khỏi sự đì đẹt
cả mấy ngàn năm, bắt đầu cất cánh và có hôm nay.
Liên Xô có nhiều thành tựu trong giáo dục. Tuyệt vời
nhất là biết đổ tiền ra cho phát triển khoa học cơ bản.
Thời Xô Viết, các viện hàn lâm có quyền lực khoa học thật
khủng khiếp. Ý tưởng của các viện sỹ thường được nhà
nước tài trợ tối đa để thực hiện. Nền giáo dục Xô
Viết là nền giáo dục sẵn sàng tốn kém để trồng cây đại
thụ tức tạo vườn ươm thiên tài. Mà thiên tài thì ở đâu
cũng hiếm nên dẫu thuốc luyện đan được cấp phát tứ tung
mà số thí sinh đạt đến mười thành công lực cũng không quá
nhiều. Cùng tốt nghiệp trường Xô Viết mà kiến thức các
tân khoa khác nhau một trời một vực. (Có thời Việt Nam từng
có câu tổng kết rằng: con bò mà dắt qua Quảng trường Đỏ
cũng thành tiến sỹ). Tuy nhiên, nhờ nền giáo dục gắng trồng
đinh lim sến táu ấy mà một nước Nga Sa Hoàng tiền công
nghiệp sau mấy chục năm cất cánh thành Liên bang Xô Viết siêu
cường thế giới.
Việt Nam chưa có tiềm năng theo đuổi nền giáo dục
lấy khoa học cơ bản làm nền tảng này vì chuyện hít thở cho
dài hơi cũng thật không dễ tập.
Bắc Mỹ thấy rõ là đào tạo nhân tài khoa học cao
cấp quá tốn kém vì vậy để bù cho lỗ hổng đào tạo của
mình, họ chọn cách mua hoặc dụ nhân tài thế giới về làm
thuê cho họ. Nền giáo dục thiên về thực dụng thì sẽ bị
chê vì tầm nhìn ngắn hạn. Nhưng nếu lý tưởng hóa quá thì
sẽ làm học sinh đuối sức và dễ thành hão huyền. Cách làm
của Bắc Mỹ là lấy ngắn nuôi dài, lấy thực dụng nuôi lý
tưởng. Hay có thể gọi ngắn gọn là nền giáo dục thực-lý
(thực dụng- lý tưởng). Bắc Mỹ, khởi thủy chỉ nhăm nhăm
tạo ra copycat. Tức các sản phẩm chất lượng tương đồng
cần thiết cho đòi hỏi của xã hội công nghiệp. Giáo dục ra
các kỹ năng (skills) tương thích.
Đây chính là cái mà giáo dục Việt Nam cần theo đuổi
hôm nay.
Về chuyện chính trị, như một trớ trêu của lịch
sử, nói đúng hơn là do viễn kiến ngắn, cùng lợi ích nhóm
của giới lãnh đạo mà Việt Nam trong hai cái xấu đã luôn
chọn cái xấu hơn trước. (...) Ngay cùng trong khối cộng sản
khi phải chọn giữa Xô và Trung thì ĐCS đã ngả về Trung
trước, sau ôm hận với Trung mới rẽ qua Xô. Phải chọn giữa
Trung và Mỹ thì lại quặp Trung trước, chỉ khi bẽ bàng với
Trung rồi thì mới chịu hé cửa nhìn sang Mỹ. Tuy vậy, về
chuyện giáo dục gần đây Việt Nam đã nhướn mắt tới nền
giáo dục Ây Mỹ và đó là một tín hiệu tốt đáng khích lệ.
<h2>Thầy, trò và chương trình</h2>
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vị trí người
thầy và trò. Người thầy có lúc được coi là chủ thể, có
lúc được coi là khách thể. Trò lúc thì là đối tượng cần
được khám phá hay có lúc lại thành thực thể dẫn dắt khám
phá! Thực ra các cách đặt vấn đề này đều có gì đó sai.
Chủ thể phải là chương trình giảng dạy mà thầy và trò là
những người cùng giúp nhau khám phá. Vì vậy mà chương trình
tốt thì thường chất lượng giáo dục sẽ không tồi. Chương
trình giáo dục tệ thì sự học dễ thành sáo vẹt còn thầy
hay trò giỏi cũng đến thui chột tài năng.
Cũng như đức trị - nơi trông chờ vào tư cách cá
nhân người lãnh đạo - là phó mặc cho may rủi và nhiều phần
dẫn đến tan nát trong quản lý xã hội. Trong khi đó pháp
trị-dẫu đích đến cuối cùng là phục vụ cá nhân- lại xếp
luật pháp (chủ trương, chính sách) cao hơn cá nhân và vì vậy
con người lại vào nề nếp ăn khớp với nhau. Uy quyền của
người thầy chỉ nên là quyền của người chịu trách nhiệm
đứng lớp cùng những học sinh tự do và bình đẳng. Sức
mạnh của mái trường, nếu có, là sức mạnh của một tập
thể luôn dốc lòng phát triển sức sáng tạo, xiển dương song
hành với đức hạnh, thiện ý và sự công bằng. Chương trình
mang tính quyết định vì nó là tổng kết của nhiều trí tuệ,
nhiều ý kiến. Lập chương trình cần dân chủ tập trung theo
đúng nghĩa của từ này. Làm sao để có chương trình giảng
dạy tốt? Đó là ý chí chính trị, ý chí khai phá và canh tân
giáo dục tùy thuộc vào tinh hoa cuả từng dân tộc, đặc biệt
phát tiết trong những thời khắc hệ trọng của lịch sử.
Giết một thế hệ nhanh nhất là cho chúng dùi mài những điều
vu vơ, vô nghĩa, làm chúng ngộ nhận cái ảo là tri thức thật,
cái lỗi thời là hiện đại, cái không lời giải, cái bế
tắc là đỉnh cao trí tuệ. Tất cả không nhằm bồi bổ mà
còn làm thui chột sức sáng tạo của bản năng sinh tồn.
Hình tượng người thầy ở Bắc Mỹ đã tiêu giảm
nhiều phần thiêng liêng so với quan điểm truyền thống Á
Đông. Tuy vậy đây lại là điểm tốt vì nó thu hẹp khoảng
cách thầy trò, thầy chỉ còn là một mắt xích của sự phân
công lao động và sàng lọc xã hội. Thầy giỏi ở Bắc Mỹ là
biết cách biến mình thành một công cụ tuyệt vời của học
sinh nhằm khám phá kiến thức và xây dựng tư duy độc lập cho
học sinh.
<h2>Nhà trường</h2>
"Nhà nước..., là một thực thể đa dạng và chỉ
nên được thống nhất thành một cộng đồng bằng giáo
dục". (1) Vì vậy dẫu không thể có bình đẳng về tài sản
nhưng phải có sự tiếp cận bình đẳng về giáo dục công.
Để hiện thực hóa điều này ở Ontario các chủ nhà mỗi năm
phải đóng tiền thuế bất động sản thường xấp xỉ 1% giá
trị nhà đất. Và bao giờ cũng được hỏi là muốn bỏ tiền
đó cho trường công lập hay trường Thiên Chúa giáo. Vì vậy
học trường công không ai phải lo đóng thêm học phí mà ngay
cả sách giáo khoa, dụng cụ học tập như bút, vở... là nhà
trường sẽ cấp miễn phí.
Vài năm trước khi con gái tôi học lớp sáu thấy bút
chì phát cho học sinh không đủ màu và không được gọt sẵn
đã thấy là bức xúc. Tôi nghĩ bọn trẻ này sướng quá không
cả biết rằng có bao thiếu niên khác ở một phần bên kia
của địa cầu đang phải vượt lũ hay leo cầu khỉ tìm con
chữ sao bèn bảo cháu tự tìm cách mà giải quyết lấy vấn
đề nhỏ ấy. Cháu viết thư hỏi ông nghị sỹ liên bang hay đi
qua nhà vận động tranh cử, ông đó chuyển thư cho bộ trưởng
giáo dục và cả hai ông viết thư trả lời cháu là sẽ khắc
phục tình trạng đó ngay.
Nhiều lúc tôi nghĩ trẻ con bên này đúng là thượng
đế, vậy nền giáo dục dạy dỗ thượng đế cũng đáng để
mắt vào nhìn nhận. Sự học ở Bắc Mỹ luôn được nêu cao
rõ ràng là học để kiếm việc, để sống. Đích của sự
học không úp mở hay được đậy điệm bằng những mỹ từ
cao quí như học để làm người, hay phục vụ Tổ Quốc, Nhân
Dân... mà nhiều nơi, nhiều nước rao giảng. Điểm đến cuối
cùng của giáo dục Bắc Mỹ là tạo ra những sản phẩm giáo
dục có tính năng tốt, đáp ứng đủ nhu cầu thị trường lao
động. Học gì thường học sinh cũng được cho xem trước bức
tranh tương lai là khi ra trường, việc này được trả công bao
nhiêu tiền một tiếng và có bao nhiêu phần trăm người tốt
nghiệp ở đây ra kiếm được việc ngay trong 30 ngày, 60 ngày...
hay trong năm đầu tiên.
Thực tế, duy lợi đến trần trụi!
Kiến thức phổ thông, hiểu theo nghĩa là cái gì tối
cần thiết cho cuộc sống đã ngày một dài thêm mà cuộc đời
con người thì hữu hạn, vậy phải học gì là thiết yếu
nhất. Làm gì để sự nghiệp giáo dục không bị phí phạm
hoặc lạm dụng? Không thể cắt xén cái thiết yếu. Phải
trọn vẹn nhưng không thể ôm đồm những chuyện viển vông,
hết giá trị thực tế. Một nền giáo dục duy lợi cũng có
không ít thách thức. Từ mấy ngàn năm xưa các triết gia cổ Hy
Lạp đã cảnh báo "Đối với con người chẳng có giới hạn
nào là đủ cho việc thu thập của cải"(2). "Bản chất của
lòng ham muốn là vô hạn và phần lớn người ta sống chỉ
để thỏa mãn những ham muốn này"(3); " Người ta chỉ chú
trọng đến sự sống còn chứ không nghĩ đến chuyện sống
tốt đẹp và vì lòng ham muốn thì vô hạn, người ta cũng
muốn những phương tiện thỏa mãn lòng ham muốn này trở thành
vô hạn". Và họ nhắc tiếp rằng:" Một nền giáo dục bình
đẳng cho tất cả mọi người sẽ chẳng có lợi gì hết, nếu
nền giáo dục đó dạy người ta tham danh, hoặc tham lợi, hoặc
tham cả hai."(4)
Tiền của đáng được coi trọng, nhưng dù duy lợi
đến mấy nền giáo dục Bắc Mỹ cũng không dạy coi tiền
trọng hơn đức hạnh. Giáo dục luật pháp chính là bà đỡ
của giáo dục đức hạnh. Học sinh phải có sự yên tâm là khi
là có tài năng, hoặc kỹ năng thì tiền sẽ đến. Tuy nhiên,
muốn được yên ổn trước nhất cả về phần hồn lẫn phần
xác thì phải nhớ tuân thủ luật pháp, tức là biết tôn
trọng tự do và quyền lợi của những người khác.
Là một đất nước di dân, Canada càng cần nhấn mạnh
giáo dục luật pháp phải mạnh hơn tập quán và thói quen. Nói
cách khác là nỗi sợ phạm luật nhằm thượng tôn luật lệ
luôn phải vượt qua bản năng và quán tính. Không biết không
phải là cái cớ để trốn tội. Chính sách, chương trình phải
mang tính phổ quát, nhưng hành động và trách nhiệm thì phải
bổ cụ thể vào từng cá nhân. Mỗi công việc đều giao đích
danh từng học sinh. Đó là chủ nghĩa tư bản! Không có sự mơ
hồ giữa ranh giới "của tôi" hay "không phải của tôi"
cùng lúc. Khái niệm "tất cả" cũng là không tồn tại trên
thực tế. Sở hữu, dù là ý nghĩ hay tư tưởng, đều là của
riêng. Trừ những người thừa kế may mắn còn với quảng
đại, ai muốn có sở hữu tài sản thì phải dốc lòng học
nhằm đáp ứng đủ và đúng đòi hỏi của thị trường.
Có thể thấy rõ rằng toàn bộ tư tưởng chính trị
học đường của Việt Nam hôm nay là nhằm xiển dương một
đức tính duy nhất là đức tính tin tưởng và phục tùng vào
đảng. Tiếc thay, dù được nhồi nhét điều đó đến cỡ nào
thì đó cũng không phải là bí quyết để làm yên lòng dân
chúng. Chân lý là không thể điều hành bất kể chuyện gì kể
cả chuyện giáo dục bằng lối chủ quan duy ý chí mà phải
bằng qui luật phát triển khách quan. Ngay cả khi đặc quyền
tương xứng với khả năng xã hội dân chủ cũng không chấp
nhận độc quyền. Vì độc quyền sẽ triệt tiêu lợi ích của
số đông và khi quảng đại con người thấy không có phần
của mình thì họ sẽ thờ ơ. Để cơ cấu chính trị xã hội
tồn tại vững bền thì điều tiên quyết là mọi thành phần
dân chúng đều phải thấy có phần mình trong đó, vì vậy sẽ
dồi dào ý thức và ý chí để gìn giữ, bảo vệ nó.
"Quốc gia không phải chỉ là sự tập hợp của
nhiều người mà là sự tập hợp của nhiều người khác nhau
và sự đồng dạng không tạo thành quốc gia... Biến tất cả
mọi người thành đồng nhất thay vì đem lại phúc lợi cao
nhất cho quốc gia lại hóa thành tiêu diệt quốc gia.... Quốc
gia càng đa nguyên chừng nào càng tốt chừng ấy"(5). Đó là
chân lý giáo dục tiếp theo của Bắc Mỹ. Tối đa hóa cái
"Tôi", cái riêng cá nhân của mỗi học sinh. Có vậy mới
nhiều màu sắc, mới phong phú và sáng tạo. Sự khác biệt làm
nên sức mạnh. Xuất phát điểm của xã hội là các cá nhân
và điểm đến cuối cùng là toàn xã hội. (Ngược với Việt
Nam nơi xuất phát điểm luôn khoác danh tập thể - mang các danh
xưng khác nhau từ gia đình, dòng họ, tập thể, tổ chức...-
dẫu chân tướng của điểm đến cuối cùng thường là thỏa
mãn mục đích ngầm của các các nhân).
Canada giáo dục bằng cách giao quyền rất lớn và rất
sớm cho cá nhân trong việc tự ra quyết định và chịu trách
nhiệm về các quyết định của của mình. Một cháu của tôi
năm 7 tuổi, có lần tuyên bố: "Cuộc đời của con thì con là
người quyết định, và khi con càng lớn thì bố mẹ sẽ có
càng ít quyền hơn đối với con".
Ở Việt Nam, khi bố mẹ nghe con nói như vậy chắc sẽ
nghĩ là cháu láo, nhưng chúng tôi thực sự ngạc nhiên và sung
sướng khi nghe cháu bàn luận như vậy. Dung dưỡng từ bé trong
tinh thần như vậy nên các cháu sẽ mong và cố tự lập từ
rất sớm. Biết đi kiếm tiền từ khi còn học cấp hai, tốt
nghiệp phổ thông hầu như đã tự lập trong việc chọn nghề
nghiệp tương lai, kiếm chỗ ở riêng, thường sớm tự lo toan
mọi chuyện cho cuộc sống của mình. Các cá nhân bằng tài
năng, ý chí khả năng và niềm tin của mình phải tự tìm cho
mình con đường ngắn nhất dẫn đến thành công, nhưng khi
thành công tỏa sáng thì cả xã hội đều được hưởng phúc
lợi qua chính sách thuế.
Từ mấy ngàn năm trước, dân đảo Crete cho nô lệ
được hưởng mọi quyền lợi như của chủ nhân ngoại trừ
quyền mang vũ khí và quyền học tập thể dục, thể thao.
"Thể dục là một trong những môn học cần thiết để huấn
luyện trẻ con thành người tự do"(6). Thể dục thể thao là
một trong các thế mạnh của trường lớp Bắc Mỹ. Mỗi thầy
cô phải dạy hai môn ở trường trung học và thật lý thú khi
thường là giáo viên toán, tiếng Anh, hay tiếng Pháp... cũng
đồng thời là giáo viên thể dục. Môn thể dục cũng quan
trọng và còn tạo nhiều hưng phấn cho học sinh hơn các môn
học khác.
Khi lên bục giảng, về nguyên tắc, người thầy phải
thương yêu tất cả học sinh như nhau. Nói thì dễ nhưng chúng
ta là con người, nhiều khi cùng là con cái mình mà các bậc cha
mẹ còn thiên vị, đứa yêu, đứa ghét. Mà đây lố nhố trong
lớp tới 25 cháu, cháu vàng, cháu đen nhẻm, cháu trắng bóc, vô
thần, cùng Thiên chúa, Hồi, Hindu...Vì vậy luật phải ấn
định là cấm kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, giới tính và
tuổi tác. Chú ý từ những việc nhỏ nhưng tạo công bằng như
thường xuyên đổi chỗ ngồi cho học sinh, để mọi học sinh
đều có quyền ngồi gần ánh sáng cửa sổ hay bục giảng.
Người thầy phải luôn đảo khắp lớp để tạo góc tiếp
cận đồng đều với toàn thể học sinh.
"Cái quí nhất của một đất nước là dân chúng và
lãnh thổ, một nước phải có khả năng làm quân thù ngán sợ,
dù để tấn công hay phòng thủ" (7). Dù nổi tiếng hiếu hòa
mà nhiều trường Canada phát động phong trào dã ngoại và
luyện tập như quân sự cho học sinh. Năm vừa rồi có lần
một cô phóng viên truyền hình óng ả phản ứng dữ dội khi
thấy một sỹ quan Canada đang dạy bắn cho các học sinh phổ
thông. Viên sỹ quan nheo mắt nhìn lại người đại diện cho
quyền lực thứ tư đang gầm gào rằng cần dạy cho trẻ về
hòa bình chứ không phải là súng đạn và buông câu: Thưa cô,
cô cũng đang có đầy đủ bộ phận của một con điếm, nhưng
cô không làm điếm phải không cô?
Hết lớp 8 học sinh Ontario đã đã phải tự chọn theo
tiếp chương trình học là để vào đại học hay ra làm nghề.
Tư tưởng Socrates vẫn phảng phất đâu đây:"Thượng đế
trộn vàng trong một số người, bạc trong một số người khác
từ khi họ được sinh ra, và trộn đồng và sắt trong những
kẻ mà trời định làm thợ hoặc làm nghề nông". Cái nhân
bản là nhà trường cho cha mẹ và học sinh tự quyết định và
chịu trách nhiệm về sự chọn lựa hướng nghiệp của mình.
Dạy con người nghệ thuật làm giàu, nghệ thuật quản
trị hộ gia đình, xã hội cùng nghệ thuật tích lũy của cải,
nhưng để giàu có là chuyện đường dài. Trước nhất hãy
dạy các cháu về lối sống tiết kiệm là cái có thể làm ngay
từng ngày từng giờ. Các trường đều phát động các cháu đi
bộ, xe đạp hoặc bàn trượt (scooter) đến trường. Phân loại
rác để tái chế hay dùng lại túi cũ là chuyện hàng ngày luôn
được phát động và nhắc nhở.
Chuyện kiếm tiền ở Canada, cũng như bất kỳ nơi nào
khác, rất dễ và cũng rất khó. Cánh cửa làm giàu thật rộng
mở nhưng mỗi cá nhân hãy tự tìm cách vượt qua ngưỡng cửa
đó.
Không xếp vấn đề nhạy cảm thành cấm kỵ. Các cháu
học về các khả năng của con người kể cả khả năng sinh lý
từ khi còn rất sớm. Không để con trẻ phải mầy mò trong
bóng tối của sự thiếu hiểu biết. Theo đuổi sự hoàn hảo
là một ước vọng chính đáng của giáo dục, nhưng không thể
biến đó thành một đòi hỏi nghiệt ngã, không đòi hỏi sự
hoàn hảo ở học sinh để giảm áp lực cho các em, chấp nhận
học sinh có sai lầm, cho tồn tại sự lựa chọn thứ hai. Con
trẻ ở đây luôn được an ủi bằng câu cửa miệng là chỉ
có Chúa Trời là toàn bích, còn chúng ta là con người, không
một ai hoàn hảo cả (no one is perfect)!
Chú trọng giáo dục về sức mạnh mềm, về quyền con
người, về sự dẫn dắt của trí tuệ, của lý luận và lẽ
phải, về sức mạnh của sự bao dung. Có hôm chúng tôi đi làm
về muộn vẫn thấy cậu con trai sáu tuổi ngồi đợi bố mẹ
ở chân cầu thang trước cửa. Hỏi sao cháu chưa đi ngủ cháu
nói là phải đợi bố mẹ về để nói lời cảm ơn vì bố
mẹ đã lo lắng cho con có cuộc sống đầy đủ ngày hôm nay.
Hỏi ai dạy con nói thế? Cháu nói là không ai dạy cả, cháu
tự muốn thức đợi bố mẹ về, tự muốn được nói lời
cảm ơn vì hôm nay ở trường cô giáo cho làm một đề tài về
các bạn ở những nước nghèo nơi không có đủ cả nước
sạch để uống.
Giáo dục các công dân tý hon của mình không chỉ có ý
thức về sự giàu có của đất nước mình mà cần phải sớm
có suy nghĩ, trách nhiệm san sẻ với phần còn lại của thế
giới. Có hôm học về cháu nhất quyết nhịn ăn trong vòng 30
giờ. Hỏi sao? Cháu bảo ở trường đề nghị các cháu tự
nguyện không ăn hơn một ngày để biết thế nào là cảm giác
đói hành hạ, để có thể đồng cảm với rất nhiều bạn
trẻ đang thiếu ăn trên thế giới. Hôm đó chúng tôi đã chủ
tâm nấu các món ngon đặc biệt mà cháu thích để kiểm tra
độ tự giác nhưng quả thật là nhà trường đã thành công.
Con tôi đã ở lại trường cùng sinh hoạt với các bạn rồi
về nhà thật muộn, đóng chặt cửa phòng riêng và từ chối
mọi lời trêu đùa khuyến khích ăn của bố mẹ.
Là một nước tư bản phát triển, giáo dục rất coi
trọng các giá trị thực tiễn. Thực tiễn đúng là thước đo
kiểm nghiệm mọi lý thuyết. Trong các trường học các cháu
không chỉ được học kiến thức cơ bản mà còn được dạy
dỗ để trở thành một công dân đắc dụng. Để tốt nghiệp
phổ thông các cháu phải có ít nhất 40 tiếng lao động thiện
nguyện. Số giờ lao động công ích càng nhiều thì cơ hội
dành được học bổng đại học càng cao. Có cháu ngoài điểm
học rất cao, trong vòng 4 năm cuối phổ thông vẫn dành ra
được cả nghìn tiếng để giúp đỡ người già, người di
dân mới tới, trẻ em chậm phát triển, hoặc tại các cơ quan
công sở, trường học. Học giỏi mà không có tấm lòng vàng
là chưa đủ.
Canada rất coi trọng lãnh đạo tính (leadership), nhưng
vẫn đề cao tinh thần cộng tác đồng đội (teamwork). Trong hồ
sơ xin vào các đại học danh giá, thí sinh phải chứng minh khả
năng lãnh đạo của mình trong các công việc tại trường, lớp
và cộng đồng, đồng thời cũng cần nêu rõ là mình có tham
gia bao nhiêu câu lạc bộ, tổ chức, hội đoàn, thể thao...
Giáo dục Bắc Mỹ cũng hướng tới việc đào tạo con người
đa chức năng. Các trường đại học thường cho các cháu
quyền được hoàn thành cùng lúc 2 ngành nghề trong 4 năm học.
Trước khi vào trường đại học y để lấy bằng bác sỹ quân
y, con của một người bạn tôi đã phải hoàn thành một bằng
đại học với hai nghề là sỹ quan lục quân và kỹ sư điện
tử trong 4 năm ở trường Võ bị West Point.
Năm lớp sáu, trong môn học về gia đình, tất cả học
sinh đều phải mang búp bê (đã được cài đặt chương trình)
về nhà rồi bế tới trường hàng ngày để chăm sóc trong vài
tuần như chăm sóc một em bé hai tuần tuổi. Cũng phải cho ăn
6-8 lần một ngày, uống nước, cho ợ, thay tã khi bị ướt và
không được để em bé khóc quá lâu nếu không muốn bị điểm
kém. Học sinh chọn môn kinh tế trong lớp 10 sẽ được phát
tiền ảo để tham gia chơi chứng khoán. Không quan hệ cá nhân,
không trung gian và không một phí tổn. Khi con tôi muốn vào
trường chuyên, cháu được nhà trường giải thích rất rõ
ràng rằng cháu cần phải thi tuyển như thế nào để được
nhận.
Chuyện vào đại học cũng là một đề tài thú vị.
Để nhận học bổng vào đại học, các cháu cần có thư giới
thiệu của các thầy cô giáo phổ thông, và những lá thư này
được thầy cô viết một cách tự nguyện, đúng với quá
trình học tập và rèn luyện của các học sinh. Nhiều cháu
nhận tới hàng trăm nghìn đô học bổng, đổi lại các thầy
cô nhận được lời cảm ơn và sự vui sướng là đã có
được một học sinh giỏi. Các cháu không cần thi đại học,
điểm tổng kết sáu môn lớp 12 sẽ được trường phổ thông
chuyển thẳng tới các đại học để xem xét. Tôi chưa từng
nghe chuyện nâng hay chạy điểm nào ở đây. Vào các trường,
khoa danh tiếng thường là qua hai ban có quyền tương đương nhau
50/50 xét duyệt. Ban đầu là nghiên cứu điểm học, ban thứ hai
là xem các cháu đã làm bao nhiêu giờ lao động công ích cho xã
hội, có tài gì khác ngoài tài học. Ví dụ họ có thể hỏi
thí sinh ngoài học giỏi em còn biết làm gì nữa? Nếu em nói
biết vẽ, nhảy đàn, hát, hay hùng biện... thì mời em biểu
diễn ngay đi cho chúng tôi xem em thực tài thế nào. Chỉ thành
mọt sách đơn thuần là không được yêu chuộng ở Canada. Học
sinh ngoan chăm học không đủ mà phải đa năng, hữu dụng và
chứng tỏ là biết mang ích lợi cho xã hội, có chính kiến, cá
tính, bản lĩnh sống từ tấm bé.
Thi thì toàn bộ là thi viết. Cách chấm cũng đáng bàn.
Ở Nga thì điểm cao nhất là 5, Việt Nam thì 10, Tiệp thì 1 là
điểm tuyệt đối. Bắc Mỹ thường dùng % . Theo tôi cách tính
điểm này chi li nên chính xác và công bằng hơn cả.
<h2>Gia đình</h2>
Gia đình là cái nôi của giáo dục, mái trường đầu
tiên của con trẻ. Dù bận rộn tôi luôn dành vài ngày đầu
năm đến trường đón các cháu đi học về. Trên đường về
nhà khi thấy các cháu hào hứng kể về thầy (cô) giáo mới
của mình là có cảm giác yên tâm ngay về năm học đó, cháu
sẽ có một năm dễ chịu. Khi các cháu chỉ nói về bạn bè,
tôi biết là việc học của cháu năm đó sẽ có ít nhiều
trục trặc, khi cháu im lặng hoàn toàn chả mốn nói về thầy
cũng như về bạn là tôi thấy dông bão sẽ nổi lên đâu đó
rồi và thường phải tìm hiểu tiếp ngay ngọn nguồn, tính
cách hỗ trợ cháu.
Muốn có hiệu quả tốt thì suất đầu tư thường
phải cao. Đầu tư không có nghĩa chỉ là tiền bạc mà nhiều
khi cần chính lại là đầu tư tình yêu thương, thời gian, công
sức, lời động viên và sự khích lệ hữu ích vào hi vọng.
Không mấy nước có điều kiện như Thụy Sỹ khi cấm các bà
mẹ có con dưới năm tuổi được đi làm. Tuy nhiên dù ở đâu
thì khi một cháu bé đi học là thường cha mẹ cần mất thêm
sáu bảy tiếng bổ trợ vòng ngoài mỗi ngày.
Một tập quán xấu mà tôi thấy dẫu là ở trong hay
ngoài nước nhiều gia đình người Việt thường mắc phải là
quán tính lo lắng cho con cái quá đà. Lúc còn nhỏ cần một
thì nhiều khi bố mẹ đã mua cho tới hai ba, khi trẻ cần chơi
thì đã ép học, học trường chưa thấy đủ còn tranh thủ
học thêm, làm ăn thì chi chút dành dụm cho đủ tới đời con
đời cháu. Vì cho con nhiều nên thấy uy quyền của mình cũng
phải nhiều theo. Chính những điều trên làm nhiều trẻ em
Việt đâm lười biếng, thụ động và thiếu tính độc lập
cần thiết để vào đời.
<h2>Xã hội</h2>
Xã hội chính là phòng trắc nghiệm lớn nhất, nơi
nghiệm thu cuối cùng của sản phẩm trường lớp. Giáo dục
không phải là tôn giáo và sẽ không có ý nghĩa gì khi dạy
toàn chuyện trên trời mà ra đời các em chỉ nhìn thấy cánh
cửa địa ngục. Bánh răng trường và đời ăn khớp thì xã
hội hiền hòa, con người từ trẻ tới già sẽ được đặt
trên căn bản sự tin cậy và ủy thác trách nhiệm. Những tờ
quảng cáo đầu tiên tại phi trường quốc tế Canada là cảnh
sát ở đây khác với nhiều nước khác là người bạn thực
sự của bạn, bạn có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của
họ ở bất kỳ đâu. Thuế vụ Canada thì chỉ căn cứ vào các
thông tin tự khai của các cá nhân để tính thuế. Mọi sự
kiểm tra nếu có hầu như là do sự lựa chọn ngẫu nhiên của
máy tính. Nếu phát hiện có sai sót trong lời khai thì giải
pháp là phải hoàn trả đầy đủ lại cho nhà nước cộng thêm
tiền lãi cho việc nộp thuế sai, muộn. Giải quyết việc với
các cơ quan công quyền chủ yếu qua điện thoại, email, thư
hoặc fax. Nếu có việc cần gặp thì luôn luôn có người tiếp
đón niềm nở và giải thích cặn kẽ. Y tế cơ bản là không
mất tiền với toàn dân nhưng không vì thế mà các nhà thương
"thí" phục vụ công dân thiếu chu đáo. Thực tế không
thấy có sai biệt lớn so với quảng cáo của các cơ quan công
quyền.Vợ tôi đã từng thập tử nhất sinh vì ca sinh khó tại
bệnh viện và có điều kiện được hưởng sự chăm sóc miễn
phí mà tận tình, nồng hậu đến nỗi chỉ mơ ước là khi già
và mỏi mệt thì con gái ruột cũng đối xử với mình được
một phần như vậy.
"Nghèo khó là cha đẻ của cách mạng và tội ác"(8)
nhưng đồng thời "một sự thật là những tội phạm ghê
gớm nhất được gây ra không phải vì thiếu thốn mà vì thừa
thãi"(9). Làm sao để người nghèo không phải lo tiền y tế,
học hành mà còn được trợ cấp từ nhà ở, tiền ăn, tiêu
dùng, trông con, đi lại..., và cả người nghèo cũng như người
giàu không tham của người khác?
Có hôm trước bữa cơm mâm cao cỗ đầy, người bạn
tôi nói với con, mình ăn uống thế này phí phạm quá, thương
cho những đất nước nghèo đói, nơi con người đang thiếu ăn.
Cháu liền thắc mắc, tại sao không chịu nấu mà ăn. Bố cháu
bảo: họ có gì mà nấu. Cháu thắc mắc hơn: tại sao không mở
tủ lạnh lấy đồ ra nấu. Được biết thậm chí không có cả
tủ lạnh, cháu bảo sao không hỏi xin trợ cấp từ chính phủ.
Và khi biết chính phủ nhiều khi toàn làm ngược là "trợ
cấp" cho người giàu và quay lưng trong việc bố thí cho
người nghèo, cháu bảo thế thì bầu chính phủ khác để tìm
cho ra người có khả năng giải quyết chuyện đó. "Đi hỏi
già về nhà hỏi trẻ", nhiều cái suy nghĩ thẳng băng của
trẻ cũng đáng lắm cho người lớn phải suy nghĩ.
Công bằng là khi "những nghề đòi hỏi nhiều kỹ
năng là những nghề ít may rủi nhất... nghề tầm thường
nhất là những nghề không đòi hỏi sự suất sắc"(10). Nhưng
khi thấy ngoài xã hội kẻ tầm thường lại thành công, còn
người suất sắc phải chật vật mới sống qua được ngày
thì học sinh sẽ lấy đâu ra đủ hào hứng và tâm huyết để
dùi mài kinh sử.
<h2>Trường đời</h2>
Là cái lớn hơn tất cả các giảng đường gộp lại.
Chỉ có điều ta phải ở tư thế nào để đón nhận nó. Ở
một xứ công nghiệp điện tử hóa cao như Bắc Mỹ mà tôi
chưa gặp một giáo sư nào đánh giá thấp việc đọc sách in
của trẻ em. Các bà mẹ không còn trẻ lắm nhưng có con đang
học tiểu học quanh nhà tôi có sáng kiến lập Moms & sons reading
club. Các cháu phải tự chọn cuốn sách để đọc và thảo
luận chung. Khi các cháu tranh luận với nhau về cuốn sách ở
phòng bên thì các bà mẹ ngồi bàn luận với nhau về cuốn
sách khác hay chủ đề thú vị gì đó ở nhà ngoài, cùng đề
ra giải pháp và cùng thử áp dụng.
Có bữa một bà giáo sư của Uof T gốc Ireland đề
nghị mọi người tham khảo cuốn Năm ngôn ngữ của tình yêu
"The 5 love languages" của Gary Chapman. Đông hay Tây thì ai cũng
coi trọng giá trị nền tảng của gia đình. Phương Đông thiên
về cách là tính tuổi, chọn ngày lành tháng tốt, cầu may
tránh rủi thì cách của phương Tây là mổ xẻ bản chất của
phong cách giao tiếp và tiếp cận nó cùng xử lý nó theo phương
án chủ động để gìn giữ hạnh phúc gia đình.
Một hôm khác một bà giáo sư gốc Đan Mạch đưa ra ý
kiến là ở Đan Mạch thường không cho trẻ vào nhà trước khi
trời tối. Vì vậy khi còn sáng là phải ra vườn, ra sân chơi
thể thao, đọc sách, tối mới được vào nhà thì thời gian
chả còn mấy để các cháu hí hoáy với máy tính nữa.
Vợ tôi thì đề ra là tất cả máy tính trong nhà phải
để cùng trong một phòng để dễ bề kiểm soát, và sau 12:00
p.m thì tất cả máy tính trong nhà phải được tắt.
Trước cửa nhà tôi có nhà hai cụ già một gốc Đức,
một gốc Hong Kong đều đã ngoài 80, đã dạy chúng tôi thật
nhiều điều. Một hôm thấy cụ người Hong Kong chạy sang cho
chúng tôi mấy cây hoa. Vợ tôi cầm tay bà định đưa qua
đường vì trời đã khá tối mà xe cộ khúc này được chạy
tới 60km/h. Bà cụ cảm ơn và nói tôi còn chưa già, và nhất
quyết không cho dắt. Vợ tôi cứ tấm tắc mãi là nhiều
người chỉ bằng nửa tuổi bà như chúng tôi mà không được
mạnh mẽ và khang kiện về tinh thần như bà. Bà người gốc
Đức thì cứ 5:30 sáng tự phóng xe lên trang trại của bà cách
nhà 120 km, chiều về. Khuôn viên nhà bà hơn 600 m2 luôn sạch
sẽ tinh tươm. Bà sống một mình và không thuê ai làm bất cứ
việc gì dù là nhỏ nhất từ cắt cỏ, tỉa hoa, dọn tuyết và
luôn nói với chúng tôi rằng bà chưa thấy ai chết vì yêu lao
động. Cứ sáng chủ nhật hàng tuần bà mở cửa đón con cháu
bạn bè đến ăn sáng. Bà nói vì yếu sức rồi nên mỗi tuần
bà chỉ có thể làm một bữa sáng vui chung với mọi người.
Chúng tôi học bà dành bữa sáng chủ nhật cho gia đình và đề
nghị các cháu phải tự lo liệu bữa đó cho cả nhà.
Mấy năm trước tôi làm cùng công ty với Jolly – một
BMA từ Ấn sang Canada định cư khoảng 15 năm mà năm nào cũng
kiếm cả triệu đô, trong khi thanh niên Canada học hành chí
chết để khi ra trường mong kiếm việc có lương khởi điểm
là ba bốn chục ngàn $/năm. Kiếm ra ngần ấy tiền sau từng
ấy năm thì dù ở đâu trên dất Canada này cũng không thể gọi
là nghèo được nữa vậy mà Jolly vẫn đi môt xe Daewoo Lanos cũ
giá độ $2000. Hồi đó thanh niên Bắc Mỹ chưa có phong trào đi
xe thân thiện với môi trường như bây giờ, mà rất thích xe
Hummer. Loại xe đó uống xăng như nước, vóc dáng to khỏe, nam
tính như xe tăng trên đường phố. Trong một lần liên hoan các
thanh niên hỏi Jolly là sao chưa mua Hummer chạy? Jolly nói: Chính
bản thân tôi đã là Hummer rồi còn tìm mua làm gì nữa? Nhìn
qua cửa sổ tôi chỉ cho các thanh niên đó hơn hai chục chiếc
Hummer của họ đang đỗ và nói: Ở ngoài kia trông chúng ta
thật may mắn vì có thừa mứa Hummer, nhưng ở trong này chúng ta
vẫn đang thật thiếu Jolly. Sau buổi liên hoan đấy, tình cảm
của chúng tôi đã vượt qua eo biển chật hẹp của tình đồng
nghiệp tiến sâu vào đại dương bao la của tình bạn.
Ông trời quả là đánh đố con người. Thường lúc
tuổi đời và trí óc còn nhiều non nớt thì đã cần phải ra
nhiều quyết định cực kỳ hệ trọng cho cả đời. Cần
hướng nghiệp đúng, chọn nghề gì cho phù hợp làm sinh kế,
yêu thương ai, chọn ai làm bạn đời.... Có lẽ ông trời làm
vậy để khiến kiếp người cứ phải luôn "học, học nữa,
học mãi", học cho tới cái đúng, tránh cái sai, để hoàn
thiện, để phủ định và tái khẳng định, để vân vân và
vân vân... Tạo khả năng độc lập sớm và chắc chắn về tư
duy sẽ giúp giới trẻ nhanh chóng định hình và có được
những chọn lựa hợp lý và đúng đắn.
Henry Ford nói "Anyone who stops learning is old, whether at
twenty or eighty" tạm dịch: ai dừng chuyện học là người già
dù người ấy 20 hay 80. Nói rộng ra, một gia đình hay đất
nước cũng cần như vậy, cần liên tục học hỏi để thích
ứng, tồn tại và phát triển.
Chẳng mấy nữa lại hết Hè! Ít nhất, cần nhắc con
dậy đến trường cho đúng giờ vào ngày thứ ba tuần đầu
tiên của tháng chín.
<em><strong>PHẠM NGỌC CƯƠNG, Toronto Canada
19/8/2012</strong></em>
<h2>Trích dẫn:</h2>
(1); (3); (4); (6);(7);(8);(9);(10)- Aristotle- triết gia vĩ
đại, nhà bác học, nhà tư tưởng Hy Lạp
(2) Solon - một triết gia trong thất hiền Hy Lạp.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13912), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét