Nguyễn Trung - Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990

Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam kể từ sau khi đất nước
đã hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất ngày 30-04-1975
cho đến hôm nay, sự kiện hội nghị bí mật Thành Đô tháng
9-1990 giữa hai đoàn đại biểu cấp cao hai nước Việt – Trung
để bình thường hóa quan hệ là một thất bại nhục nhã của
nước ta, bẻ ghi con đường phát triển của nước ta dẫn
đến tình hình đất nước như hôm nay: Một lần nữa Trung
Quốc lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm
nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và
con đường phát triển của nước ta.

<strong>Tóm tắt lịch sử đã xảy ra</strong>: Không thể
nào chấp nhận được thắng lợi của Việt Nam trong kháng
chiến chống Mỹ, ngay sau 30-04-1975 Trung Quốc đã tạo ra cái
<em>"bẫy Campuchia"</em>, khuyến khích Khmer đỏ khiêu khích vũ
trang đánh Việt Nam và đến tháng 4-1977 Khmer đỏ đã tiến
hành chiến tranh lớn tấn công diện rộng toàn vùng biên giới
Tây Nam nước ta giáp Campuchia; đồng thời ngày 17-02-1979 Trung
Quốc huy động 60 vạn quân phát động cuộc chiến tranh quy mô
lớn ồ ạt tiến công toàn tuyến biên giới phía Bắc của
Việt Nam, với cái đích kiêu ngạo <em>"Dạy cho Việt Nam một
bài học"</em>. Với chiến lược căng Việt Nam ra cả hai đầu
mà đánh, hai cuộc chiến tranh dã man này nhằm mục đích khuất
phục nước ta, trên thực tế đến 1989 mới thực sự im tiếng
súng ở biên giới phía Bắc và ở Campuchia. Song cả hai cuộc
chiến tranh này đã thất bại, vì Trung Quốc không thực hiện
được mục tiêu chiến lược của nó là khuất phục Việt Nam,
hơn thế nữa Việt Nam đã đánh tan Khmer đỏ và cứu được
nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Bình thường hóa
quan hệ với Trung Quốc luôn là đòi hỏi chiến lược của
Việt Nam, song tình hình nêu trên cho thấy dù bị sức ép quyết
liệt từ phía Trung Quốc và bị bao vây cấm vận vì vấn đề
Campuchia, Việt Nam không ở trong thế yếu. Song vào thời điểm
cuối những năm 1980 và đầu năm 1990 các nước Liên Xô Đông
Âu sụp đổ. Diễn biến này được lãnh đạo nước ta lúc
ấy coi là hệ quả phản công của chủ nghĩa đế quốc, và lo
rằng nạn nhân kế tiếp có thể là Việt Nam. Với tư duy như
vậy, sau nhiều nỗ lực khác không thành vì bị Trung Quốc luôn
gây sức ép, lãnh đạo nước ta đã chấp nhận hai đòi hỏi
quan trọng nhất của Trung Quốc là rút quân khỏi Campuchia và
loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch để mở
đầu cho quá trình bình thường hóa quan hệ. Ngày 3 và 4 tháng
9-1990 cuộc họp cấp cao Thành Đô được tiến hành, Việt Nam
tham gia với mong muốn bình thường hóa quan hệ và liên minh
với Trung Quốc để cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bất
chấp việc Trung Quốc tháng 3-1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và
bãi đá của ta ở Trường Sa, bất chấp công cuộc đổi mới
của nước ta bắt đầu từ năm 1986 mang lại thành quả bất
ngờ và nhanh chóng cải thiện tình hình kinh tế nước ta trong
những năm ấy.

Sai lầm nghiêm trọng thứ nhất là tư duy ý thức hệ
đã mù quáng không nhìn ra sự sụp đổ của các nước LXĐÂ
cũ tạo ra một cục diện quốc tế mới cho phép nước ta thực
hiện triệt để độc lập tự chủ, từ đây có thể đi cùng
với cả trào lưu tiến bộ thế giới để bảo vệ và phát
triển đất nước mình, không cần phải gắn nước ta vào phe
nào hay nước lớn nào. Cơ hội này đã bị vứt bỏ, chẳng
những thế mà còn bị xem là nguy cơ lớn nhất đối với đất
nước – thực ra là nguy cơ lớn nhất đối với chế độ
chính trị.

Sai lầm nghiêm trọng thứ hai là lẫn lộn hai thứ làm
một giữa bình thường hóa quan hệ quốc gia – quốc gia và
liên minh ý thức hệ. Từ đó có ảo tưởng liên minh ý thức
hệ có thể giải quyết và vượt qua được những mâu thuẫn
hay xung đột lợi ích quốc gia, là cách tốt nhất để bảo
vệ quốc gia và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tư duy như
vậy, trên thực tế phía ta đã chấp nhận bình thường hóa
quan hệ với Trung Quốc trên thế yếu và gần như với bất
cứ giá nào.

Bình thường hóa quan hệ Việt Trung kể từ Thành Đô
9-1990, Việt Nam được hưởng một thời kỳ hòa hoãn nhất
định với Trung Quốc, song đó là thời kỳ hòa hoãn trên thế
yếu và có nhiều sai lầm nghiêm trọng về ý thức hệ. Thực
tế diễn ra trong suốt thời gian này cho đến nay là phía Việt
Nam đã làm tất cả có thể để hòa hiếu, nhân nhượng, giữ
gìn đại cục, với cái đích trung tâm là gìn giữ mối quan
hệ chiến lược số một với Trung Quốc. Nhưng toàn bộ thời
gian này phía Trung Quốc lại triệt để khai thác mối quan hệ
hữu nghị như thế cho việc phát huy tối đa sự can thiệp của
quyền lực mềm vào toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội của Việt Nam, gây ra không ít khó khăn cho
Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại. Đặc biệt là Trung Quốc
đã xuất khẩu ngoạn mục <strong><em>"nguy cơ diễn biến hòa
bình"</em></strong> vào Việt Nam, để chính Trung Quốc có điều
kiện tốt nhất tác động, ảnh hưởng và diễn biến Việt Nam
về mọi mặt.

Nhìn lại hơn 20 năm qua, điểm lại toàn bộ những
việc trong quan hệ hai nước đã làm được, từ đàm phán biên
giới trên bộ và dưới biển, phát triển quan hệ kinh tế,
việc Trung Quốc trúng thầu hàng trăm công trình kinh tế quốc
gia quan trọng của Việt Nam, thuê đất, thuê rừng, bô-xít Tây
Nguyên, ti-tan ven biển miền Trung, những hoạt động
<strong><em>tăng cường quan hệ</em></strong> thực ra là nhằm tăng
cường chi phối nhân sự nước ta, những hoạt động tăng
cường giao lưu.., tất cả đều chịu sự chi phối sâu sắc
của quyền lực mềm Trung Quốc.

Những sai lầm, yếu kém chủ quan của ta, do chính ta
tự gây nên, cần phải được nhìn nhận khách quan và phê phán
nghiêm khắc, không thể đổ thừa cho bất kỳ ai bên ngoài.

Dù khẳng định dứt khoát như thế, vẫn phải đánh giá nghiêm
khắc: Tổng hợp tình hình hơn 20 năm qua, thực tế đang diễn
ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển, thì Việt Nam càng
lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và chính trị,
bị uy hiếp nhiều hơn về đối ngoại và quốc phòng. Thực
tế này, cùng với ảnh hưởng chính trị nói chung của Trung
Quốc vào đối nội của Việt Nam <strong>một mặt đang kìm hãm
nghiêm trọng toàn bộ sự phát triển của Việt Nam nói
chung</strong>, mặt khác gây ly tán đến mức nguy hiểm giữa
nhân dân và lãnh đạo đất nước, khiến cho trấn áp và mất
dân chủ trong đối nội phải gia tăng, đồng thời thực tế
này cũng khuyến khích tham nhũng tiêu cực phát triển. Những
vụ trấn áp biểu tình vừa qua chống yêu sách của Trung Quốc
trên Biển Đông nói lên nhiều điều và càng đổ dầu thêm
vào lửa bức xúc trong nhân dân.

Hiện nay, đất nước có rất nhiều yếu kém bên trong, lệ
thuộc và hèn yếu về đối ngoại, nguyên nhân của thực
trạng này – ngoài cac lẫm lỗi chủ quan của ta – có nguyên
nhân chi phối rất nghiêm trọng của ảnh hưởng Trung Quốc.

Ngày nay, lợi ích quốc gia đòi hỏi phải lọai bỏ xu thế
đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển thì
Việt Nam càng lệ thuộc vào Trung Quốc và tương lai phát triển
của Việt Nam càng bị chặn đứng. Ngày nay quốc gia đang
đứng trước nguy cơ Trung Quốc tìm cách tiếp tục lấn chiếm
biển đảo của đất nước trên Biển Đông. Sau 37 năm độc
lập thống nhất, đất nước đang lâm nguy.

Những yếu kém của ta trước đây đã dẫn đến Thành Đô
1990. Không loại trừ nguy cơ những yếu kém hiện nay của
nước ta có thể tái lập một Thành Đô 1990 đời mới, với
hệ quả là vứt bỏ cả thế giới đang đứng về phía chính
nghĩa của nước ta, để quay lại <strong><em>hòa
hiếu</em></strong> với Trung Quốc và để đẩy tiếp cả đất
nước xuống bùn đen!

Cả nước phải đồng lòng nhất trí loại bỏ nguy cơ mới
này. Muốn có được quan hệ hữu nghị thực sự, hợp tác
bình đẳng cùng có lợi giữa Việt Nam – Trung Quốc, càng
nhất thiết phải loại bỏ nguy cơ Thành Đô 1990 đời mới!

Để mỗi chúng ta có những căn cứ các đáng về mối lo nguy
cơ mới, trong phần phụ lục kèm theo bài này, xin trân trọng
giới thiệu với bạn đọc một số trích dẫn trong tài liệu
nghiên cứu của anh Dương Danh Dy về Hội nghị Thành Đô 9-1990.

___________________________________________________________


<h2><center>Phụ lục</center></h2>



<strong><center>Một số ý trích dẫn từ tài liệu nghiên
cứu</center></strong>



<center><table>
<tr>
<td><center><h2>Hội nghị Thành Đô, tháng 9 năm 1990</h2></center>

<center>Dương Danh Dy, Hà Nội, tháng 10 - 2011</center></td>
</tr>
</table></center>


<div class="special_quote"><em>"…Ngoài những nhân nhượng "vô
nguyên tắc" về CPC như đã trình bày trên, phía Việt Nam đã
không hề(hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất
đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc
chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979 do Ban lãnh đạo Bắc Kinh
cố tình, chủ động gây ra.. Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua
vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ
hai nước từ nay "hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương
lai"…</em></div>



Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thưòng chiến tranh(trong
khi đã nêu vấn đế Mỹ bồi thường chiến tranh là điều
kiện tiên quyết để bình thưòng hoá quan hệ hai nuớc) nhưng
tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là
một lời với Trung Quốc về cuộc chiến tranh tàn ác đó và
buộc họ chí ít phải nói ra câu <em>"lấy làm tiếc"</em>
về hành động phi nghĩa của mình? Nhượng bộ<em> "vô nguyên
tắc"</em> này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dưòng như
giành được <em>"vị thế chính nghĩa"</em> trước dư luận
quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù
họ mang hơn 60 vạn quân chính qui xâm lược, giết hại nhiều
đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta tại vùng
6 tỉnh biên giới Việt Nam. Làm cho một bộ phận ngưòi trên
thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc:
<em>"Việt Nam xua đuổi nguời Hoa", "Việt Nam xâm lược
Cămpuchia"</em>… là đúng, việc thế giới <em>"lên án, bao
vây cấm vận Việt Nam"</em> là cần thiết, việc Trung Quốc
<em>"cho Việt Nam một bài học"</em> là phải đạo v.v.…
trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc
đánh tan bọn Khơme đỏ, cứu nhân dân Cămpuchia khỏi nạn
diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong
thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.




…Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất
nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫn <strong><em>chưa
biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói
lại chuyện cũ với Trung Quốc</em></strong>, khiến cho trong hơn
20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam
không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc (ngay
cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc
đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng
tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên).




…Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo,
mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không
hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết
cách để <em>"bôi xấu, xuyên tạc"</em> Việt Nam về mọi
mặt, đến nỗi phần lớn ngưòi dân Trung Quốc bình thường
khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là
<em>"kẻ vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát.."</em>.
Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều
tra công khai, đã có tới <em>"80% dân mạng Trung Quốc(tức
khoảng 300 triệu ngưòi-chủ yếu là thanh niên và người có
học) tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển
Đông"</em> Cảm tình, ấn tưọng tốt đẹp của đa số nhân
dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến
đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước
đây dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa
biết bao giờ mới xoá bỏ được…




…Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc
<em>"gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí
Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch HĐBT
kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam"</em>, rồi lợi dụng
mọi cơ hội đế đến đại hội VII ĐCSVN chính thức làm
được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người
lãnh đạo có tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có
sức khoẻ dồi dào, có uy tín quốc tế, nhất là đối với
các nước phương tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém
về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một
việc làm dại dột <em>"vác đá tự ghè chân mình"…</em>




…Có thể có ngưòi không đồng ý nhận định này, nhưng
người viết bài này luôn cho rằng rằng Nguyễn Cơ Thạch là
số ngưòi hiếm có trong hàng ngũ lãnh đạo đảng ta lúc đó,
ông am hiểu sâu sắc tình hình quốc tế, có quan hệ tương
đối tốt với một số chính khách phương tây và đặc biệt
là người sớm thấy rõ âm mưu ý đồ đen tối của Trung Quốc
đối với Việt Nam, đang tích cực vạch trần và ra sức chống
lại mọi ý đồ bành trướng bá quyền của họ khiến ban lãnh
đạo Bắc Kinh thấy rằng nếu không cương quyết ép ban lãnh
đạo Việt Nam loại bỏ Nguyễn Cơ Thạch thì Việt Nam sẽ
<em>"sớm thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc"</em>, sẽ nhanh
chóng có <em>"vai trò quan trọng trong khu vực và thế
giới"</em>, điều mà bất kỳ ban lãnh đạo Trung Quốc thế
hệ nào cũng đều không bao giờ muốn. Có thể nói mà không
sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh
đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình
thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean
chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm
hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5
năm….




…Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưỏng của
Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu
và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng
hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng
1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao Việt Nam (lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó
nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc
Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp cho biết)

Chỉ một ví dụ cụ thể này là đủ nói rõ vấn đề




…Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các
hậu quả trên mà phải dùng từ <em>"cái giá phải trả bằng
xương máu"</em> mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề.
<em>"Hội nghị Thành Đô"</em> đã, đang và sẽ còn mang lại
cho đất nước chúng những hậu quả <em>"to lớn", "cay
đắng", "nhục nhã"</em>…! Nếu những người có trách
nhiệm, không dám công khai toàn bộ tư liệu về hội nghị này
và nghiêm chỉnh đánh giá lại <em>"kết quả"</em>

…Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà ngưòi
viết xin mạnh dạn khởi đầu trước: từ những cái giá phải
trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ
những bài học nào?


<div class="special_quote"><em>(1) Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt
của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay
đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là
về các nước xhcn Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ
cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là
Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm
để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.</em>

<em>Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện
<em>"bức tường Berlin"</em> bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc
Yelsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Cộng hoà liên
bang Nga, Goovachov từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng
sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo
chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được
nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi,
sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên, Trong tình hình như
thế mà lại chủ trương "bình thường hoá quan hệ với Trung
Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc",
"Mỹ và phương tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó
đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn
thế giới. Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm.
Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc"</em>
(Hồi ký Trần Quang Cơ)</div>

Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung
Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xẩy ra <em>"sự kiện Thiên
An Môn"</em>, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư,
nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận
nhân dân bất mãn với ĐCSTQ ... Do đàn áp đẫm máu học sinh
sinh viên, Trung Quốc bị các nước phương tây chủ yếu cấm
vận về chính trị, kinh tế, quân sự (có hạng mục như xuất
khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ)
Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá
quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó
đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng
được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc <em>"dắt
mũi"</em> kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ
cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận
bây giờ và cả trong tương lai nữa.

<div class="special_quote"><em>(2) Bằng những thoả thuận tại Hội
nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo chủ yếu của Đảng ta
lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh "kiên cường, bất khuất,
không sợ địch" mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao,
để sẵn sàng nhận sai về phần mình trước "kẻ thù",
tuỳ tiện đổ lỗi cho ngưòi tiền nhiệm. Người viết bài
này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một
nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường
đã tích cực phát triển đường lối "cải cách và đổi
mới" và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những
thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng
trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng,
mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo
mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp "vì chủ nghĩa xã
hội" "vì đại cục"… của Trung Quốc, thậm chí chấp
nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của
đảng ta.</em></div>

Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng,
toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt
để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của
ngưòi <em>"láng giềng 4 tốt"</em> của <em>"những đồng
chí"</em> luôn rêu rao <em>"16 chữ vàng"</em> đang không
ngừng vận dụng những <em>"thành quả cũ"</em> vào trong quan
hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tưong lai….

…"

Hết


Võng Thị, Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2012

<strong>Nguyễn Trung</strong>



***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13763), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét