Mãi đến cuối tháng bảy, dường như nước Đức mới thực
sự vào hè. Nắng không gắt như ở quê nhà, nhưng đã đủ
sức kéo cái nóng ngoài trời lên đến gần 30 độ. Cơn gió
chiều cuốn theo hơi nước, từ những dòng sông chạy quanh
thành phố, như phả trên mặt đường. Những cánh rừng xanh
ngát, vươn lên như hai cánh tay ôm chặt lấy thành phố. Ngày
cuối tuần, Leipzig như chìm vào trong giấc ngủ. Thi thoảng đâu
đó có tiếng động cơ xe hơi, xe máy lạc lõng, rộ lên. Nếu
không phải đi Mannheim, dự đám cưới con gái ông bạn từ
thuở hàn vi, của những ngày đầu sang Đức, giờ này, có lẽ
chúng tôi thong thả đạp xe, cùng dòng người đổ về bãi tắm
ngoài trời, hay những khu nhà vườn của thành phố.
Từ Leipzig đến Mannheim khoảng chừng 500 km, nên chúng tôi đi
chung một xe do Tiến Bọ cùng đội lò mổ cũ, cầm lái. Thằng
này trước đây là bộ đội đặc công, đã có mấy năm đánh
đấm ở biên giới phía Bắc. Nghe nó kể, nhiều lần quần nhau
tay bo với giặc Tầu, nhưng chưa hề bị thương. Nó cũng
được liệt vào dân anh chị về cái khoản rượu bia. Phân
xưởng pha thịt, có mấy chục thằng Tây, Ta nhưng chỉ có nó
và một thằng người Đức đủ sức, mỗi ca kéo hàng ngàn con
lợn nặng cả tạ trên dây chuyền xuống cho vào máy cưa. Phải
nói thật làm công việc giết mổ, trong nhà lạnh, nếu không
có chút men rượu không thể làm nổi (dù có luật cấm). Trong
một lần tơ lơ mơ như vậy, nó bị cưa thiến đứt phăng hai
ngón tay. Từ đó, nó thề không bao giờ uống rượu nữa.
Đường xa, lại được ngồi ghế sau, nên chúng tôi thủ sẵn
bia rượu và đồ nhậu. Lên xe, Tiến Bọ bật nhạc ầm ĩ. Mà
hình như CD của nó chỉ có rặt một loại nhạc của Nguyễn
Trọng Tạo (NTT). Lúc đầu, rượu mới dạo hiệp một, lại
được úp mặt vào sông quê, nghe ngọt ngào quá, mấy thằng
tôi sướng tởn lên… Rồi xe chạy được nửa đường, rượu
đã ngấm, vẫn thấy Khúc Hát Sông Quê với Làng Quan Họ réo
rắt, tua đi đảo lại đều đều. Thì ra, mấy bài hát này, nó
thu nhiều lần trong một CD. Ông bạn ngồi cạnh, cằn nhằn,
nhạc ông Tạo hay thì hay thật, nhưng nghe nhiều nhàm, đề
nghị thay đĩa khác. Nó cười cười, ấn CD bên cạnh. Giời
đất ạ! Lại bác Tạo. Không hiểu nó lấy đâu ra cái CD, bác
Tạo hát bo (không nhạc đệm) những bài của mình. Khi bác Tạo
vừa dứt, lại thấy giọng ông ổng, tồ tồ nhão nhoẹt của
nó cất lên. Nghe nhạc đệm và tiếng hát của nó lạc làm hai
phía, như đang chửi nhau vậy. Chịu hết nổi, chúng tôi đồng
thanh: Tắt máy. Nó quắc mắt, các bố uống say thì ngủ đi,
tôi không nghe nhạc bác Tạo, ngủ gật, chết cả lũ đấy.
Lúc về, tưởng thoát, nhưng không, lên xe, nó lại chương trình
thơ bác Tạo. Qủa thật, tôi chưa thấy ai yêu điên cuồng
Nguyễn Trọng Tạo như thằng này. Đàn bà mà cuồng kiểu này,
có lẽ bác Tạo gặp rắc rối to rồi. Nó sưu tầm tất cả
những bài thơ của bác Tạo, đã được đọc và ghi âm ở thư
viện Audio, hay ở đâu đó vào đĩa CD, để trên xe. Cứ lên xe
là nó bật nghe cho đến lúc dừng xe tắt máy, dù đường đi
có bao xa và cũng không cần biết cảm giác của người ngồi
bên. Nếu như trong phê bình văn chương, bác Tạo cho bác Hảo
(Trần Mạnh Hảo) là người cực đoan, thì cái thằng này cực
đoan vào dạng bác Hảo phải gọi là sư phụ. Ai mà đi xe của
nó, chỉ cần một câu chê thơ, nhạc của Nguyễn Trọng Tạo,
bảo đảm bị đuổi xuống xe ngay. Tôi thân nó đã mấy chục
năm, nhưng cũng không ngoại lệ, ức quá bảo, lần sau không ké
xe của nó nữa. Nhưng đi hội hè, đình đám, gặp bạn bè, có
bia rượu, mấy thằng sâu rượu chúng tôi không sao cưỡng lại
được, lúc về đều khật khừ cả, nên lại tranh nhau trèo
lên xe của nó.
Không chỉ chúng tôi, mà còn rất nhiều người thích, yêu thơ,
nhạc NTT, nhưng cả ngàn cây số, mất tám, chín giờ chạy xe,
dện ròng rã, duy nhất nhạc, thơ NTT, có lẽ chỉ có nó là
một.
Dài dòng một chút, kể lại câu chuyện trên, cũng để khảng
định một điều nữa, dù ở bất cứ nơi đâu, trong hoàn
cảnh nào, người thưởng ngoạn, không bao giờ ngoảnh mặt,
quay lưng lại với thi ca. Nếu như lời thơ và câu hát đó gõ
được vào ký ức và tâm hồn, hay lột tả những gì đang
diễn ra trong cuộc sống thường nhật của họ, một cách chân
thật nhất. Trong tình trạng thơ ca và xã hội hiện nay, Nguyễn
Trọng Tạo, là một trong số rất ít các nhà thơ đã làm
được điều này.
Nguyễn Trọng Tạo là một người đa tài, trong lãnh vực nào
ông cũng để lại một số tác phẩm gim vào lòng người. Vì
vậy, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha có lý, khi anh cho rằng, sau Văn
Cao, Nguyễn Đình Thi là Nguyễn Trọng Tạo. Điều này, có lẽ
Nguyễn Thụy Kha chỉ muốn nhắc đến sự tài hoa trong nhiều
lãnh vực, chứ không có ý so sánh tài năng của họ. Vì tài
năng khí chất trong thi ca, cũng như tính cách Nguyễn Trọng Tạo
rất khác so với Nguyễn Đình Thi.
Có thể nói, nếu như Nguyễn Trọng Tạo không được sinh ra và
lớn lên trên mảnh đất Miền Trung sắt se đầy nắng gió, có
những lời ru câu hát làm mát rượi trưa hè, thì có lẽ tài
năng của ông sẽ đi theo con đường khác. Những điệu Ví,
lời ru ấy như dòng sữa mẹ, đã nuôi lớn tâm hồn thi ca
Nguyễn Trọng Tạo. Do vậy, sau tài năng của nhà thơ hương
đồng gió nội Nguyễn Bính, người mà tôi nghĩ đến phải là
Nguyễn Trọng Tạo. Cái chất ca dao, lục bát từ tiền nhân đã
được NTT nhân lên, và làm mới đi rất nhiều, nhưng sự
mượt mà, gần gũi của trời đất, con người, đồng quê vẫn
còn đó. Đồng Dao Cho Người Lớn, là một trong những bài tiêu
biểu:
"…Có cha có mẹ có trẻ mồ côi
Có ông trăng rằm nào phải mâm xôi
Có cả đất trời mà không nhà ở
Có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
Mà thuyền vẫn sóng mà xanh vẫn cỏ
Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
Có thương có nhớ có khóc có cười
Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi".
Không được đọc NTT một cách có hệ thống, nhưng tôi cảm
giác, dường ông làm thơ, viết nhạc từ những cảm hứng bất
chợt, hay một ký ức xa xăm nào đó đột nhiên trở về. Thơ
của NTT đa dạng, từ ngữ mộc mạc, nhiều khi không theo một
trình tự nhất định, nên hay tạo ra được những hiệu quả
làm bất ngờ cho người đọc. Có lẽ trong văn học sử Việt
Nam, chỉ có NTT mới dám gửi gắm tâm sự, ví tình yêu của
mình với những chồn cáo, nồi niêu, xoong chảo…rồi đưa
thẳng nó đến với thi ca. Những câu tầm thường, cửa miệng
ấy trong thơ ông, đọc lên ta thấy cay cay, ngồ ngộ:
"Anh cây chổi tựa mòn góc bếp
Anh cái chảo mốc meo
Anh con mèo đói kêu khan
Anh con chồn hoang ngủ vùi trong hốc tối
Ngày không em
Anh làm gì với gió
Gió mềm mại dáng em
Anh làm gì với lửa
Lửa cháy môi em
Anh làm gì với cơn mưa giật liên hồi tiếng nấc…" (Ngày
Không Em)
Văn hóa nói chung và thi ca nói riêng, đều có tính kế thừa,
chuyển tiếp như những ngành khoa học tự nhiên khác. Yếu tố
địa lý cũng quyết định một phần không nhỏ cho sự phát
triển, sàng lọc tạo nên nét văn hóa đặc trưng vùng miền,
hay của một quốc gia. Nếu không có sự chuyển tiếp, kế
thừa này thì xã hội không khác gì một cơ thể có những tế
bào bị biến dị tạo nên căn bệnh ung thư, và như người bị
chối bỏ cuội nguồn, đánh mất đi phần linh hồn. Cuộc sống
Nguyễn Trọng Tạo có nhiều khúc gấp, nên phải bươn trải
sống ở nhiều vùng miền. Những văn hóa đặc trưng vùng miền
ấy, đã thổi vào tâm hồn ông một cách tự nhiên, với những
sắc thái khác nhau. Do vậy, khi nghe và đọc thi ca NTT, ta vẫn
thoáng nhận ra, âm sắc của từng làn điệu, dân ca dù đã hòa
trộn vào nhau. Sự hòa trộn ấy, tạo nên một cái gì đó mới
lạ nhưng cũng rất gần gũi. Sự dung hòa giữa cũ và mới, đã
làm mát dịu hồn thơ NTT. Linh hồn Việt, nhưng đã tạo dựng
nên dáng hình rất Tây của bài thơ Mùa Thu Áo Ấm dưới đây
là một thí dụ:
"Đồi núi. Thông xanh. Villa. Biệt thự
áo ấm. Dù hoa. Má đỏ. Tóc mềm
những con đường. Những con đường. Cao.Thấp
ngày bốn mùa. Đà lạt. Chập chùng. Em.
Em cười nói tự thuở nào thác đổ
Langbian. Nghiêng. Thung lũng tình yêu
Ôi! Sự sống nơi đỉnh trời chân cỏ
thoáng heo may. Nghe mình chợt sang chiều.
Tôi bạn bè cùng mùa rau xứ lạnh
cùng cải chua. Cà muối. Khô nai
cùng rượu chát
Cùng đớn đau thông rụng
Giọng buồn tôi run rẩy phát qua đài.
Những hồ, bãi tắm tự nhiên ở Đức, hình như nơi nào cũng
giành một khu, cho những ai muốn tắm, phơi nắng trần truồng.
Ngày mới sang, chúng tôi thấy mới nên khoái, rủ nhau ra hồ.
Đến nơi chẳng thằng nào đủ dũng khí cởi quần áo, trần
như nhộng giống những người xung quanh. Mặc nguyên quần áo
thấy kỳ, nên chúng tôi giả vờ đến Imbiss mua bia, lai rai.
Tắm chán, đói, các cô mười sáu, mười bảy, mảnh mai, thon
thả đến các bà sồn sồn, tồng ngồng, lên mua đồ ăn. Chà
chà…trắng, vàng, hồng, rực cả một góc trời, nhìn như một
bầy thiên nga đang hạ thế. Ấy vậy, chỉ một vài lần chúng
tôi chán, không còn hứng thú ra bãi tắm nữa. Sau này có mấy
bác già vụ trưởng, thứ trưởng của Bộ Nông Nghiệp, sang
công tác, công teo gì đó, nhờ chúng tôi đưa đi. Có bác hăng
lên, mang theo cả ống nhòm, đứng núp từ bụi cây xa "mục
sở thị". Vài lần như vậy, rồi không thấy bác nào nhắc,
nhờ đưa đi bãi tắm tiên nữa. Từ đó, tôi rút ra một
điều, những cảnh trần trụi, kịch đường tầu như vậy đã
làm giảm mất sự tò mò, khám phá lâu dài. Hơn nữa, nó không
thích hợp với nếp suy nghĩ, tâm hồn, văn hóa sinh hoạt của
người Việt và những nước Á Châu, chịu ảnh hưởng lâu
đời của Phật giáo, nho học.
Tôi có thằng bạn thân, từ thuở khố rách áo ôm, ba, bốn
đứa chung nhau một cái quần, thay nhau mặc mỗi lần đi tán
gái. Học xong đại học, nó vào Sài Gòn làm việc. Đánh đấm,
dẫm đạp lên nhau mấy chục năm, rồi nó cũng mò lên được
chức Tổng giám đốc. Có lẽ chấm mút được, nhiều tiền
đâm rửng mỡ, hôm rồi gọi điện cho tôi khoe, con nó gửi
học trường quốc tế từ nhỏ, nên chỉ nói được tiếng Anh,
tiếng Việt rất bập bẹ. Tôi bảo, con mày sẽ là người
ngoại quốc ngay chính trên quê hương của nó. Không tiếng
Việt, nó mất đi linh hồn. Mất văn hóa, sống trên quê hương
mà như không còn Tổ Quốc. Những thứ đó tiền của mày không
thể mua được. Nó không cãi lại, nhưng không vui. Từ đó,
chúng tôi ít gọi điện cho nhau, nếu có, câu chuyện cũng vô
cùng nhạt nhẽo.
Có thể khảng định, một trăm phần trăm những gia đình Tây
Ta ở thành phố tôi cư ngụ, đổ vỡ, (có cặp đã sống với
nhau ba, bốn chục năm) do không thể hòa đồng về văn hóa. Như
vậy, văn hóa nói chung, thi ca nói riêng giữa Đông và Tây dù
có hòa nhập hay cưỡng, ép hôn, nó chỉ nằm ở mức độ giao
thoa, chứ tuyệt đối không bao giờ hòa tan. Cảm nhận từ
những thực tế trên, tôi thấy việc cải tiến thơ ca của
một số nhà thơ trong nước, dù có theo chiều hướng nào,
nhưng mất đi bản sắc cội nguồn, nó chỉ là những tế bào
biến dị. Những tế bào dị dạng này, trước sau sẽ tự đào
thải, hoặc bị cắt bỏ mà thôi.
Tôi mang những bài thơ, chỉ có thể hiểu bằng tâm, phân
thức…hoặc tâm phải rời khỏi xác, trở về cõi u u, mê mê
nào đó mới hiểu được, (như một số nhà phê bình ca, viết)
cho ông giáo già, du học từ năm 1964, là tiến sĩ ngôn ngữ,
văn học Đức. Đọc xong, ông lắc đầu không hiểu. Theo ông
đây là những bài viết với thứ ngôn ngữ tắc tị, chứ
chẳng ăn nhập gì với thi ca của Phương Tây cả.
Phọt phẹt ngoại ngữ như tôi, hứng lên, đôi lúc đọc một,
vài bài thơ tiếng Đức, tuy không hiểu hết cái hay, cái đẹp
và những ý sâu xa, bóng bẩy, nhưng cũng hiểu được nghĩa
thực của nó. Thế mà, tôi tắc tị, khi đọc thơ của những
Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn… Bằng chính ngôn ngữ mẹ
đẻ, với mớ kiến thức đã tu luyện mười bốn, mười lăm
năm trên ghế nhà trường ở quê nhà.
Ta hãy đọc lại bài Vô Đề của Nguyễn Trọng Tạo, lời thơ
rất lạ, rất mới (tôi cho rằng không thể mới hơn) từ cách
đảo từ đến nhịp của cả bài thơ. Nhưng nó vẫn giữ
được sự trong sáng, mềm mại, dễ hiểu:
"…Anh đã để em ra đi vô cớ
Đến một ngày không thể hiểu vì đâu
Em hút bóng dừa xanh vào khép gió
Không bao giờ quay lại mối tình đầu.
Anh chót để ngôi sao bay khỏi cát
Biếc xanh em, mãi chớp sáng vòm trời
Điều có thể đã hóa thành không thể
Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi"
Bài Thiên Thần, thoáng đọc lên ta cả thấy rất vô lý, nhưng
cái vẻ đẹp thiên thần của em đã hút hồn người thi sĩ
được toát ra từ nghìn năm trước và nghìn năm sau sau ấy,
đã đấy cả bài thơ đến những điều có thể. Từ ngữ mộc
mạc, nhưng rất mới trong lối miêu tả ẩn dụ(lấy thời gian
để miêu tả vẻ đẹp) của Nguyễn Trọng Tạo. Đọc xong, ta
thấy thoang thoảng hương của những bài vịnh, hay trào phúng
xưa trở về:
"Em mười chín tuổi, nghìn năm trước
Sao đến bây giờ mới hai mươi
Môi mềm ngực nõn vòng tay xiết
Anh là tượng đá cũng tan thôi.
Cứ tưởng một lần cho đỡ khát
Nào ngờ bùa ngải lú trời xanh
Nghìn năm gặp lại…Em hăm mốt
Môi ngực vòng tay vẫn thiên thần"
Song song với các cuộc thi hoa hậu, ứ hậu, chắc chắn ở trong
nước cũng sắp bội thực các buổi hội thảo thơ ca, do các
cơ quan văn học tổ chức. Đọc những bài tham luận lạc đề,
sặc mùi tụng ca của những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi như
Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Minh Tuấn… trong tọa đàm thơ Nguyễn
Quang Thiều. Hay của những quan chức cao cấp trong hội thảo
thơ của "nhà thơ bổ củi" Hoàng Quang Thuận, làm ta liên
tưởng đến những nhân vật hài trong các vở tuồng, khen có
thưởng vậy. Không cần bàn đến chất lượng của thơ, một
đêm Hoàng Quang Thuận bổ ra được 128 bài, thì mấy ông thợ
bổ củi, vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, cũng phải vái chào.
Cái đẹp là bùa mê, thuốc lú để nghìn năm sau hồn thi sĩ
(Nguyễn Trọng Tạo) vẫn còn ngắc ngư, nghĩ đã thấy kinh.
Thế mà, Hoàng Quang Thuận còn hãi hơn, dám đưa cả tâm linh,
thánh thần, Phật Tổ ra để làm bùa mê thuốc lú dối mình,
lừa người. Làm cho ông Tiến sĩ ngôn ngữ, văn học Đức,
thở dài: Không ở đâu dễ lừa người, và bị người lừa
như ở quê ta. Giời đất ạ! Văn thơ thời nay, nó rẻ như
bèo, nhìn các văn sĩ, ông nào cũng ngây ngây, màng túi bị viêm
kinh niên. Thế mà đường đường là ông GS-TS, Viện trưởng
viện khoa học, giầu sang ngất ngưởng, lại nhảm nhí, làm
công việc phản khoa học như vậy. Cứ tưởng, một mình ông
GS-TS Hoàng Quang Thuận, mắc chứng bệnh tâm thần, không ngờ
nhiều ông chức cao trọng vọng cũng mắc phải căn bệnh này.
Đầu những năm thập niên tám mươi, chúng ta vẫn còn đang
ngất ngây, men nồng của người chiến thắng. Nhịn không
được, một nhà thơ đã phải thốt lên: Chân dép lốp bước
lên tầu vũ trụ. Dù lúc đó cái đói như ngọn roi quất vào
con ngựa phi nước đại với giá- lương- tiền. Bài thơ, Tản
Mạn Thời Tôi Sống, ra đời trong hoàn cảnh xã hội như vậy.
Về nghệ thuật, cũng như bố cục, câu từ, nó không nằm trong
số những bài thơ hay của Nguyễn Trọng Tạo, nhưng lại là
bài thơ có sức sống lâu dài, và số phận đặc biệt, được
nhiều người yêu mến. Trong lúc các văn sĩ cùng thời, đang
hòa vào dòng thác ngợi ca, thần thánh hóa con người, cuộc
sống, xã hội, thì NTT cả gan cầm bút chắn ngang dòng thác
ấy." Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ/ Như con chiên ngoan
đạo chợt bàng hoàng/ Nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất
đá". Tản Mạn Thời Tôi Sống, đã bóc trần bộ mặt gian
dối, lừa lọc đang diễn ra trong xã hội đương thời, và kéo
giấc mơ không có thật trở về với thực tại, nhưng nó đã
đẩy con người và cuộc sống NTT đến tận cùng, không lối
thoát:
"Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ
Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ
Rồi một ngày thần tượng ta tan rã
Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn
Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm
Kẻ tình nguyện giữ nhà, muốn chiếm nhà ta ở
Tấm ảnh Mao treo lẫn màu cờ đỏ
Tay ta treo đâu nghĩ có một lần..."
Cái thời cả nước hừng hừng dắt tay nhau cùng lên đồng và
chỉ được phép tô, trát lên mặt một mầu hồng duy nhất.
Nhà thơ nổi tiếng Chế Lan Viên sướng quá, cũng chịu hết
nổi, thốt lên: " Ôi! Tổ Quốc có bao giờ đẹp thế này
chăng?". Thì Nguyễn Trọng Tạo lại vẽ lên mặt một màu tang
thương, xám xịt:
"Nhưng cái thời tôi sống hẳn khác xưa
Trong bài hát thêm bom rơi và súng
Hai mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn
Khăn tang bay, người sống trắng mái đầu
Gạo cửa hàng nhiều khi không đủ bán
Con phe sục khắp ga tầu bến cảng
Giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương"
Nếu như thơ văn chính luận của Bùi Minh Quốc, Trần Mạnh
Hảo vang lên và thẳng tưng, đầy uy lực như Quan Vũ, Trương
Phi trên cầu Trường Bản, thì Nguyễn Trọng Tạo lại uyển
chuyển, nhẹ nhàng có những cơn sóng ngầm công phá, như Tử
Long xung trận Đương Dương. Cũng viết về biển đảo, nhưng
NTT có cách viết rất khác. Trong cái dữ dội, gào thét của
sóng biển, dưới nanh vuốt lăm le của quân thù, ta vẫn thấy
lời thơ đằm thắm, nhẹ nhàng nhưng rất quyết liệt, can
trường:
"Chẳng lẽ anh yêu biển gào dữ dội
Át cả tiếng em ở phía đất liền?
Chẳng lẽ anh yêu những đêm ngủ hầm kèo
Báo đến chậm hai ba tuần vẫn gọi là "Báo mới"
Lá thư tình đọc chung đồng đội
Lúc nghe đài là lúc gặp quê hương
Chẳng lẽ anh yêu những ngày tháng thẳng căng
Đêm bật dậy mấy lần báo động
Nhưng em ơi! Giữa muôn trùng biển sóng
Anh đã yêu như vậy ngày ngày
Như yêu em đắm say
Yêu giấc ngủ, hằng đêm về bờ cát
Nếu lòng anh đổi khác
Giặc sẽ tràn qua đảo của mình đây.
(Anh Đã Yêu Em Như Vậy)
Có thể nói NTT là nhà thơ cách tân, đổi mới nhất trong các
nhà thơ mới hiện nay. Những năm tháng tuổi trẻ ông đã viết
rất tự nhiên, như theo một bản năng. Tôi rất thích những
bài thơ hồn nhiên viết trong thời kỳ đó của ông. Sau này,
ông viết có kỹ thuật và sâu hơn và luôn đổi mới nhưng
những nét hồn nhiên không còn đậm nét nữa. Có lẽ sau những
năm tháng nổi trôi, ông đã trầm tĩnh hơn chăng?. Rất may,
gần đây, qua bài thơ viết về em bé tật nguyền đi biểu
tình, tôi lại bắt gặp những nét hồn nhiên ấy trong thơ ông:
"Em hô Việt Nam-Hoàng Sa-Trường Sa
Anh gọi tên em Tổ Quốc, Sơn Hà…
... Đất nước già nua tâm hồn tươi trẻ
Em đi biểu tình-Anh đẩy xe lăn
Không kẻ thù nào có thể cản ngăn"
Ngày và đêm, trái đất vẫn quay, tất cả đều nằm trong vòng
tròn của qui luật đó. Không có gì tồn tại vĩnh cửu. Cái cũ
sẽ được thay bằng cái mới, như " Những bông hoa vẫn cứ
nở đúng mùa". Đó như là một triết lý sống, từ hơn ba
mươi năm trước, Nguyễn Trọng Tạo đã cảnh báo trong thơ.
Leipzig, 16-8-2012
Đỗ Trường
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13842), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét