<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/4f56b56b-c44d-4583-ac9e-e39648898590_w640_r1_s_cx0_cy3_cw0.jpg"
width="600" height="338"
alt="4f56b56b-c44d-4583-ac9e-e39648898590_w640_r1_s_cx0_cy3_cw0.jpg"
/></center>
<center><em> Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trên Quảng
trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945</em></center>
Cuộc Cách mạng tháng Tám mùa Thu 1945 đã tròn 67 năm. Trên
dưới một đời người. Bao nhiêu thơ ca ca ngợi cuộc chính
biến, cách mạng, đổi đời, cướp chính quyền, tang bồng dâu
biển sôi nổi ấy. Bao nhiêu bài xã luận, bình luận, chính
luận về sự kiện hiếm có ấy trong cuộc sống của dân tộc.
Tưởng như mọi sự cần nói đã được nói đến hết cả
rồi.
Ấy vậy mà năm nay, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 67 cuộc
cướp chính quyền tháng 8-1945, tôi vẫn thấy rất cần nêu lên
một ý kiến cực kỳ hệ trọng với bà con ta trong cả nước
và đồng bào ta ở nước ngoài, đặc biệt là với các bạn
trẻ hiện chiếm số đông trong gần 90 triệu người Việt.
Xin được trân trọng hỏi các bạn là trong 67 năm nay, cho đến
ngày hôm nay, đất nước ta, nhân dân ta trong đời sống thực
tế đang thiếu cái gì nhất?
Nghĩa là cái thiếu nhất trong cuộc sống hằng ngày, không kể
đến những mỹ từ, những lạm từ, hoang từ nhằm tuyên
truyền, tưởng tượng ra những điều không hề có thật trên
giải đất hẹp hình chữ S này.
Trước tháng Tám 1945, dân ta chưa có nền độc lập, mang thân
phận dân thuộc địa của nước Pháp, sau đó dân ta đã có
nền độc lập cao quý. Đến nay tuy nền độc lập vẫn còn
bị đe dọa, nhưng nền độc lập vẫn vững bền trong ý chí
kiên cường của toàn dân.
Trước kia dân ta cực kỳ nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu học;
trận đói năm Ất Dậu 1945 dưới thời bị quân phát xít Nhật
chiếm đóng đã gây nên cái chết thê thảm của 2 triệu
người. Nay ta đã là nước xuất khẩu gạo hàng đầu ở châu
Á.
Về thiếu học, dân ta đã xóa nạn mù chữ, xây dựng hệ
thống học đường từ mẫu giáo, tiểu học, trung học đến
đại học, sau đại học, tuy chất lượng giảng dạy còn xa
mới đạt mức trung bình khá, chưa nói gì đến tiên tiến,
nhưng dù sao thiếu học, dốt nát không còn là vấn đề trầm
kha của cuộc sống dân tộc.
Một số nhà nghiên cứu chính trị và lý luận trong nước lập
luận rằng 67 năm nay, dân ta đã có tự do, rằng trong bản
Tuyên ngôn Độc lập đã dẫn ra những câu bất hủ về tự do
của Cách mạng năm 1776 ở Hoa Kỳ và Cách mạng 1791 của nước
Pháp, rằng câu châm ngôn «Không có gì quý hơn độc lập tự
do» đã trở thành phương châm chính trị quý giá nhất được
thực hiện rõ ràng trong 67 năm qua, và hiện nay có hàng triệu
người, hàng chục triệu người Việt Nam vẫn tin là đó là
những sự thật hiển nhiên khỏi phải bàn cãi.
Chỉ cần mỗi người Việt Nam ta có công tâm, có tư duy lành
mạnh, chịu khó suy nghĩ bằng tư duy độc lập của cá nhân
mình, không bị chi phối bởi tư duy giáo điều, theo đuôi
người khác, quan sát chặt chẽ cuộc sống thực tế xung quanh,
là có thể nhận ra sự thật đúng như nó có.
Sự thật cứng đầu, bướng bỉnh, hiển nhiên là cho đến nay
tự do của người công dân ở Việt Nam vẫn còn là quả cấm,
vẫn còn là mục tiêu đấu tranh ở phía trước, sự thật là
67 năm nay tự do công dân chỉ mới tồn tại thực sự trên
tuyên ngôn, trên diễn văn, trên văn kiện, trên cửa miệng và
trên giấy tờ, không hề tồn tại với đầy đủ ý nghĩa cao
quý tự nhiên của nó trong cuộc sống.
Ngay ông Hồ Chí Minh người được coi là khai sinh ra nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, người nêu cao các khẩu hiệu
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, người nêu cao phương châm
«không có gì quý hơn Độc lập Tự do», người còn nói «nếu
đất nước đã được độc lập mà nhân dân không có tự do
thì nền độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì», thì trên thực
tế, mỉa mai thay, ông lại tỏ ra hết sức thờ ơ, hầu như vô
cảm đối với mọi quyền tự do của công dân.
Có vô vàn dẫn chứng hùng hồn chứng minh cho điều đó.
Trong 24 năm làm chủ tịch nước, chủ tịch đảng CS, làm lãnh
tụ tối cao đảng và nhà nước, ông vẫn chủ trương kiểm
duyệt gắt gao xuất bản và báo chí, bóp ngẹt báo chí tư
nhân. Khi phong trào Nhân văn Giai phẩm nổ ra, những Nguyễn Hữu
Đang, Phan Khôi, Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần…chỉ yêu cầu
được tự do sáng tác, đề nghị các nhà lãnh đạo tư
tưởng, văn hóa, các chính ủy trong quân đội chớ can thiệp
quá sâu vào sáng tác văn học nghệ thuật, rồi bị những
Trường Chinh, Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng «đánh» cho
tơi bời khói lửa, vậy mà ông không chút động lòng bênh vực
những công dân ngay thật, còn vào hùa trừng phạt những
người đòi tự do cho mình và cho xã hội.
Anh Nguyễn Hữu Đang gửi bao nhiêu thư cho ông cầu cứu, ông
không một lần trả lời, ngoảnh mặt quay đi với người từng
là trưởng ban tổ chức lễ Độc lập, người lãnh đạo Hội
Văn hóa Cứu quốc của Việt Minh, người từng đôn đốc dựng
đài cao cho ông Hồ lên đọc bản Tuyên ngôn lịch sử.
Tệ hơn nữa là khi người Sỹ quan thân cận của chủ tịch
nước – Officier d' ordonnance du Président - Vũ Đình Huỳnh,
cũng là thư ký riêng thân tín của ông hàng chục năm, năm 1964
bị chụp mũ là «xét lại, tay sai Moscow», cũng gửi thư và vợ
ông là bà Tề đến cầu cứu ông, ông Hồ vẫn thản nhiên,
không một lời an ủi hay bênh vực.
Còn bao nhiêu sự kiện khác. Ông Hồ biết cả. Nhưng ông bất
động. Mà ông còn có thể sợ ai nữa. Lúc ấy ông Lê Duẩn,
ông Lê Đức Thọ chưa dám hỗn láo hạn chế quyền lực của
ông với cái lý do «hãy để ông Cụ nghỉ, đừng làm phiền
lòng ổng». Ông chỉ cần phê một chữ, lắc đầu một cái,
là có thể cứu người công dân ưu tú khỏi oan trái. Nhưng
không. Ông bất động, vì vô cảm. Vì ông vô cảm với bất
công, với oan trái, với tự do công dân bị xâm phạm.
Anh Hà Minh Tuân, nhà văn quân đội có tài, chỉ sơ hở một
vài câu trong cuốn tiểu thuyết «Vào đời» bị đại tướng
Nguyễn Chí Thanh phang một đòn «văn tư sản đồi trụy», từ
đó sạt nghiệp văn chương, cũng như nhà thơ tài hoa Quang Dũng,
cũng bị ông tướng võ biền Nguyễn Chí Thanh phang một đòn
chí tử về tứ thơ từ Tây Bắc «nhớ về Hà Nội bóng Kiều
thơm» là «sa đọa tư sản», tất cả bị đưa lên phê phán
trên báo, ông Hồ biết rõ cả, nhưng ông không tỏ thái độ,
có nghĩa là ông bênh các quan đàn áp lương dân, ông không mảy
may rung động khi «nước có độc lập mà dân không được tự
do».
Rồi vụ bà Nguyễn Thị Năm ở Đồng Bẩm - Thái Nguyên bị
tử hình theo ý kiến cố vấn Tàu, ông Hồ được ông Hoàng
Quốc Việt chạy đến cầu cứu vì bà Năm từng nuôi cán bộ
cộng sản, có 2 con đi bộ đội, ông Hồ chỉ «thế a!» rồi
im thin thít. Đó quan niệm của người khai sinh ra nước Việt
Nam độc lập và tự do là nghèo nàn ấm ớ như thế đó.
Nhiều nhà dân chủ bây giờ đã thấy rõ nếu so sánh lập
trường dân chủ tự do của ông Hồ với nhà chí sỹ Phan Chu
Trinh thì thấy rất rõ là ông Tây Hồ đã vượt ông Hồ cả
một cái đầu. Tôi đã để thì giờ đọc Hồ Chí Minh toàn
tập và những trước tác của Phan Chu Trinh để so sánh. Ông
Hồ viết sách, viết báo, diễn thuyết khá nhiều, nhưng ông
chỉ tập trung lên án mạnh và khá sâu bọn thực dân Tây
Phương, bọn thực dân Pháp cầm quyền bóc lột áp bức dân
thuộc địa, nhưng ông hầu như bỏ qua mọi hình thức bóc lột
đàn áp, bất công tinh vi của người Việt đối với người
Việt mình. Các bạn trẻ xin hãy đọc hàng ngàn câu thơ trong
tập Tỉnh Quốc Hồn Ca của Phan Tây Hồ, sẽ thấy rõ các chủ
trương của ông : nâng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh là
cần thiết, cấp bách, quý báu và hiện đại biết bao.
Phan Tây Hồ tuyên chiến mạnh mẽ, sâu sắc với mọi nét văn
hóa lạc hậu, cổ hủ của xã hội Việt Nam, tệ nạn trọng
nam khinh nữ, thói tham quan ô lại, tệ cường hào quan liêu,
thói học vẹt theo thi cử, giảng giải kỹ quyền công dân, tinh
thần thượng tôn luật pháp, quyền liên kết lập hội, cổ vũ
lối nghiên cứu khoa học theo tư duy độc lập tự chủ kiểu
thực nghiệm và thực chứng…Có thể nói tuy Phan Chu Trinh là
Phó bảng Hán học nhưng trên thực tế là nhà văn hóa hiện
đại nhất, hấp thu tinh túy của văn hóa Tây phương nhuần
nhuyễn nhất, có hệ thống và rất thực tiễn. Có cơ sở để
kết luận rằng ông Phan Chu Trinh là chiến sỹ Dân Chủ và Nhân
Quyền đầu tiên và sâu sắc nhất trong lịch sử nước ta, và
tư duy duy tân của ông hiện vẫn là chuyện thời sự cần
thiết nóng hổi nhất.
Ông Phan và ông Hồ đều sống ở Pháp khá lâu nhưng ai tiếp
thu thật sự nền văn hóa – chính trị mới mẻ tiến bộ của
Pháp, có thể khẳng định là ông Phan vượt trội một cách
nổi bật, như người dẫn đầu cuộc đua và kẻ mang đèn
đỏ. Vì khi cầm quyền ông Hồ và những kẻ kế thừa ông đã
quay lưng lại với tự do của người công dân và chà đạp
nhân quyền không thương tiếc.
Đó là vì ông sống ở Pháp rồi còn sang Moscow một thời gian
dài, ăn lương hàng tháng của Quốc tế CS, khi tư duy chính trị
đang chín và đang định hình, bị trực tiếp Stalin và đồng
chí của ông ta nhào nặn vào khuôn phép, được đào tạo ở
Học viện Đông phương cộng sản, hết họp Đại hội V của
Quốc tế CS (tháng 6/1924), lại họp Đại hội Quốc tế Công
hội Đỏ, rồi Quốc tế CS Nông dân, rồi cả Quốc tế Phụ
nữ và Quốc tế Thanh niên cũng như Quốc tế Cứu tế Đỏ.
Rồi một thời gian dài ở Trung Quốc dưới trướng của Mao,
Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, sau đó với hàng trăm cố vấn của
«bác Mao» quanh mình, ông chỉ có một ý nghĩ chính trị mãnh
liệt là nhuộm đỏ cả Bắc cả Nam nước ta, nhuộm đỏ cả
Lào và Miên, cho đến nhuộm đỏ cả Đông Nam Á và thế giới,
sứ mệnh được các lãnh tụ quốc tế của ông là ông Xít và
ông Mao giao cho ông.
Cho nên tháng Tám năm nay, nhắc đến bản Tuyên ngôn Độc lập,
điều mỉa mai cay đắng khổng lồ là những chữ Tự do, Dân
chủ, Nhân quyền trên đó sau 67 năm vẫn còn là những chữ
rỗng ruột, những mỹ từ trên giấy, những lời hứa hão
huyền, những quả lừa khổng lồ dai dẳng, những món nợ
trầm luân của ông Hồ, của đảng Cộng sản đối với dân
ta.
24 năm ông Hồ trực tiếp cầm quyền, công dân Việt Nam chỉ
được làm những điều gì đảng cho phép, mọi người ngoài
đảng chỉ là công dân dự bị, loại hai, bị phân biệt đối
xử theo lý lịch, không một công dân nào có hộ chiếu để
xuất ngoại, người nông dân tự do, người buôn bán tự
do…là chuyện viển vông không tồn tại.
Đến nay, trong đổi mới, gia tài ông Hồ để lại tuy có
điều chỉnh chút ít, nhưng đường lối cơ bản theo chủ nghĩa
Mác-Lenin vẫn là một xã hội tật bệnh hiểm nghèo, trong đó
lỗ hổng cực kỳ bi đát là thiếu dân chủ tự do, thiếu nhân
quyền vẫn cứ toang hoác thêm. Vẫn là một không gian xã hội
không có dưỡng khí, ngột ngạt đến ngẹt thở. Đây là bất
hạnh dai dẳng lớn nhất của dân ta khi so sánh với nhân dân
Thái Lan, Philippine, Indonesia, Malaysia gần ta, chưa nói đến dân
Ấn Độ, Nhật Bản…
Trên đây là món nợ lớn nhất mà toàn dân ta đang trên đà
thức tỉnh để đòi lại cho nhân dân ta và muôn đời con cháu,
món nợ lưu cữu 67 năm, lãnh đạo đảng CS không thể trì hoãn
và cố tình bỏ quên mãi được.
BÙI TÍN
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/14061), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét