Phạm Đình Trọng - Vơi đầy với Campuchia (2)

<h2>2. KHÚC HỒI TƯỞNG</h2>

<h3>KHÚC HỒI TƯỞNG CỦA MỘT NGƯỜI DÂN CAMPUCHIA</h3>

Đưa chúng tôi đi trên những nẻo đường của đất nước
mình, người chủ nhà Campuchia, ông Ym Na Toly, người đàn ông
năm mươi tuổi, kể về gia đình ông trong tai họa Khmer Đỏ.

Ba mẹ Toly đều là giáo viên sống ở Phnom Penh. Khmer Đỏ vào
Phnom Penh sáng ngày mười bảy tháng tư năm 1975, chỉ ba giờ sau
họ gọi loa thúc các gia đình mang theo ba ngày lương thực đến
ngôi chùa gần nhất tập trung học tập làm công dân mới của
nước Campuchia Dân chủ. Những tên lính Khmer Đỏ mang súng AK
Trung Hoa đến từng nhà lùa dân ra khỏi nhà và chỉ đường
đến chùa. Đến các ngôi chùa lại có những họng súng AK
chặn cổng chùa, lùa dân ra đường. Trên đường, những họng
súng AK lùa dân đi về một hướng ra ngoại thành.

Nhìn về phía sau dòng người nối dài như vô tận, nhìn về
phía trước cũng nhấp nhô vô tận dòng người trên đường
số Năm đi về phía Tây, ba Toly hiểu rằng đây chỉ là cú
lừa đầu tiên của Khmer Đỏ. Họ bảo dân mang ba ngày gạo
đến ngôi chùa gần nhà nhất để dân yên tâm là chỉ tạm
rời nhà ba ngày rồi lại trở về sống yên ổn nên cứ để
lại nhà tất cả của cải quí giá cho quân Khmer Đỏ đến vơ
vét. Họ đã lệnh ra khỏi nhà, không ra cũng không được.
Dưới họng súng của họ, đến chùa hay đến đâu cũng vậy
thôi. Cú lừa này người dân dù mất sạch của cải, tài sản
quí giá nhưng vẫn còn giữ được mạng sống. Rồi sẽ còn
nhiều cú lừa làm mất cả mạng sống nữa. Phải giấu mình
thật kĩ để họ không biết mình là ai và chớ có tin những
điều họ nói. Rút ra cách ứng xử đó với Khmer Đỏ, ba Toly
liền đổi tên của ba, mẹ và bảo ba anh em Toly phải quên tên
cũ của ba mẹ đi, phải nhớ tên mới của ba mẹ mà gọi. Để
nhắc nhở ba đứa con còn quá nhỏ, ba mẹ Toly luôn thì thầm
gọi nhau bằng tên mới. Tiếng gọi nhỏ nhẹ chỉ đủ để anh
em Toly nghe được.

Nhìn thấy một người cao gày từ phía sau đi lên đến ngay bên
cạnh, ba Toly nhận ra đó là thầy giáo trẻ cùng trường. Thầy
giáo đó cũng vừa nhìn thấy ba Toly, ba Toly vội nhìn lảng đi
như không hề quen biết rồi ba kéo cả gia đình đi tụt lại
phía sau, lẩn trốn.

Không tin điều Khmer Đỏ nói, nhiều lần Khmer Đỏ thông báo
rằng ai làm gì trong chế độ cũ thì khai báo để Khmer Đỏ
sắp xếp về làm công việc cũ, ba Toly đều không khai báo.
Khmer Đỏ hỏi, ba Toly cũng nói rằng không có nghề nghiệp gì,
chỉ mang sức đi làm mướn kiếm sống. Nhờ thế ba Toly mới
sống sót đến ngày trốn vào rừng. Tin lời Khmer Đỏ, thầy
giáo trẻ cao gày cùng trường với ba Toly đã khai với Khmer
Đỏ nghề nghiệp dạy học của thầy và xin trở về trường
cũ liền bị Khmer Đỏ đưa đi mất tích và bị thủ tiêu ở
đâu đó, không bao giờ ba Toly còn gặp lại thầy nữa.

Trong không khí ảm đạm, não nề, thỉnh thoảng lại đột
ngột rộ lên tiếng súng lính Khmer Đỏ bắn chết người chạy
trốn, bắn chết người vốn là dân thành phố không quen đi
bộ, bây giờ chân đau, không lê chân nổi nữa, bắn chết
người trái ý Khmer Đỏ. Trong hốt hoảng, náo loạn, hai đứa
em trai của Toly, đứa tám tuổi, đứa sáu tuổi bị lạc và
cũng đã chết đói chết khát ở đâu đó không bao giờ trở
về nữa. Không được đi tìm con, mẹ Toly chỉ dấm dứt khóc
cũng bị lính Khmer Đỏ dí súng vào sườn không cho khóc.

Đến điểm dừng, một cánh đồng bỏ hoang đã lâu, các gia
đình đều bị xé ra, đều bị xóa sổ, không có đơn vị gia
đình nữa, chỉ có những đơn vị là đội sản xuất. Ba Toly
về đội đàn ông. Mẹ Toly về đội đàn bà. Toly mười ba
tuổi về đội trẻ con đi chăn bò. Mười bốn tuổi, Toly
được chuyển lên đội người lớn phải làm ruộng nặng
nhọc hơn nhưng Toly mừng lắm vì là người lớn, Toly có thể
được tuyển vào lính Khmer Đỏ, được ăn cơm no, còn chăn bò
hay làm ruộng đều chỉ được ngày hai bữa cháo, đói lả
vẫn phải làm đủ định mức. Mong trở thành lính Khmer Đỏ
chỉ để được ăn no chứ Toly không thể ác, không thể bắn
giết dân như những tên lính ác ôn áo đen mù chữ.

Ở đội chăn bò hay đội sản xuất, luôn có những người bị
Khmer Đỏ đưa đi mất tích. Đứa bạn của Toly làm mất một
con bò, liền bị Khmer Đỏ gọi đi không bao giờ trở về nữa.
Ở đội sản xuất có ông trắng trẻo, bị cận thị nặng mà
không dám mang kính, ông chỉ nói là bị đau mắt. Mang kính
trắng ắt hẳn là trí thức sẽ bị Khmer Đỏ lôi đi thủ tiêu
ngay. Năm giờ sáng báo thức, ông cáo bệnh không dậy được,
lính Khmer Đỏ cho ông nằm lại lán. Hôm sau lính Khmer Đỏ đưa
ông đi khám bệnh và ông biến luôn khỏi cõi đời từ đó.

Toly chưa được ăn bữa cơm nào của Khmer Đỏ vì Toly chưa
trở thành lính Khmer Đỏ thì quân đội Việt Nam đến, quân
Khmer Đỏ diệt chủng tháo chạy đến tận biên giới Thái Lan.
Toly đến đội phụ nữ tìm mẹ. Hai mẹ con Toly về nhà ở
Phnôm Pênh hôm trước thì hôm sau ba Toly cũng về. Ba trốn vào
rừng tham gia kháng chiến chống Khmer Đỏ nay cùng đội quân
cách mạng trở về giải phóng Phnôm Pênh. Nhưng ở đoạn phố
nhà Toly có rất nhiều nhà không còn người nào sống sót trở
về. Trước tháng tư năm 1975, Campuchia có bảy triệu dân.
Thống kê dân số sau khi Campuchia thoát khỏi tai họa Khmer Đỏ,
Campuchia chỉ còn hơn ba triệu dân. Chỉ ba năm rưỡi dưới
họng súng Khmer Đỏ, hơn ba triệu dân Campuchia đã bị giết.

<h3>KHÚC HỒI TƯỞNG CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM</h3>

Trong chiến dịch giải phóng Campuchia khỏi họa diệt chủng Pôn
Pốt, tháng giêng năm 1979, Tổng cục Chính trị cử tôi thuộc
tạp chí Văn nghệ Quân đội và hai họa sĩ của xưởng Mĩ
thuật Quân đội, trung úy họa sĩ Nguyễn Cương và trung úy
họa sĩ Đỗ Sơn đi với mũi tiến quân của Hải quân đánh
chiếm cảng Sihanoukville.

Chở hết lực lượng chiến đấu tập kết ở đảo Phú Quốc
rồi một chiếc tàu chiến nhỏ mới chở ba chúng tôi đi từ
bến Bạch Đằng ở Sài Gòn. Chiều 7.1.1979 chúng tôi đến quân
cảng An Thới ở phía nam đảo Phú Quốc. Tôi nhận ra ba chiếc
tàu của đoàn tàu không số chở vũ khí vào miền Nam thời
chiến tranh Nam – Bắc đang ăn hàng ở cầu cảng. Những
người đàn ông dân sự cởi trần vác những bao gạo, những
hòm đạn từ những chiếc ô tô vận tải cũng của dân sự,
chạy rầm rập xuống tàu. Ở cầu cảng bên cạnh, mấy chiếc
tàu chiến neo đậu. Tôi chú ý đến chiếc tàu 215 vì ở mũi
tàu có vết đạn xuyên thủng toác và những vết đạn nhỏ
đục lấm chấm trên thành tàu.

Cuộc chiến đấu trên đất Kampong Som nơi có cảng Sihanoukville
đang diễn ra ác liệt. Nhưng chưa có tàu sang vùng đất chiến
sự, chúng tôi phải về Bộ tư lệnh vùng Năm Hải quân trên
đảo Phú Quốc chờ đợi. Ba ngày ở lại Bộ tư lệnh vùng
Năm tôi đã gặp thượng tá Tuấn, Phó tư lệnh vùng Năm nắm
bắt diễn biến chiến sự. Khi biết tàu 215 vừa tham chiến
trở về tôi liền xuống tàu gặp những người lính biển vừa
đọ sức với tàu chiến hiện đại của Trung Quốc trang bị
cho Khmer Đỏ.

Thuyền phó, trung úy Nguyễn Hồng Sâm sau khi kể lại trận
đánh nhiều mất mát của tàu 215 đã giữ tôi ở lại bằng
được ăn với những người lính sống sót trên tàu một bữa
cơm cho bữa cơm trên tàu đỡ vắng. Trung úy Sâm nói rằng anh
vẫn chưa quen được sự trống hụt quá nhiều vị trí trên
tàu. Đến bữa cơm, cả tàu quây quần, sự trống hụt càng
lớn nên anh cứ thấy trống chếnh, dù đói cũng không muốn
ăn. Bốn người hi sinh đã đưa lên nghĩa trang An Thới. Năm
người bị thương nặng, cả thuyền trưởng, thuyền phó thứ
nhất, chính trị viên, ngành trưởng cơ điện, đều bị
thương đã chuyển lên viện quân y vùng Năm. Cơm nóng thơm mùi
gạo mới. Cá thu kho với hạt tiêu tươi để cả chùm cũng
thơm lừng nhưng bữa ăn lặng lẽ và kết thúc nhanh chóng. Tôi
muốn mở lời xóa đi không khí nặng trịch mà không mở lời
nổi. Bữa cơm trên tàu 215 đã cho tôi cảm nhận được sự ác
liệt của mặt trận Sihanoukville.

Hôm sau chúng tôi mới đi theo chiếc tàu chở đạn sang
Sihanoukville đã thuộc quyền kiểm soát của Quân đội Việt
Nam.

Phía ngoài cảng biển Sihanoukville là chuỗi đảo san sát, nhấp
nhô. Màu xanh lá cây của đảo nối liền thành vệt dài làm cho
cảng biển Sihanoukville như một cảng sông kín đáo và phẳng
lặng. Trên cảng, mặt bê tông của cầu cảng rộng dài còn
mới nguyên, sạch bong, không một vết bụi. Bộ chỉ huy tiền
phương của Hải quân Việt Nam đặt trên chiếc tàu vận tải
lớn HQ501 neo ở cầu cảng. Trên cột cờ cao nhất giữa tàu,
phần phật bay lá cờ đỏ có hình năm ngọn tháp vàng. Chúng
tôi đeo ba lô về ở với bộ sậu đông đảo giúp việc Bộ
chỉ huy tiền Phương là các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu
cần ở cả trong nhà kho mới xây rộng mênh mông trên cảng.
Những túm sợi bông trắng phau vương tung tóe trong nhà kho. Một
nửa nhà kho chất đầy những bao bông nén thành khối đợi
xuống tàu xuất khẩu. Trên bãi cảng thênh thang, quân Khmer Đỏ
còn để lại những chiếc xe tăng mới nguyên, những khẩu pháo
lớn còn phủ lớp mỡ dày mới bốc từ dưới tàu lên. Trên
tăng, trên pháo đều in rõ những hàng chữ Hán. Cảng
Sihanoukville như vừa được xây mới hoàn toàn cho những con tàu
lớn chở vũ khí viện trợ của Trung Hoa cấp tập cập cảng.

Tuy đã làm chủ được Sihanoukville nhưng một không khí âm
thầm lặng lẽ bao trùm Bộ chỉ huy tiền phương Hải quân.
Trận đánh vào Sihanoukville, Hải quân Việt Nam bị tổn thất
lớn. Thượng tá Luật, chính ủy lữ đoàn lính thủy đánh bộ
126 và nhiều sĩ quan, chiến sĩ Hải quân đang còn mất tích,
thất lạc trong rừng. Bộ chỉ huy tiền phương đang tổ chức
nhiều mũi chiến đấu thọc sâu vào rừng tìm kiếm. Quân Khmer
Đỏ chỉ bị đánh bật khỏi Sihanoukville, bị đánh bật khỏi
những căn cứ tập trung, chúng chỉ tan rã chứ chưa bị tiêu
diệt. Dải rừng bạt ngàn hai bên đường số Bốn, bao quanh
Sihanoukville vẫn là đất của chúng. Những mũi chiến đấu
nhỏ lẻ thọc sâu trong rừng, thọc sâu vào nơi quân Khmer Đỏ
lẩn trốn, thực sự là những mũi cảm tử. Ở Bộ chỉ huy,
những đài vô tuyến điện giữ liên lạc với các mũi cảm
tử luôn phải nín thở lắng nghe và nét mặt từ quan đến
lính ở Bộ chỉ huy đều lộ rõ sự căng thẳng. Tuy vậy
thượng tá Phó Chủ nhiệm chính trị quân chủng Hải quân Lê
Văn Xuân cũng dành thời gian cho tôi được hỏi ông nhiều
điều.

Từ cảng Sihanoukville, chiếc xe jeep của trung đoàn 66 đưa tôi
vào thị xã Kampong Som, đến sư đoàn 304. Đại úy Điều,
trưởng ban Tuyên huấn sư đoàn kể với tôi chặng đường
đến Sihanoukville của sư đoàn. Ngày 20.12.1978, từ Đà Nẵng,
sư đoàn đi theo hai ngả. Ngả đường không: Máy bay AN26 đưa
sư đoàn bộ và trung đoàn 9 từ Đà Nẵng vào Cần Thơ. Ô tô
của quân khu 9 đưa tiếp vào Ba Chúc, Bảy Núi. Ngả đường
bộ: Ô tô tải của sư đoàn chở trung đoàn 24, trung đoàn 66,
trung đoàn pháo, tiểu đoàn thông tin, tiểu đoàn công binh, theo
đường số Một bon bon về phía Nam. Ngày 26.12.1978, sư đoàn có
mặt đầy đủ ở Ba Chúc. Ngày 1.1.1979 sư đoàn nổ súng đánh
Khmer Đỏ ở chân núi Tượng sát biên giới. Ngày 9.1.1979 vào
Sihanoukville.

Những thông tin xác thực từ thượng tá Tuấn, thượng tá
Xuân, đại úy Điều, chuyện kể của trung úy, thuyền phó
Nguyễn Hồng Sâm tàu 215 đã cho tôi hình dung được đầy đủ,
chân thực trận đánh khó khăn, nhiều mất mát để giành
Sihanoukville từ tay Khmer Đỏ.

Đêm 6.1.1979, mở màn chiến dịch đánh Sihanoukville bằng tiếng
súng của đại đội đặc công đánh chiếm trận địa pháo
bảo vệ bờ biển của Khmer Đỏ và tiếng nổ của pháo 130
nòng dài từ bắc đảo Phú Quốc bắn sang những căn cứ Khmer
Đỏ ở Kampong Som. Ngoài biển, lực lượng tàu chiến đấu
tạo thành vành đai ngăn chặn tàu Khmer Đỏ từ quân cảng Ream,
từ cảng Sihanoukville đánh ra, bảo vệ bãi đổ quân của lữ
đoàn 126 và lữ đoàn 101 lính thủy đánh bộ. Tàu 215 và tàu
203 chốt chặn hướng chủ yếu. Tàu 199 và tàu 613 còn là đài
trinh sát pháo binh, quan sát điểm rơi của đạn pháo để trận
địa pháo trên đảo Phú Quốc điều chỉnh tầm bắn. Tàu HQ05
chốt ở ngoài cùng.

Sự cố xảy ra khi mới đổ được ba tiểu đoàn lính thủy
đánh bộ cùng một số xe tăng, xe lội nước lên chân núi Bokor
thì nước triều lên ngập bãi đổ quân, tàu đổ quân đành
rút ra. Còn lữ đoàn 101, ba tiểu đoàn của lữ đoàn 126 và
số lớn xe, pháo, ô tô chở quân chưa lên được.
Cuộc đổ quân đang diễn ra thì cuộc đụng độ trên biển
bắt đầu. 22 giờ 30, kì hạm 203 chỉ thị mục tiêu và tàu 215
cũng phát hiện bốn tàu Khmer Đỏ từ hướng quân cảng Ream lao
đến. Nhìn hướng tiến, biết chúng có ý định đột phá vào
khoảng giữa tàu 215 và kì hạm 203 để vào bãi đổ bộ của
lực lượng lính thủy đánh bộ Việt Nam. Đến cự li tầm
bắn có hiệu quả, chiếc đi đầu xối xả nã đạn về phía
tàu 215 và tàu 203. Kì hạm 203 lệnh cho tàu 215 di chuyển để
lưới lửa của tàu 203 và tàu 215 đan chéo cánh xẻ vào chiếc
tàu Khmer Đỏ đi đầu. Một loạt đạn 37 li của tàu 215 quất
trúng mục tiêu, chiếc tàu Khmer Đỏ chạy chậm lại và không
ổn định hướng rồi chìm nghỉm. Ba chiếc còn lại quay đầu
tháo chạy.

Gần sáng ngày 7.1.1979, nhiều tiếng nổ dữ dội ở hướng tàu
HQ05 chốt chặn. Kì hạm 203 lệnh cho tàu 215 cùng tiến về phía
tiếng súng. Trời sáng rõ, tàu 215 nhận ra bốn tàu 100 tấn cao
tốc của Khmer Đỏ quây đánh tàu HQ05. Tàu cao tốc của Khmer
Đỏ có tốc độ 38 hải lí giờ, gần gấp đôi tốc độ tàu
HQ05 của Việt Nam chỉ 20 hải lí giờ. Tàu 215 và 203 cùng nổ
súng thu hút tàu Khmer Đỏ. Bị đánh trả từ hai hướng, tàu
Khmer Đỏ không còn ở thế chủ động tấn công, tốc độ cao
không còn là ưu thế nữa. Bây giờ hỏa lực sẽ quyết định
mà hỏa lực thì các tàu Hải quân Việt Nam áp đảo. Hai tàu
Khmer Đỏ bị trúng đạn bỏ chạy, hai chiếc còn lại phải
chạy theo. Kì hạm 203 lệnh cho 215 truy kích. Đang tăng tốc
đuổi theo chiếc tàu Khmer Đỏ dính đạn chạy sau thì tàu 215
chết máy khựng lại. Lập tức, hai tàu Khmer Đỏ quay lại quây
đánh tàu 215. Khi tàu 203 giải cứu, đánh đuổi tàu Khmer Đỏ
thì tàu 215 đã bị thương tích nặng nề. Hai pháo thủ của
khẩu 37 li, một hàng hải và một cơ điện hi sinh. Thuyền
trưởng Nguyễn Thiện Doanh, thuyền phó Đỗ Văn Thành, chính
trị viên Lê Đình Khuyến, hai cơ điện Tạ Văn Chương, Lê
Hồng Quyên bị thương nặng.

Nhưng thương vong nặng nhất lại là cuộc chiến trên đất
bằng. Ba tiểu đoàn của lữ đoàn 126 cùng một phần sở chỉ
huy lữ đoàn vừa đổ bộ lên chân núi Bokor, chưa kịp tập
hợp đội hình thì pháo Khmer Đỏ dập xuống. Từ trong bóng
đêm của dải rừng bao quanh, những tên lính áo đen của man
rợ, của chết chóc, như từ bóng đêm trung cổ ào ra. Thiếu
tá tham mưu trưởng lữ đoàn, đại úy trưởng ban tác chiến,
trung úy Vũ Hiến phóng viên báo Hải quân hi sinh. Cả tổ đài
thông tin vô tuyến điện của sở chỉ huy đều bị thương
vong. Thượng tá Luật chính ủy lữ đoàn 126 bị thương được
những người lính thân cận bên ông dìu chạy vào rừng.

Trong tình thế nếu cứ chôn chân ở chân núi Bokor đợi đổ
xong quân, đợi xe pháo, đợi có chỉ huy thì sẽ là tấm bia
sống cho những nòng súng Khmer Đỏ, vì thế rạng sáng ngày
7.1.1979, một tiểu đoàn trưởng của lữ đoàn 126 đã đưa
quân lên 12 xe tăng và xe bọc thép đơn độc tiến đánh
Sihanoukville. Một ngày một đêm chiến đấu, chỉ còn vài
người sống sót chạy vào rừng, tiểu đoàn bị xóa sổ.

Theo phương án tác chiến, lực lượng mạnh của Hải quân gồm
lữ đoàn 126 và lữ đoàn 101 lính thủy đánh bộ từ chân núi
Bokor theo con đường số Ba ven biển đánh chiếm Veal Renh rồi
theo đường số Bốn đánh vào cảng Sihanoukville và quân cảng
Ream. Nay cuộc chiến đang quyết liệt mà lực lượng Hải quân
Việt Nam tham chiến vẫn chưa đổ bộ xong quân mà lại phải
chia lực lượng đi tìm quân thương vong tan tác trong rừng, lại
không còn nắm thế chủ động nữa! Sư đoàn bộ binh 304
được tung vào trận đánh Sihanoukville trong tình thế đó.

Trong đội hình Quân đoàn 2 ở hướng thứ yếu, sư đoàn 304
là lực lượng dự bị chiến dịch. Sư đoàn sẽ là lực
lượng đánh vào Phnom Penh trong đợt hai, đợt ba, nếu cuộc
chiến ở Phnom Penh phải kéo dài. Trước sức tấn công của
các sư đoàn thiện chiến Việt Nam, quân Khmer Đỏ ở hướng
phòng thủ phía Đông nhanh chóng vỡ trận, Quân đoàn 4 Việt Nam
tiến rất nhanh vào Phnom Penh. Ngày 7.1.1979 Quân đoàn 4 đã làm
chủ Phnom Penh. Sư đoàn 304 liền được điều đi chi viện cho
mặt trận Kampong Som. Ngày 8.1.1979 trung đoàn bộ binh 9 cùng lữ
đoàn xe tăng 203 giải phóng Ream. Ngày 9.1.1979, trung đoàn bộ
binh 66 cùng với Hải quân đánh chiếm xong Sihanoukville. Ngày hôm
sau, 10.1.1979, chiếc xe jeep của trung đoàn 66 đã đưa tôi từ
Sihanoukville lên sở chỉ huy sư đoàn 304 ở thị xã Kampong Som.

Hai ông bạn họa sĩ cùng đi chiến dịch với tôi đã về Sài
Gòn trước rồi. Tối 30.1.1979, tôi đeo ba lô xuống tàu 683 khi
những người lính vẫn đang hối hả chuyển những hòm đạn
từ tàu lên cảng. Bốc hết đạn lúc nào, tàu sẽ nhổ neo về
Sài Gòn lúc đó. Đến nửa đêm, còn gần 100 tấn đạn dưới
tàu nhưng tàu được lệnh dừng bốc đạn để đưa thi thể
thượng tá chính ủy Luật về nước ngay trong đêm. Thi thể
thượng tá Luật cùng thi thể hai chiến sĩ được bọc trong
nhiều lớp túi ni lông đặt ở mũi tàu. 1 giờ 30 đêm, tàu
rời cảng Sihanoukville. Chiều hôm trước, 29.1.1979, mũi xục
xạo trong rừng của trung tá Trịch tìm thấy nhóm người đi
với thượng tá Luật nhưng thượng tá Luật đã chết trước
đó mười ngày, từ ngày 19.1.1979.

Tàu không về Sài Gòn mà về Phú Quốc. Nằm trong buồng hàng
hải trên tàu, tôi đã thức trọn đêm. Gió biển ù ù vật vã
thổi vào căn buồng hẹp tôi nằm đưa tôi trở về với tiếng
gió ù ù thổi trong câu thơ Chinh phụ ngâm, ù ù thổi trong
lịch sử Việt Nam: Hồn tử sĩ gió ù ù thổi / Mặt chinh phu
trăng dõi dõi soi. Tự nhiên tôi thấy cay cay nơi sống mũi và
nước mắt lấp xấp ướt mi. Những người lính Việt Nam
thời Chinh Phụ Ngâm đổ máu để giữ gìn mảnh đất Việt Nam
yêu thương. Những người lính Việt Nam hôm nay còn đổ máu vì
sự bình yên của cây thốt nốt, vì những giá trị của sử
thi đá thăm thẳm ở đền đài Angkor.

Mờ sáng, tôi lại nhìn thấy cảng An Thới nhưng không thấy con
tàu 215 thương tích đầy mình ở cầu cảng nữa. Ba người
lính hi sinh được đưa lên bờ khâm liệm nhưng chỉ có
thượng tá Luật trong chiếc quan tài mộc không sơn vẽ, còn
tươi màu gỗ rừng Phú Quốc cùng về Sài Gòn với chúng tôi
trong chuyến máy bay lên thẳng bay từ sân bay dã chiến An Thới
về sân bay Tân Sơn Nhất.

(còn tiếp)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13681), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét