Anna Eleanor Roosevelt - Cuộc đấu tranh cho Nhân quyền

<div class="special_quote"><strong>Lời người dịch:</strong> Tuyên
Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế được Đại Hội Đồng Liên Hiệp
Quốc thông qua vào ngày 10 tháng Mười Hai 1948 tại Paris, qua
Nghị Quyết 217 A(III). Có bốn mươi tám phiếu thuận, không có
phiếu chống, và tám phiếu trắng (Bạch Nga, Tiệp Khắc, Ba Lan,
Ả Rập Saudi, Ukrain, Liên Xô, Nam Phi, và Nam Tư).

Eleanor Roosevelt (1884-1962) là người đóng vai trò rất quan trọng
cho sự ra đời của Tuyên Ngôn. Bà đọc bài diễn văn này tại
trường đại học Sorbonne, Pháp vào ngày 28 tháng Chín, 1948 ngay
trước khi Tuyên Ngôn ra đời để bàn về nhân quyền và tự do
mà mọi người trên hành tinh chúng ta phải có quyền được
hưởng.

Cuộc đấu tranh vì nhân quyền và tự do là cuộc đấu tranh
liên tục và bền bỉ của từng nước và của từng thế hệ
cho tới khi nào ánh sáng của tự do và nhân phẩm sáng ngời
trên khuôn mặt của từng người ở mọi nơi.

Bản dịch này được thực hiện như là lời tri ân đối với
bà Eleanor Roosevelt và như là nén hương lòng cho linh hồn oan
khuất vất vưởng của bà Đặng Thị Kim Liêng, nạn nhân bị
áp bức mới nhất vừa bị bức tử quá đau đớn trong nhà tù
lớn mang tên Việt Nam. </div>

<center>* * *</center>

Tối nay tôi đến để nói với quý vị về một trong những
vấn đề lớn lao nhất của thời đại chúng ta - <em><strong>đó
là vấn đề gìn giữ quyền tự do của con người</strong></em>.
Tôi đã chọn để thảo luận vấn đề này tại đây ở nước
Pháp, tại trường Sorbonne, vì ở đây từ xa xưa cội rễ của
quyền tự do của con người đã đâm mạnh và sâu vào lòng
đất này và từ đất này những cội rễ ấy đã hút được
dồi dào chất bổ dưỡng. Chính ở đây bản Tuyên ngôn Các
Quyền của Con Người được công bố, và những khẩu hiệu cao
quý của cuộc Cách mạng Pháp- tự do, bình đẳng, bác ái-đã
kích thích trí tưởng tượng của con người. Tôi đã chọn
để thảo luận vấn đề này tại Châu Âu vì nơi đây là nơi
diễn ra những trận chiến lịch sử lớn nhất giữa tự do và
chuyên chế. Tôi đã chọn để thảo luận vấn đề này trong
những ngày đầu tiên của Đại Hội đồng vì vấn đề tự do
của con người quyết định đến sự giải quyết những khác
biệt chính trị tồn đọng và đến tương lai của Liên Hiệp
Quốc.

<div class="boxleft320"><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/eleanor_roosevelt_en.jpg" width="400"
height="302" alt="eleanor_roosevelt_en.jpg" /><div class="textholder">Bà
Eleanor Roosevelt và bản Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền Con
Người</div></div>

Những người sáng lập Liên Hiệp Quốc ở San Francisco đã
nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề này. Quan tâm
đến sự gìn giữ và phát huy nhân quyền và các quyền tự do
cơ bản là trọng tâm của Liên Hiệp Quốc. Hiến Chương Liên
Hiệp Quốc nổi bật nhờ quan tâm sâu sắc đến các quyền và
phúc lợi của những cá nhân nam và nữ. Liên Hiệp Quốc đã
tuyên bố rõ ràng ý định ủng hộ nhân quyền và bảo vệ
phẩm giá nhân cách con người. Ý chính của Hiến Chương
được nêu ra ngay trong lời mở đầu khi Hiến Chương tuyên
bố: "<em>Chúng tôi nhân dân của Liên Hiệp Quốc quyết tâm...
tái khẳng định niềm tin vào nhân quyền cơ bản, vào nhân
phẩm và giá trị của con người, vào các quyền bình đẳng
giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, và... phát
huy tiến bộ xã hội và chuẩn mực sống tốt hơn trong nền
tự do rộng rãi hơn.</em>" Lời tuyên bố này phản ánh tiên
đề căn bản của Hiến Chương là hòa bình và an ninh của nhân
loại phụ thuộc vào sự tôn trọng lẫn nhau các quyền và tự
do của tất cả mọi người.

Một trong những mục đích của Liên Hiệp Quốc được tuyên
bố trong điều 1 là: "<em>đạt được sự hợp tác quốc tế
trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế về kinh tế,
xã hội, văn hóa, hay nhân đạo, và trong việc phát huy và
khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ
bản cho tất mọi người không phân biệt chủng tộc, giới
tính, ngôn ngữ, hay tôn giáo.</em>"

Tư tưởng này được lập lại nhiều nơi trong Hiến Chương và
đáng chú ý trong điều 55 và 56 các Thành viên cam kết hành
động chung và riêng để hợp tác với Liên Hiệp Quốc nhằm
thúc đẩy "<em>sự tôn trọng và thực thi phổ quát nhân quyền
và các quyền tự do cơ bản của tất cả mọi người không
phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.</em>"

Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất được giao cho Ủy Ban
Nhân Quyền là soạn Luật Nhân Quyền Quốc Tế. Đại Hội
Đồng khai mạc khóa họp thứ ba tại Paris cách đây vài ngày
sẽ nhận được thành quả lao động đầu tiên của Ủy Ban
trong nhiệm vụ này, đó là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc
Tế.

Sau nhiều công sức bản Tuyên Ngôn này cuối cùng được hoàn
tất trong khóa họp vừa qua của Ủy Ban Nhân Quyền ở New York
vào mùa xuân 1948. Hội Đồng Kinh Tế và Xã Hội đã gởi đến
Đại Hội Đồng bản Tuyên Ngôn này mà không kèm theo ý kiến,
cùng với các văn kiện khác được Ủy Ban Nhân Quyền đệ
trình.

Chúng tôi đã quyết định trong Ủy Ban của mình rằng Luật
Nhân Quyền nên gồm có hai phần:

1. Tuyên Ngôn có thể được chấp thuận qua hành động của
các Nước Thành Viên của Liên Hiệp Quốc trong Đại Hội
Đồng. Tuyên Ngôn này sẽ có sức mạnh đạo đức rất lớn,
và sẽ nói với các dân tộc trên thế giới "chúng tôi hy vọng
đối với tất cả mọi người đây chính là ý nghĩa của nhân
quyền trong tương lai." Chúng tôi ghi lại ở đây những quyền
mà chúng tôi coi là căn bản và phải có cho những cá nhân con
người trên khắp thế giới. Không có những quyền này, chúng
tôi tin sự phát triển nhân cách cá nhân trọn vẹn là điều
không tưởng.

2. Phần thứ hai của Luật Nhân Quyền, mà Ủy Ban Nhân Quyền
chưa kịp hoàn tất do thiếu thời gian, là công ước dưới
dạng hiệp ước sẽ được trao cho các nước trên thế giới.
Mỗi nước, sau khi đã sẵn sàng phê chuẩn, sẽ phê chuẩn công
ước này và sau đó công ước sẽ trở nên ràng buộc với
những nước nào tham gia công ước. Mỗi nước đã phê chuẩn
lúc đó sẽ có bổn phận phải thay đổi bất kỳ những điều
luật nào của mình không phù hợp với những điểm trong công
ước.

Công ước này, tất nhiên, sẽ phải là văn kiện đơn giản
hơn. Công ước không thể bày tỏ các nguyện vọng, mà chúng
tôi nghĩ có thể cho phép trong Tuyên Ngôn. Công ước chỉ có
thể khẳng định những quyền được luật pháp đảm bảo và
công ước phải gồm có những phương pháp thi hành, và không
có nhà nước nào đã phê chuẩn công ước lại có thể được
phép coi thường nó. Chúng tôi vẫn chưa đồng ý về những
phương pháp thi hành, Ủy Ban cũng không xem xét đầy đủ và
kỹ lưỡng những phương pháp này trong bất kỳ cuộc họp nào
của Ủy Ban. Chắc chắn nên có cuộc thảo luận về toàn bộ
vấn đề Luật Nhân Quyền thế giới này và Hội Đồng này có
thể chấp nhận Tuyên Ngôn nếu họ đạt được sự đồng ý
về nó. Việc chấp nhận Tuyên Ngôn, tôi nghĩ, nên khuyến khích
mỗi quốc gia thảo luận ý nghĩa của Tuyên Ngôn với nhân dân
mình vào những tháng sắp tới để họ sẽ sẵn sàng chấp
nhận công ước hơn với sự am hiểu sâu sắc hơn về những
vấn đề liên quan khi công ước được đệ trình, chúng tôi hy
vọng, vào khoảng một năm nữa và, chúng tôi hy vọng, được
chấp nhận.

Tuyên Ngôn từ Ủy Ban Nhân Quyền đã được toàn thể các
nước thành viên chấp nhận ngoại trừ bốn phiếu trắng- Liên
Xô, Nam Tư, Ukraine, và Byelorussia. Lý do cho điều này là sự
khác biệt cơ bản về khái niệm nhân quyền như chúng tồn
tại ở những nước này và ở các Nước Thành Viên khác trong
Liên Hiệp Quốc.

Khi thảo luận trước Hội Đồng, tôi nghĩ chúng ta nên bày tỏ
rất rõ ràng và dễ hiểu những khác biệt này là gì và tối
nay tôi muốn dành ít thời gian giải thích rõ ràng những khác
biệt này với quý vị. Theo tôi có lý do hợp lý để dành ra
thời gian suy nghĩ chín chắn và rõ ràng về chủ đề phải
chăng nhân quyền, tức sự chấp nhận và tuân theo những quyền
này, là nguồn gốc, tôi tin, của cơ hội hòa bình trong tương
lai, và của cơ hội củng cố tổ chức Liên Hiệp Quốc cho
tới lúc nó có thể duy trì hòa bình trong tương lai.

Chúng ta phải hiểu rõ ràng tự do là gì. Nhân quyền căn bản
vốn đơn giản và dễ hiểu: tự do ngôn luận và tự do báo
chí; tự do tôn giáo và thờ phượng; tự do hội họp và quyền
kiến nghị; quyền của con người được an toàn trong nhà mình
và không bị lục soát và bị bắt giữ vô lý và không bị
bắt giam và bị trừng phạt độc đoán.

Chúng ta không được để cho các thế lực phản động lừa
dối chúng ta qua việc họ ra sức làm hoen ố những lời cao cả
của truyền thống tự do của chúng ta để từ đấy làm rối
cuộc đấu tranh. Dân chủ, tự do, nhân quyền cuối cùng đã có
ý nghĩa rõ ràng đối với mọi người trên thế giới. Vì thế
chúng ta không được cho phép bất kỳ quốc gia nào thay đổi ý
nghĩa ấy để làm cho các từ này đồng nghĩa với áp bức và
độc tài.

Có những khác biệt căn bản xuất hiện ngay cả trong cách dùng
từ giữa nước dân chủ và nước toàn trị. Chẳng hạn "dân
chủ" đối với Liên Xô có nghĩa này nhưng lại có nghĩa khác
đối với Mỹ và, tôi biết, tại Pháp. Tôi đã phục vụ từ
buổi họp đầu tiên của ủy ban trù bị cho Ủy Ban Nhân
Quyền, nên tôi nghĩ điểm này rõ ràng rất dễ nhận thấy.

Các đại diện Liên Xô khẳng định họ đã đạt được
nhiều điều mà chúng ta, ở các nước họ gọi là "<em>dân
chủ tư sản</em>", không thể đạt được vì chính quyền họ
làm chủ những thành tựu này. Còn chính quyền chúng ta dường
như bất lực so với họ vì, xét cho cùng, chính quyền chúng ta
do nhân dân làm chủ. Họ không diễn đạt như vậy - họ
thường nói nhân dân ở Liên Xô làm chủ chính quyền bằng
cách cho phép chính quyền có những quyền tuyệt đối nào
đấy. Chúng ta, ngược lại, tin rằng những quyền nào đấy có
thể không bao giờ được trao cho chính quyền, mà phải được
giữ trong tay nhân dân.

Chẳng hạn, Liên Xô nhất định khẳng định báo chí họ tự
do vì nhà nước cho báo chí tự do bằng cách cung cấp máy móc,
giấy in, và cả tiền lương cho những người làm việc ở báo.
Họ tuyên bố rõ ràng không có sự kiểm soát về bài vở ở
nhiều tờ báo mà họ trợ cấp theo cách này, chẳng hạn như
báo công đoàn. Nhưng chuyện gì xảy ra nếu như tờ báo đăng
những ý kiến chỉ trích các chính sách và giáo điều căn bản
của chính quyền cộng sản? Tôi chắc chắn họ sẽ tìm ra lý
do chính đáng để dẹp tờ báo ấy.

Cũng đúng là có nhiều trường hợp báo chí ở Liên Xô đã
chỉ trích các quan chức cùng những việc làm của họ khiến
các quan chức đó bị cách chức, nhưng khi chỉ trích như thế,
báo chí không chỉ trích đến bất kỳ điều gì được coi là
nền tảng đối với giáo điều cộng sản. Họ chỉ được
chỉ trích phương pháp làm việc, cho nên ta phải phân biệt
giữa những điều có thể được cho phép, chẳng hạn như chỉ
trích cá nhân hay cách làm việc, với sự chỉ trích về giáo
điều mà sẽ được coi là sinh tử đối với sự chấp nhận
chủ nghĩa cộng sản.

Còn những khác biệt gì, chẳng hạn, giữa các công đoàn trong
các nhà nước toàn trị và trong các nước dân chủ? Trong nhà
nước toàn trị công đoàn là công cụ được chính quyền sử
dụng để áp đặt nghĩa vụ, chứ không phải để khẳng
định các quyền. Những tài liệu tuyên truyền nào mà chính
quyền muốn công nhân có đều được cấp cho các công đoàn
để từ đó được phân phát đến các đoàn viên.

Các công đoàn của chúng ta, ngược lại, hoàn toàn là công cụ
của chính các công nhân. Những công đoàn này đại diện cho
các công nhân trong các mối quan hệ với chính quyền và với
chủ và công đoàn tự do phát triển quan điểm riêng của mình
mà không cần chính phủ giúp đỡ hay can thiệp. Nhũng khái
niệm của các công đoàn chúng ta và của các công đoàn ở các
nước toàn trị khác nhau một trời một vực. Rất ít có sự
tương đồng.

Ví dụ điển hình nhất về sự khác biệt căn bản này trong
cách dùng từ, tôi nghĩ ta có thể nêu ra, là "quyền làm việc".
Liên Xô khẳng định đây là quyền căn bản mà chỉ mình Liên
Xô mới có thể bảo đảm được vì chỉ mình Liên Xô mới
tạo việc làm toàn thời gian cho tất cả mọi người thông qua
chính quyền. Nhưng quyền làm việc ở Liên Xô có nghĩa công
nhân phải làm bất kỳ công việc nào do chính quyền giao mà
không có cơ hội cho họ tham gia vào quyết định phân bổ này
của chính quyền. Xã hội mà mọi người đều có việc làm
không nhất thiết là xã hội tự do mà thực chất có thể là
xã hội nô lệ; ngược lại, xã hội có sự bất ổn kinh tế
lan rộng có thể biến tự do thành quyền sáo rỗng và vô vị
cho hàng triệu người. Chúng tôi ở Hoa Kỳ cuối cùng nhận
thức tự do nghĩa là tự do chọn công việc của ta, tự do làm
việc hay không làm việc tùy ta muốn. Tuy nhiên, chúng tôi, ở
Hoa Kỳ, cuối cùng cũng nhận thức rằng người dân có quyền
yêu cầu chính quyền của họ không được để cho dân đói vì
có khi những cá nhân không thể tìm được công việc họ quen
làm và đây là quyết định được tạo ra bởi công luận
thành hình từ cuộc khủng hoảng kinh tế mà đã khiến nhiều
người thất nghiệp, nhưng chúng tôi ở Hoa Kỳ sẽ không coi
chúng tôi đạt được bất kỳ tự do nào nếu chúng tôi bị
bắt buộc tuân theo sự phân công công việc độc đoán hay
chúng tôi bị sai bảo phải làm việc ở đâu và khi nào. Quyền
chọn lựa đối với chúng tôi có vẻ như là một tự do cơ
bản, quan trọng.

Tôi rất cảm thông với nhân dân Nga. Họ yêu nước mình và
luôn luôn dũng cảm chống lại những kẻ xâm lược để bảo
vệ nước mình. Họ đã trải qua thời kỳ cách mạng, cho nên
có một dạo họ bị cô lập với thế giới bên ngoài. Do đấy
họ không mất đi sự nghi ngờ về các nước khác và khó khăn
rất lớn ngày nay là chính quyền họ khuyến khích sự nghi ngờ
này và dường như tin rằng chỉ có vũ lực mới tạo cho họ
sự tôn trọng.

Chúng tôi, ở các nước dân chủ, tin ở điều giống như sự
tôn trọng và hành động quốc tế hỗ tương. Chúng tôi nghĩ
người khác không nên đối xử với chúng tôi khác với cách
họ muốn được đối xử. Chính sự can thiệp vào các nước
khác đặc biệt kích động sự thù địch chống lại Chính
phủ Xô Viết. Nếu chính phủ Xô Viết muốn cảm thấy yên ổn
để phát triển các lý thuyết kinh tế và chính trị trong lãnh
thổ của họ, thì họ phải cho người khác chính sự yên ổn
ấy. Chúng tôi tin con người có quyền tự do sai lầm. Chúng tôi
không xen vào chuyện của họ thì họ không nên xen vào chuyện
của người khác.

Vấn đề căn bản đối mặt với thế giới ngày nay, như tôi
đã nói lúc đầu, là sự gìn giữ quyền tự do của con người
cho cá nhân và sau đó cho xã hội trong đó cá nhân là một
phần. Ngày nay chúng ta đang đánh trận chiến này một lần
nữa như ngày xưa nhân dân đánh trận chiến này lần đầu vào
thời Cách Mạng Pháp và vào thời Cách Mạng Mỹ. Vấn đề tự
do của con người có tính chất quyết định bây giờ như vấn
đề tự do của con người có tính chất quyết định vào thời
đó. Tôi muốn nói với quý vị khái niệm của tôi về tự do
của cá nhân có nghĩa gì ở nước tôi.

Cách đây đã lâu tại Luân Đôn trong một cuộc thảo luận
với ông Vyshinsky (1), ông ta bảo tôi trên thế giới không có
những thứ như tự do cho cá nhân. Tất cả tự do của cá nhân
đều bị các quyền của những người khác chi phối. Điều
đó, tất nhiên, tôi thừa nhận. Tôi đã nói: "<em>Chúng tôi
tiếp cận vấn đề từ quan điểm khác; chúng tôi ở đây tại
Liên Hiệp Quốc đang cố gắng bắt đầu hình thành những lý
tưởng mà sẽ rộng rãi hơn về quan điểm, mà sẽ xem xét
trước tiên các quyền của con người, mà sẽ xem xét điều
làm cho con người tự do hơn: không phải các chính quyền, mà
con người.</em>"

Nhà nước toàn trị thường đặt các sắc lệnh do một vài
người bên trên ban ra cao hơn ý muốn của nhân dân.

Tất nhiên ta phải luôn luôn xem xét đến các quyền của
người khác; nhưng trong nước dân chủ điều này không phải
là sự hạn chế. Thật vậy, trong các nước dân chủ của mình
chúng ta làm cho các quyền tự do của chúng ta vững chắc vì
mỗi người trong chúng ta đều được mong đợi tôn trọng các
quyền của những người khác và chúng ta được tự do làm ra
luật pháp của chính mình.

Tự do đối với nhân dân chúng ta không chỉ là quyền mà còn
là công cụ. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin,
tự do hội họp - những quyền tự do này đối với chúng ta
không chỉ là những lý tưởng trừu tượng; chúng còn là các
công cụ nhờ đấy chúng ta sáng tạo ra nếp sống, trong nếp
sống ấy chúng ta có thể tận hưởng tự do.

Đôi khi những quá trình dân chủ diễn ra chậm, và tôi biết
một số nhà lãnh đạo chúng ta từng nói chế độ độc tài
nhân từ sẽ đạt được cứu cánh mong muốn trong thời gian
ngắn hơn nhiều so với thời gian phải mất khi trải qua những
quá trình thảo luận dân chủ và qua sự hình thành công luận
chậm chạp. Nhưng không có cách nào bảo đảm chế độ độc
tài sẽ vẫn còn nhân từ hay quyền lực một khi rơi vào tay
của một vài người sẽ được trả lại cho nhân dân mà không
cần đến đấu tranh hay cách mạng. Qua kinh nghiệm chúng ta đã
học được điều này cho nên chúng ta thà chấp nhận những
quá trình dân chủ chậm chạp vì chúng ta biết những con
đường tắt thỏa hiệp những nguyên tắc mà không thể nào
thỏa hiệp được.

Với chúng ta ý dân cuối cùng thể hiện qua các cuộc bầu cử
tự do và trung thực, với những chọn lựa hợp lý về những
vấn đề cơ bản và về những người ra ứng cử. Bỏ phiếu
kín là điều cốt yếu đối với các cuộc bầu cử tự do
nhưng ta phải có sự chọn lựa ở trước mặt mình. Tôi nghe
chồng tôi nhiều lần nói người ta không bao giờ phải mất
tự do của mình nếu họ giữ được quyền bỏ phiếu kín và
nếu họ sử dụng lá phiếu kín đó một cách tốt nhất.

Những quyết định căn bản của xã hội chúng ta đều được
thực hiện qua ý muốn được bày tỏ rõ ràng của nhân dân.
Vì thế khi chúng ta thấy những quyền tự do này bị đe dọa,
thay vì tan rã, quốc gia chúng ta lại trở nên đoàn kết và các
nước dân chủ sát cánh bên nhau thành nhóm đoàn kết cho dù
chúng ta có những hoàn cảnh khác biệt và có nhiều căng thẳng
về chủng tộc.

Ở Hoa Kỳ chúng tôi có nền kinh tế tư bản. Đó là vì công
luận ủng hộ hình thái kinh tế đó trong hoàn cảnh chúng tôi
sống. Nhưng chúng tôi đã áp đặt những giới hạn nào đấy;
chẳng hạn, chúng tôi có những luật chống độc quyền. Những
luật này là chứng cứ pháp lý về sự quyết tâm của nhân
dân Mỹ nhằm duy trì nền kinh tế tự do cạnh tranh và không cho
phép các công ty độc quyền cướp đi tự do ấy của nhân dân.

Các công đoàn của chúng ta phát triển vững mạnh hơn vì nhân
dân cuối cùng tin đây là cách thích hợp nhằm bảo đảm các
quyền của công nhân và tin quyền tổ chức và mặc cả tập
thể duy trì cân bằng giữa nhà sản xuất thực sự và người
đầu tư tiền bạc với người đứng đầu trong công nghiệp
bảo vệ người lao động tay chân và cũng là người sản xuất
ra của cải vật chất thực sự.

Ở Hoa Kỳ chúng tôi đủ khôn lớn để không tuyên bố mình
hoàn thiện. Chúng tôi thừa nhận chúng tôi có vấn đề kỳ
thị nhưng chúng tôi nghĩ chúng tôi đang đạt được những
tiến bộ không ngừng trong việc giải quyết những vấn đề
này. Qua các quá trình dân chủ bình thường chúng tôi cuối
cùng đang hiểu ra những nhu cầu của mình và hiểu cách chúng
tôi có thể đạt đến sự bình đẳng hoàn toàn cho tất cả
mọi người chúng tôi. Mọi người được phép thảo luận tự
do về chủ đề này. Mới đây Tòa Án Tối Cao của chúng tôi
đã ban hành những quyết định nhằm làm rõ một số luật
để bảo đảm các quyền của tất cả mọi người.

Liên Xô tuyên bố đã đạt đến thời kỳ khi tất cả các dân
tộc trong biên giới nước họ chính thức được coi là bình
đẳng và có các quyền bình đẳng và họ quả quyết họ không
có sự kỳ thị đối với người thiểu số.

Đây là mục tiêu đáng khen ngợi nhưng sự phát triển tự do
cho cá nhân có những khía cạnh khác rất quan trọng và cần
thiết trước khi cái việc không có sự kỳ thị có giá trị
nhiều, nhưng những khía cạnh này không có ở Liên Xô. Nếu
người ta không được phép hưởng các quyền tự do họ muốn
mà họ thấy người khác có, thì người ta thường không phàn
nàn về sự kỳ thị. Chính những quyền tự do khác này -
những quyền tự do ngôn luận căn bản, tự do báo chí, tự do
tôn giáo và lương tâm, tự do hội họp, tự do được xử án
công bằng và tự do không bị bắt giam và trừng phạt độc
đoán, những quyền tự do này chính quyền toàn trị không thể
nào an tâm mà ban cho nhân dân họ nhưng những quyền tự do này
mới thật sự ban ý nghĩa cho quyền tự do không bị kỳ thị.

Niềm tin của tôi, và tôi chắc chắn cũng là niềm tin của quý
vị, là cuộc đấu tranh cho dân chủ và tự do là cuộc đầu
tranh rất quan trọng, vì sự gìn giữ tự do và dân chủ là
cần thiết cho mục tiêu cao cả của Liên Hiệp Quốc nhằm duy
trì hòa bình và an ninh quốc tế.

Trong xã hội những người tự do cứu cánh không thể biện minh
cho phương tiện. Chúng ta đều biết những mô hình của chủ
nghĩa toàn trị-độc đảng chính trị, kiểm soát trường học,
báo chí, truyền thanh, nghệ thuật, khoa học, và tôn giáo để
củng cố quyền lực chuyên chế; đây là những mô hình lâu
đời mà con người đã đấu tranh chống lại trong suốt ba ngàn
năm. Những mô hình này là dấu hiệu của phản động, lạc
hậu, và thoái hóa.

Liên Hiệp Quốc phải bám chặc vào di sản tự do đã giành
được từ cuộc đấu tranh của các dân tộc mình; Liên Hiệp
Quốc phải giúp chúng ta chuyển giao di sản ấy cho các thế hệ
tương lai.

Sự hình thành lý tưởng tự do và những ứng dụng của lý
tưởng ấy vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày ở nhiều vùng
bao la trên trái đất là thành quả của công sức của nhiều
dân tộc. Đó là thành quả của truyền thống tư duy tích cực
và hành động can đảm lâu đời. Không có chủng tộc nào và
không có dân tộc nào có thể tuyên bố đã làm hết tất cả
mọi việc để đạt được nhân phẩm lớn lao hơn cho con
người và tự do lớn lao hơn để phát triển nhân cách. Trong
mỗi thế hệ và trong mỗi nước phải có cuộc đấu tranh liên
tục không ngừng và phải đạt được những bước tiến mới
vì đây rõ ràng là chiến trường nơi đứng im là thoái lui.

Lĩnh vực nhân quyền không phải là một lĩnh vực có thể
thỏa hiệp những nguyên tắc cơ bản. Công việc của Ủy Ban
Nhân Quyền minh họa điều này. Tuyên Ngôn Nhân Quyền quy
định: "<em>Mọi người đều có quyền rời khỏi bất kỳ
quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình.</em>" Đại diện Xô
Viết nói ông ta sẽ tán thành quyền này nếu thêm vào nhóm từ
- "<em>phù hợp với thủ tục được ghi thành luật của nước
đó</em>." Rõ ràng là chấp nhận điều này sẽ không chỉ thỏa
hiệp mà còn vô hiệu hóa quyền đã được ghi rõ. Trường
hợp này minh họa hùng hồn tầm quan trọng của lời tuyên bố
chúng ta phải luôn luôn cảnh giác không thỏa hiệp những nhân
quyền cơ bản chỉ vì để đạt được sự nhất trí vì như
thế đánh mất đi những quyền này.

Theo tôi hiểu, thật không dễ dàng đạt đến sự nhất trí
về những khái niệm khác nhau của chúng ta về chính quyền và
nhân quyền. Cho nên cuộc đấu tranh nhất định sẽ khó khăn
và trong cuộc đấu tranh này chúng ta phải cương quyết nhưng
kiên nhẫn. Nếu chúng ta luôn luôn trung thành với những nguyên
tắc của mình tôi nghĩ chúng ta có thể duy trì tự do và duy
trì tự do một cách ôn hòa mà không dùng đến vũ lực.

Tương lai phải chứng kiến việc mở rộng nhân quyền ra trên
toàn thế giới. Những ai đã nhìn thấy dù thoáng qua tự do
nhất định không bao giờ bằng lòng cho tới khi nào họ đã
đạt được tự do cho chính họ. Nhân quyền, theo ý nghĩa đích
thực, là mục tiêu cơ bản của luật pháp và chính quyền trong
xã hội công bằng. Nhân quyền tồn tại tới mức độ nhân
quyền được tôn trọng bởi mọi người trong mối quan hệ
lẫn nhau và bởi chính quyền trong mối quan hệ với công dân.

Thế giới nói chung ý thức những hậu quả bi kịch cho những
người sống dưới ách cai trị của các chế độ toàn trị.
Nếu chúng ta nghiên cứu việc Hitler lên nắm quyền, chúng ta
thấy cách họ rèn ra những xiềng xích để trói buộc cá nhân
vào cảnh nô lệ và chúng ta có thể thấy những xiềng xích
tương tự đang được rèn ra ở những nước khác. Về chính
trị con người phải được tự do để thảo luận và để
đạt đến càng nhiều sự thật càng tốt và phải có ít nhất
chế độ hai đảng trong nước vì khi chỉ có một đảng chính
trị, quá nhiều thứ có thể lệ thuộc vào quyền lợi của
độc đảng đó rồi đảng biến thành độc tài chứ không
thành công cụ của chính quyền dân chủ.

Tuyên truyền chúng ta chứng kiến trong quá khứ mới đây,
giống như tuyên truyền chúng ta nhận thức trong những ngày nay,
luôn tìm cách gieo rắc sự nghi ngờ, tìm cách phá hoại, và
tiêu diệt tự do và độc lập của các dân tộc. Tuyên truyền
như thế đặt cho tất cả các dân tộc vấn đề nên hoài nghi
di sản các quyền của họ và vì thế thỏa hiệp những nguyên
tắc mà họ đã sống theo, hay cố gắng chấp nhận thử thách,
nâng cao cảnh giác hơn nữa, và luôn luôn vững vàng trong cuộc
đấu tranh duy trì và mở rộng các quyền tự do của con
người.

Những ai tiếp tục bị tước đoạt danh dự họ có quyền
được hưởng với tư cách con người nhất định không bao
giờ cam phận mãi mãi trong cảnh tước đoạt ấy.

Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là ngọn hải đăng soi sáng suốt
trên con đường đưa đến thành tựu nhân quyền và những
quyền tự do cơ bản trên toàn thế giới. Thử thách trước
mắt không chỉ là mức độ nhân quyền và các quyền tự do
đã đạt được, mà còn là hướng đi của thế giới hiện
nay. Phải chăng có sự tuân theo trung thành các mục tiêu của
Hiến Chương nếu một số quốc gia giới hạn nhân quyền và
các quyền tự do thay vì phát huy sự tôn trọng và thực thi
phổ quát nhân quyền và các quyền tự do cho tất cả mọi
người như Hiến Chương kêu gọi?

Nơi thảo luận vấn đề nhân quyền là tại diễn đàn Liên
Hiệp Quốc. Liên Hiệp Quốc đã được lập ra làm nơi gặp
gỡ chung cho các nước, nơi chúng ta có thể cùng nhau xem xét
những vấn đề chung và tận dụng những khác biệt của chúng
ta về kinh nghiệm. Chính nhờ gắn bó bền chặc với dân chủ
và tự do nên chúng ta tự nhiên luôn luôn sẵn sàng dùng những
thủ tục dân chủ cơ bản của thảo luận và thương lượng
trung thực. Như thường lệ bây giờ hy vọng của chúng ta là
dù trong thế giới ngày nay chúng ta đối diện với những sự
khác biệt lớn về phương pháp, nhưng với thiện ý dành cho
lẫn nhau chúng ta có thể đạt đến cơ sở đồng ý chung.
Chúng ta có mặt ở đây để tham gia vào những cuộc họp của
Hội Đồng quốc tế cao cả này mà nhóm họp tại thành phố
Paris xinh đẹp của quý vị. Tự do cho cá nhân là phần không
thể tách rời của những truyền thống trân quý của nước
Pháp. Với tư cách là một Đại Diện đến từ Hoa Kỳ, tôi
cầu nguyện Đức Chúa Toàn Năng rằng chúng ta có thể thắng
một chiến thắng mới nữa tại đây cho nhân quyền và những
quyền tự do của tất cả mọi người.

Nguồn: http://www.gwu.edu/~erpapers/documents/speeches/doc026617.cfm

Trần Quốc Việt
<a
href="http://danlambaovn.blogspot.se/2012/08/cuoc-au-tranh-cho-nhan-quyen.html#more">danlambaovn.blogspot.com</a>
____________________________________

1) Andrei Y. Vyshinsky là Đại diện của Liên Xô tại Liên Hiệp
Quốc (chú thích của người dịch)

<div class="special_quote">Anna Eleanor Roosevelt /ˈɛlɪnɔr
ˈroʊzəvɛlt/ (11 tháng 10 năm 1884 – 7 tháng 11 năm 1962) là chính
khách Mỹ, từng sử dụng địa vị Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ,
từ năm 1933 đến 1945 để cổ xuý kế hoạch New Deal của
chồng, Tổng thống Franklin D. Roosevelt, cũng như vận động cho
quyền công dân. Sau khi Roosevelt từ trần, bà tự gây dựng sự
nghiệp cho mình trong cương vị của một tác giả và diễn
giả, ủng hộ Liên minh New Deal, bà cũng được xem như là phát
ngôn nhân cho các quyền con người. Bà là nhà tiên phong trong
phong trào ủng hộ nữ quyền (dù chống đối Tu chính án Quyền
Bình đẳng), là người kiến tạo một hình mẫu mới cho vai
trò Đệ nhất Phu nhân. Roosevelt hoạt động tích cực trong nỗ
lực hình thành nhiều định chế, đáng kể nhất là Liên Hiệp
Quốc, Hiệp hội Liên Hiệp Quốc và Nhà Tự do. Bà chủ toạ
uỷ ban soạn thảo và chuẩn thuận Bản Tuyên ngôn Nhân quyền.
Tổng thống Harry S. Truman gọi bà là Đệ nhất Phu nhân của
Thế giới, nhằm tôn vinh người phụ nữ đặc biệt này vì
những chuyến du hành đưa bà đến nhiều nơi trên thế giới
để vận động cho quyền con người.

Bà là người đóng vai trò rất quan trọng cho sự ra đời của
Tuyên Ngôn Nhân quyền Quốc tế. Bà đọc bài diễn văn này
tại trường đại học Sorbonne, Pháp vào ngày 28 tháng Chín, 1948
ngay trước khi Tuyên Ngôn ra đời để bàn về nhân quyền và
tự do mà mọi người trên hành tinh chúng ta phải có quyền
được hưởng.</div>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13699), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét