Trương Nhân Tuấn - Vấn đề HS và TS: Thử bàn về tính liên tục và sự kế thừa giữa các "quốc gia" Việt Nam sau năm 1945

<div class="special_quote"><strong>Kính gởi</strong>: Ban biên tập
Việt ngữ BBC, GS Ngô Vĩng Long, TS Lê Minh Phiếu, TS Dương Danh
Huy và tác giả Phạm Thanh Vân về bài viết Tính pháp lý của
việc kế thừa hai quần đảo [Hoàng Sa và Trường Sa]</div>

<div class="special_quote"><strong>Tin liên quan:</strong>

<ul>
<li><a href="http://danluan.org/node/13287">Tính pháp lý của việc
kế thừa hai quần đảo [Hoàng Sa và Trường Sa]</a></li>
</ul></div>

Trong một bài viết trước đây liên quan đến chiến lược
biển Đông và chủ quyền của Việt Nam ở các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, tác giả có nêu vấn đề về tính liên
tục quốc gia và sự kế thừa giữa các chính phủ và hai miền
Việt Nam về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
sau 1975. Những ý kiến đó hôm nay được bàn rộng thêm.

Trước hết là quan niệm quốc gia (và nhà nước) theo công pháp
quốc tế. Với quan niệm quốc gia này, từ năm 1945 đến nay
hiện hữu bao nhiêu quốc gia Việt Nam? Quốc gia nào đại diện
nước Việt Nam duy nhứt trước các định chế quốc tế? Tính
liên tục và kế thừa về lãnh thổ giữa các quốc gia này từ
các biến cố 1954, hay năm 1975 đến nay đã được thực hiện
như thế nào?

Bài viết này lần lượt trình bày sơ lược quan điểm của
tác giả về các vấn đề này.

<h2>I. Quốc gia và các nguyên tắc về công pháp quốc tế</h2>

Trước hết nên hiểu thế nào về thuật ngữ <em>"quốc
gia"</em> theo quan niệm Công pháp quốc tế.

<em>"Quốc gia – l'Etat"</em> được cấu thành do ba yếu tố:
người dân, lãnh thổ và một chính phủ. Yếu tố người dân
đặt vấn đề về <em>"quốc tịch – nationalité"</em>. Yếu tố
<em>"lãnh thổ"</em> đặt vấn đề <em>"chủ quyền -
souveraineté"</em>, đưa đến việc phân định biên giới (trên
đất liền và trên biển) giữa các quốc gia láng giềng. Yếu
tố <em>"chính phủ - gouvernement"</em>, tức một tổ chức chính
trị có khả năng tổ chức hành chính và thiết lập trật tự
và an ninh xã hội cho cộng đồng dân chúng trong quốc gia đó.
Yếu tố Chính phủ đặt ra vấn đề <em>"độc lập"</em>. Tức
chính phủ này không bị lệ thuộc vào một thế lực nước
ngoài.

Công pháp quốc tế hiện nay còn đặt ra tiêu chí xứng đáng
về một nhà nước (chính phủ), tức <em>"tư cách -
dignité"</em>, để có thể công nhận hay không một chính phủ.
Một nhà nước <em>"xứng đáng"</em> được đánh giá trên việc
có đem lại an ninh và hạnh phúc cho người dân trong nước hay
không. Một nhà nước hung tàn, bạo ngược, như nhà nước
cộng sản Khmer (Khmer đỏ), nhà nước cộng sản bắc Triều
Tiên, nhà nước cộng sản Việt Nam sau 75 (cho đến thập niên
90), Irak dưới thời Sadam Hussein, Serbie dưới thời Milosevic,
Lybye dưới thời Khadafi hay Iran và Syrie hiện nay v.v… là các
nhà nước không <em>"xứng đáng"</em>, thường bị cộng đồng
quốc tế (ONU) <em>"lên án"</em>, hay cắt đứt ngoại giao, thậm
chí còn có bổn phận can thiệp để chấm dứt sự đau khổ
của người dân ở các nước này.

Trong quan hệ quốc tế, việc công nhận một quốc gia là hành
vi theo đó một quốc gia thiết lập bang giao với một quốc gia
khác. Việc công nhận quốc gia là chấp nhận các yếu tố
đặc thù về công dân, lãnh thổ và chính phủ của quốc gia
đó. Giả sử, khi nước Pháp công nhận nhà cầm quyền Bắc
Kinh là chính thống lãnh đạo nước Trung Quốc thì Pháp mặc
nhiên công nhận một nước Trung Hoa duy nhứt (tức công nhận
Bắc Kinh thì không công nhận Đài Bắc) và Tây Tạng là lãnh
thổ của Trung Quốc.

Việc công nhận quốc gia là quan trọng vì nó xác định sự
hiện hữu của một quốc gia trên sân khấu quốc tế. Thủ
tục công nhận thể hiện qua các việc trao đổi lãnh sự, ký
kết các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn phương giữa
các quốc gia. Việc công nhận có thể mang tính pháp lý <em>"de
jure"</em>, tức công nhận quốc gia như là chủ thể duy nhất,
bình đẳng về độc lập và chủ quyền trước Công pháp quốc
tế. Hoặc <em>"de facto"</em>, tức một hình thức công nhận tạm
thời cho những quốc gia đang thành hình.

Về nguyên tắc một quốc gia duy nhứt, đại diện quốc gia ở
các định chế quốc tế là duy nhứt. Trường hợp một quốc
gia bị phân chia, tức có hai vùng lãnh thổ khác biệt, có hai
nhóm dân chúng khác biệt (mặc dầu có cùng quốc tịch), do hai
chính phủ khác biệt lãnh đạo, thì chỉ có một vùng duy nhứt
đại diện cho quốc gia ở các định chế quốc tế. Trường
hợp hai miền Nam, Bắc Việt Nam trước 1975, Quốc Gia Việt Nam
và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa được các định chế quốc
tế chấp thuận là đại diện chính thức và duy nhứt cho quốc
gia Việt Nam.

Trường hợp quốc gia bị chia cắt (có hai vùng lãnh thổ với
hai chính phủ riêng biệt), một nước công nhận chính phủ này
thì đương nhiên không công nhận chính phủ kia (và ngược
lại). Giả sử, Hoa Kỳ (và nhiều nước khác) trước kia công
nhận chính phủ họ Tưởng ở Đài Loan và không công nhận
chính phủ ở Bắc Kinh, hay công nhận VNCH và không công nhận
VNDCCH.

Đối với LHQ, mỗi quốc gia chỉ có một ghế đại diện.
Trường hợp quốc gia chia cắt, đại diện của quốc gia là
phía được số phiếu bầu nhiều nhất tại đại hội đồng
LHQ, ngoại trừ trường hợp bị các thành viên thường trực
trong hội đồng an ninh <em>"phủ quyết - veto"</em>. Chính phủ
Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan giữ ghế đại diện cho Trung
Hoa ở LHQ đến năm 1972 thì bị đại hội đồng truất phế,
thay vào đó là chính phủ ở Bắc Kinh, do việc HK không bỏ
phiếu phủ quyết. Hai miền Nam và Bắc Việt Nam không bên nào
có được ghế ở LHQ, do vấn đề chính trị ý thức hệ, mỗi
khối ủng hộ một bên. Năm 1957 Liên Xô đề nghị hai miền
Nam, Bắc Việt Nam đều được chấp nhận vào LHQ, nhưng việc
này không được các bên chấp thuận (vì các bên đều giữ
nguyên tắc quốc gia duy nhất).

Trường hợp quốc gia có thay đổi chính thể do biến động
chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một quốc gia mới
được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai vùng lãnh
thổ, quốc gia ly khai…) việc kế thừa quốc gia sẽ đặt ra
nhằm tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước,
hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia)
tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác.
Một nội các (chính phủ hay nhà nước) có thể được một
chính phủ của một nước khác công nhận (hay không công nhận)
trong trường hợp nước đó có biến động ảnh hưởng nội
tình chính trị (nội các thay đổi do đảo chánh, thay đổi
chính thể do cách mạng v.v…).

<h2>II. Các quốc gia Việt Nam – sự liên tục và kế thừa</h2>

<strong>2.1</strong> Quốc Gia Việt Nam (12-3-1945 – 25-8-1945) của
Quốc vương Bảo Đại:

Ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông
Dương. Nhân dịp này ông Yokoyama, xưng là đại sứ Nhật, tiếp
xúc với ông Bảo Đại, đề nghị trả lại độc lập cho
Việt Nam. Ngày 12 tháng 3 năm 1945 Bảo Đại tuyên bố độc
lập, nội dung đại khái gồm các điểm: <em>"bãi bỏ hiệp
ước bảo hộ đã ký với Pháp", "thu hồi chủ quyền độc
lập quốc gia"</em> và <em>"theo đường hướng của bản Tuyên
ngôn chung của khối Đại Đông Á"</em>… Ngày 17-4-1945, theo ý
muốn của Bảo Đại, cụ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ.

Dĩ nhiên, thái độ của Nhật không phải là tốt đẹp gì.
Nếu họ có hảo ý thì họ đã trả độc lập cho Việt Nam từ
lúc mới vào Việt Nam tháng 8 năm 1940, chứ không phải đợi
đến lúc sắp sụp đổ mới làm. Hành động trễ tràng này cho
thấy đây là cố gắng cuối cùng của Nhật trước khi thất
bại trước quân Đồng Minh. Họ nghĩ rằng, khi lôi kéo được
các quốc gia này vào khối Đại Đông Á, Nhật hy vọng xây
dựng lại thế lực, nhờ vào lực lượng của các nước mới
được độc lập, nhằm củng cố lại quân đội đang trên đà
tan rã. Nhưng chỉ vài tháng sau, ngày 16 tháng 8, Nhật Hoàng
đọc lệnh cho binh sĩ buông súng đầu hàng.

Hậu quả, ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy
Liệu, đại diện Ủy ban giải phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc
gia gọi là <em>"Quốc gia Việt Nam"</em> vì vậy cũng kết thúc.

Về tình trạng pháp lý, Quốc gia Việt Nam chỉ hiện hữu vỏn
vẹn 5 tháng, từ 12-3-1945 đến 16-8-1945. Đây có phải là một
thực thể <em>"quốc gia"</em> đúng nghĩa theo Công pháp quốc tế
hay không?

Khi Nhật đặt chân đến Việt Nam trong Thế chiến II, tháng 8
năm 1940, có ký kết với Pháp vẫn để cho Pháp có chủ quyền
tại Đông Dương, ngoại trừ phương diện quân sự. Kết ước
này không được tôn trọng. Tháng 3 năm 1945 Nhật truất quyền
của Pháp ở Việt Nam và nắm toàn quyền lãnh đạo. Việt Nam
được đặt trong khối <em>"Đại Đông Á"</em> của Nhật. Việc
Nhật trả độc lập cho Việt Nam và sau đó Tuyên bố độc
lập của Bảo Đại có giá trị trước công pháp quốc tế. Vì
ở thời điểm đó Nhật đã giành chủ quyền Việt Nam từ tay
Pháp (và trả lại cho Bảo Đại). Chính phủ Trần Trọng Kim là
một chính phủ <em>"xứng đáng"</em> so với tiêu chí của Công
pháp quốc tế hiện nay. Chỉ trong một thời gian ngắn chính
phủ này đã tổ chức hành chánh, thiết lập an ninh trật tự
trong xã hội đồng thời thực hiện các công tác cứu trợ
cần thiết cho người dân vì VN đang trong thời chiến tranh,
chịu sự dội bom, đánh phá của Đồng minh, trong tình trạng
thiếu thốn về mọi mặt.

Tuy nhiên, vài tháng sau Nhật đầu hàng. Độc lập và chủ
quyền của Việt Nam mà Bảo Đại tuyên bố chưa kịp nước
nào công nhận.
(Bảo Đại thoái vị, nhượng quyền cho <em>"Chính phủ cách
mạng"</em> của Hồ Chí Minh, có thể do ám ảnh hành động của
thủ tướng Thái Plaek Phibulsongkhram. Ông này từ chức, nhường
quyền lại cho ông Pridi Phanomyong, nguyên là một giáo sư Luật,
là người có khuynh hướng thân Mỹ, chống lại việc hợp tác
với Nhật, do lo ngại việc Thái sẽ bị đặt dưới sự bảo
hộ của Đồng minh vì nước này đứng về phía Nhật trong
thời chiến tranh. Nhưng việc thoái vị này có thể do uy hiếp
của nhóm Hồ Chí Minh).

Hành động thoái vị của Bảo Đại cho thấy là sai lầm. Lý ra
chính phủ Trần Trọng Kim trụ được cho đến khi Đồng Minh
gởi quân vào tước vũ khí của Nhật, vì trên nguyên tắc,
lực lượng quân đội Nhật có bổn phận giữ an ninh trật tự
trong xã hội cho đến khi quân Đồng minh vào giải giới. Số
phận của Việt Nam, cũng như các nước bị Nhật chiếm trong
chiến tranh, đã được các nước Đồng minh định đoạt
trước ở hội nghị Potsdam 1945.

Tranh chấp đảng phái ở Việt Nam sau đó là tranh chấp để
dành làm đại diện cho Việt Nam để đối thoại với Đồng
minh.

<strong>2.2</strong> Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa của Chính phủ
lâm thời (Mặt trận Việt Minh, từ 2-9-1945 đến tháng 12 năm
1946):

Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh 16-8-1945, ở Việt Nam đã có một
khoảng trống chính trị vì chính phủ Trần Trọng Kim không có
thực lực. Việc này có thể do hệ quả của việc không dám
dựa vào quân đội Nhật (vẫn còn trách nhiệm giữ an ninh
trật tự tại Việt Nam cho đến khi Đồng minh vào giải giới),
vì sợ kết vào tội làm <em>"bù nhìn"</em> cho Nhật. Trong khi
các lực lượng <em>"lưu vong"</em> như Việt Minh của Hồ Chí
Minh, Việt Nam Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh, Việt Nam Cách
mạng Đồng minh hội của Nguyễn Hải Thần, Đại Việt của
Nguyễn Tường Tam… đều nhôn nhao về nước tìm cách nắm
chính quyền. Trong đó ông Hồ Chí Minh tỏ ra nắm vững tình
hình quốc tế và cao tay về chính trị hơn cả.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm <em>"cách
mạng"</em>, một chính phủ <em>"lâm thời"</em> được Hồ Chí
Minh thành lập tại Hà Nội. Việc này chỉ xảy ra vài ngày
trước khi quân Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch vào Bắc Kỳ,
(theo qui định của các nước Đồng minh ở Hội nghị Potsdam).
Quân Tưởng gồm hai đạo, vào Việt Nam từ hai ngả: từ Quảng
Tây vào Lạng Sơn do Tiêu Văn cầm đầu và từ Vân Nam vào Lào
Cai do Lư Hán cầm đầu, tổng cộng khoảng 180.000 quân. Hai
đạo quân này đi tới đâu thì tước khí giới của Việt Minh
tới đó, rồi giao chính quyền quyền cho quân của các đảng
phái khác (VNQDD, ĐV, VNCMDMH) thân Tàu. Hồ Chí Minh lo bị mất
quyền, vì thế, từ Hà Nội, ông hô hào tổ chức <em>"tuần
lễ vàng"</em>, nhằm quyên góp vàng bạc trong dân để có
phương tiện đút lót cho các tướng Tiêu Văn và Lư Hán để
giữ quyền hành. Nhờ hành vi <em>"lo lót"</em> này, các vị
tướng Tàu ngả về ủng hộ Hồ Chí Minh, làm áp lực lên các
đảng phái khác (vốn rất chia rẽ, một phe theo Tiêu Văn, một
phe theo Lư Hán), ép thành lập <em>"Chính phủ Liên hiệp Lâm
thời"</em> ngày 25 tháng 12 năm 1945. Chính phủ này gồm có đại
diện của các phe phái tại Việt Nam. Quốc hội cũng được
tổ chức qua cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Ngày 2 tháng
3, Quốc hội nhóm họp, tuyên bố <em>"Chính phủ Liên hiệp
Kháng chiến"</em> thành hình, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và
Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch.

Hồ Chí Minh cũng nắm bắt được tin Pháp đang vận động với
Tưởng Giới Thạch, trao đổi quyền lợi giữa Pháp và Trung
Hoa, để quân Pháp vào thay thế quân Hoa ở miền Bắc (thực ra
ở bắc vĩ tuyến 16), theo như qui định của Đồng minh tại
hội nghị Potsdam. Trong khi đó, Anh cũng trao quyền cho Pháp ở
miền Nam (nam vĩ tuyến 16). Ông Hồ <em>"đón gió"</em> chính trị
trước việc này, tìm cách ký kết với Pháp một kết ước,
mục đích dĩ nhiên là để được xem là đại diện chính
thức của Việt Nam. Ngày 28-2-1946 Pháp và Trung Hoa ký kết ước
Trùng Khánh thì ngày 6 tháng 3 ông Hồ cũng ký với Pháp một
hiệp ước gọi là <em>"hiệp ước sơ bộ"</em>. Theo đó Pháp
công nhận Việt Nam là một nước <em>"tự do"</em> nằm trong
Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp.

Quốc gia Việt Nam từ thời điểm 2-9-1945 đến khi <em>"hiệp
ước sơ bộ"</em> được ký có phải là một quốc gia thực
sự?

Sau khi được Bảo Đại giao ấn và kiếm, biểu tượng uy
quyền của vua đối với thần dân trên lãnh thổ Đại Nam, lý
ra <em>"chính phủ lâm thời"</em> có tính chính đáng để khai
sinh một nước Việt Nam độc lập. Tuy vậy việc này không có
giá trị đối với công pháp quốc tế, một mặt do chưa ổn
định nội an thì quân Tàu đã kéo qua, mặt khác do hệ quả
của <em>"hiệp ước sơ bộ"</em>.

Khi ký hiệp ước sơ bộ, chính phủ của ông Hồ được Pháp
công nhận tư cách đại diện một <em>"quốc gia"</em>, giới
hạn ở Bắc kỳ (đúng ra phía bắc vĩ tuyến 16). Quốc gia đó
là quốc gia <em>"Việt Nam tự do – Vietnam libre"</em>, đứng trong
<em>"Liên bang Đông dương"</em> và khối <em>"Liên hiệp
Pháp"</em>.

Vấn đề phải hiểu thế nào là nước <em>"Việt Nam tự
do"</em> đứng trong <em>"Liên bang Đông dương"</em>?

Từ hòa ước Patenôtre 1884 đến tháng 3 năm 1945, toàn Đông
Dương (gồm Việt Nam, Lào và Cao Miên) thuộc Pháp. Để dễ bề
cai trị, Pháp đặt nền hành chánh thuộc địa tại Việt Nam
theo lối <em>"chia để trị"</em>. Việt Nam bị phân chia thành ba
miền (còn gọi là ba kỳ) riêng biệt. Ba Kỳ cùng Lào, Kampuchia
và Quảng Châu Loan (nhượng địa của TQ) được Pháp đặt
trong <em>"Liên bang Đông dương – Union Indochinoise"</em>, còn gọi
là Đông Dương thuộc Pháp hay Đông Pháp. Liên Bang Đông Dương
ra đời ngày 17-10-1887, do một Toàn quyền (sau này là Cao ủy)
được Pháp bổ nhiệm lãnh đạo. Các <em>"xứ"</em> (tiểu bang)
hay các <em>"kỳ"</em> của Việt Nam trong Liên bang có tình trạng
pháp lý khác nhau. Nam kỳ có qui chế thuộc địa, dân chúng ở
đây có chế độ <em>"thuộc dân – sujets français"</em>, trực
thuộc Bộ Thuộc địa Pháp, do một Tổng đốc (gouverneur) lãnh
đạo. Trong khi Trung kỳ và Bắc kỳ (cũng như Lào và Kampuchia)
có tình trạng pháp lý là các xứ "bảo hộ", trực thuộc Bộ
Ngoại Giao. Dân chúng ở các xứ này có qui chế <em>"dân bảo
hộ Pháp - protégés français"</em>, là qui chế thấp nhứt (1/
công dân Pháp - citoyens français, 2/ thuộc dân Pháp - sujets
français và 3/ dân bảo hộ Pháp - protégés français).

Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam độc lập
mà chỉ nói một nước <em>"Việt Nam tự do"</em> thuộc <em>"Liên
bang Đông dương"</em> và khối <em>"Liên hiệp Pháp"</em>. Tức
ông Hồ chấp nhận <em>"quốc gia"</em> Việt Nam, thực ra là
<em>"tiểu bang"</em> hay <em>"xứ"</em>, do chính phủ ông lãnh
đạo, nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế pháp lý
tương đương với xứ Bắc Kỳ, mà quyền hành của ông còn
dưới quyền của Thống sứ Pháp.

Các đảng phái quốc gia lên án ông Hồ việc này là rước
Pháp vào lại Việt Nam. Nhưng thực ra, có hay không có « hiệp
ước sơ bộ » thì Pháp cũng vào lại Việt Nam. Cũng như có hay
không có các chính phủ của Bảo Đại hay của ông Hồ thì
quân Trung Hoa cũng vào Bắc Kỳ. Việc này là do qui định của
phe chiến thắng, tức các nước Đồng minh. Khi Pháp và Trung Hoa
ký kết ước trao đổi quyền lợi, Pháp trả các nhượng địa
cùng các cơ sở kinh tế của Pháp tại đất Trung Hoa cho họ
Tưởng thì phe này cũng trả lại Việt Nam cho Pháp. Chính trị
gọi là <em>"đón gió"</em> của ông Hồ, vì ông hiểu biết tình
hình quốc tế, biết được định đoạt của Đồng minh về
số phận các quốc gia do Nhật chiếm trước chiến tranh, vì
thế xông xáo ký kết ước với Pháp. Nhưng việc này cũng kết
liễu tính chính thống của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,
đồng thời hành động này làm cho các đảng viên trong đảng
CSVN nghi ngại lập trường của ông Hồ. Vi việc này mà sau này
ông Hồ trở nên rất sắc máu, đúng tiêu chuẩn của một cán
bộ quốc tế vô sản, để chứng minh lập trường của mình.
Nhưng dầu vậy ông Hồ cũng không được phía cộng sản Nga tin
tưởng. Họ nghi ngờ ông Hồ là <em>"cơ hội chủ nghĩa"</em> cho
đến khi ông này qua đời năm 1969.

Như thế nước <em>"Việt Nam Dân chủ Cộng hòa"</em> do ông Hồ
lãnh đạo không hề là một quốc gia thực sự mà chỉ là một
<em>"tiểu bang"</em> trong Liên bang Đông Dương.

Sau khi bị chỉ trích, ông Hồ cố gắng thay đổi thực tế này
qua các hội nghị tại Đà Lạt và Fontainebleau, nhưng đều
thất bại. Chính phủ của ông Hồ rút khỏi Hà Nội và bước
vào cuộc kháng chiến, bắt đầu từ tháng 12 năm 1946. Việc
này, ông Bảo Đại phê rằng: Sau thất vọng ở Fontainebleau,
(Việt Minh) chỉ còn giữ được uy tín bằng cách đưa cả
nước vào biển máu.

<strong>2.3</strong> Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam
(27-5-1948) và Việt Nam Cộng Hòa (26-10-1955 đến 30-4-1975):

Thế chiến Thứ II chấm dứt, việc này cũng kết liễu các
chế độ « thực dân » ở các xứ <em>"thuộc địa"</em> của
các đại cường cũ (Anh, Pháp…). Khuynh hướng của Hoa Kỳ,
đại cường mới lên, chủ trương bãi bỏ tất cả các chế
độ thực dân, do đó khuyến cáo các cường quốc phải trả
lại độc lập cho các thuộc địa của mình. Các xứ như Phi,
Miến Điện, Nam Dương, Ấn Độ và Pakistan… lần lượt lấy
lại độc lập mà không tốn một giọt máu.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, một nước Pháp đã kiệt quệ nhưng
vẫn muốn giữ quyền lợi và ảnh hưởng của mình. Phía Hoa
Kỳ đặt điều kiện cho Pháp, để được sự trợ giúp, phải
để cho dân Việt Nam thành lập một chính phủ đại diện
(nhằm đi đến độc lập và thống nhứt đất nước).

Nội tình Việt Nam hỗn loạn, các đảng phái quốc gia không có
thực lực lại xâu xé, tranh chấp lẫn nhau. Bên có thực lực
là phe của ông Hồ, nhưng là lực lượng là của cộng sản.
Phe này tìm cách loại trừ phe kia để độc chiếm sân khấu
chính trị. Trong khi nội tình nước Pháp cũng không khá hơn.
Chính trị Pháp về Đông Dương chia làm hai khuynh hướng, phe
tả thúc hối chính phủ phải thuơng lượng với Hồ Chí Minh.
Phe hữu thì đòi phải thuơng lượng với Bảo Đại.

Cuối cùng <em>"lá bài"</em> Bảo Đại được Pháp chọn làm
đối tượng đối thoại để thực hiện chính sách mới của
họ về thuộc địa nhằm thỏa mãn các điều kiện của Hoa
Kỳ.

(Thực ra đây là một lựa chọn theo lối <em>"không chó bắt
mèo ăn c."</em>. Vì ông này không cộng sản và có được tính
<em>"chính thống"</em> trước người dân Việt Nam. Ông Bảo
Đại là một type người ăn chơi đàng điếm, cả cuộc đời
chỉ la cà trà đình, tửu quán, sòng bài… không thể là một
<em>"chính khách"</em> của một nước thuộc địa đang gay go
dành lại độc lập (và thống nhứt đất nước) trong một
không gian vô cùng hỗn loạn vì tranh chấp về quyền lợi và
chính trị (ý thức hệ) giữa các cường quốc đang nắm vận
mạng của cả thế giới. Khi được nắm quyền (Quốc trưởng)
ông này chỉ ở bên Pháp, lo ăn chơi chứ không ở lại trong
nước để chia sẻ ngọt bùi với quần thần và dân chúng. Ông
bị Ngô Đình Diệm hạ bệ là hợp lý. So với ông Hồ Chí Minh
thì Bảo Đại thua xa về trí tuệ và tư cách. Nhưng ông Hồ là
người vô sản chân chính, đặt quyền lợi quốc tế cộng
sản lên trên lợi ích của dân tộc.)

Ngày 27-5-1948 Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam được
thành lập do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, Bảo Đại lên
làm <em>"Hoàng Đế, Quốc trưởng"</em>. Ngày 5 tháng 6 năm 1948,
chính phủ này ký bản <em>"Tuyên bố chung"</em> với Cao ủy
Bollaert ở Hạ Long, theo đó Pháp cam kết: <em>"Pháp long trọng
công nhận nền độc lập của Việt Nam, được tự do thực
hiện nền thống nhứt của mình. Việt Nam tuyên bố sát nhập
vào Liên Hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết
với nước Pháp."</em>

Nhưng <em>"bản tuyên bố"</em> này bị các thế lực thân thực
dân ở Nam kỳ chống đối. Cùng lúc ở Paris, chính giới Pháp
phản đối việc này, cho rằng ông Bollaert không có tư cách
để nhượng bộ như vậy. Họ lý luận rằng, trong vấn đề
Nam kỳ, vì đây là <em>"nhượng địa"</em> của Việt Nam cho
Pháp. Do đó mọi quyết định liên quan đến Nam kỳ phải do
quốc hội biểu quyết.

Nhưng thời điểm này nội tình chính trị nước Pháp không ổn
định, nội các thường xuyên thay đổi. Đất nước kiệt quệ
do chiến tranh, rất cần các sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Nội
các mới công bố chính sách Đông Dương vào ngày 19-8-1948, công
nhận nội dung tuyên bố Hạ Long. Đến 8 tháng 3 năm 1949, tuyên
bố Hạ Long được xác định cụ thể qua lá thư của Tổng
thống Vincent Auriol gởi cho Bảo Đại, còn gọi là kết ước
Elysée.

Nội dung có nhiều điều cần bàn cãi, nhưng điểm chính là
Pháp phải công nhận Việt Nam <em>"độc lập"</em> và <em>"thống
nhứt"</em>. Đây là một thắng lợi lớn của Việt Nam, là
tiền đề để xây dựng một nước Việt Nam độc lập và tự
chủ. Cho dầu về một số mặt còn lệ thuộc vào Pháp, nhưng
không tốn giọt máu nào, thì đó cũng là cái giá rất rẻ để
chấp nhận.

Đối với các định chế quốc tế, Quốc gia Việt Nam của
của Bảo Đại đã được chấp thuận đại diện cho nước
Việt Nam duy nhứt, gia nhập vào các tổ chức quốc tế như sau:

- Tổ chức Y tế Quốc Tế (l'Organisation mondiale de la Santé -
O.M.S.) ngày 17 tháng năm năm 1950.

- Tổ chức Lao động Quốc tế (l'Organisation internationale du
Travail - O.I.T.), ngày 21 tháng sáu năm 1950.

- Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Lương thực và Nông
nghiệp (l'Organisation des Nations Unies pour l'alimentation et
l'agriculture - F.A.O.), ngày 11 tháng 11 năm 1950.

- Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn
hóa (l'Organisation des Nations Unies pour l'éducation, la science et la
culture - U.N.E.S.C.O.), ngày 21 tháng 6 năm 1951.

- Liên hiệp Quốc tế về Viễn Thông (l'Union internationale des
Télécommunications - U.I.T), ngày 24 tháng 9 năm 1951.

- Liên hiệp Bưu chính Thế giới (l'Union postale universelle -
U.P.V.), ngày 20 tháng 10 năm 1951.

Năm 1951, ông Trần Văn Hữu, nguyên thủ tướng kiêm bộ
trưởng bộ ngoại giao, đại diện Việt Nam đi dự hội nghị
San Francisco, ký kết hiệp ước Hòa Bình với Nhật. Nhân dịp
này ông đã tuyên bố tại hội nghị về chủ quyền lâu đời
của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã bị
Nhật chiếm đóng trái phép trong thời kỳ chiến tranh, do đó
ông thay mặt quốc gia Việt Nam tuyên bố quyết định thâu hồi
hai vùng lãnh thổ này về lại quốc gia Việt Nam. Tuyên bố
của ông Trần Văn Hữu không gặp phản đối của nước nào
nào tại hội nghị.

Quốc gia Việt Nam với Quốc trưởng Bảo Đại cũng được
nhiều nước trên thế giới công nhận, như Hoa Kỳ, tóa thánh
Vatican cũng như nhiều nước khác trong thế giới tự do (đến
năm 1954 có 35 nước công nhận).

Tháng 6 năm 1954 Ông Diệm về làm thủ tướng. Một tháng sau
đất nước bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 theo Hiệp định
Genève. Ngày 20-10-1955 ông Diệm trưng cầu dân ý truất phế ông
Bảo Đại. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 đổi tên nước và thành
lập chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Nội dung Hiệp định Genève ký kết giữa Pháp và VNDCCH, xác
định nước Việt Nam là duy nhứt, việc phân chia hai miền chỉ
là tạm thời. Các định chế quốc tế tôn trọng điều này.

Việc phân chia đất nước, chính phủ Bảo Đại (và Hoa Kỳ)
chống đối. Chính phủ Quốc gia Việt Nam (cũng như hai nền
cộng hòa của nước VNCH sau này), tôn trọng tính liên tục
của quốc gia, cũng không công nhận nhà nước VNDCCH và chủ
trương một quốc gia Việt Nam (thống nhứt ba kỳ) và duy nhứt.

Sau 1954, Chính phủ VNDCCH được thành lập ở miền bắc nhưng
không đại diện cho quốc gia Việt Nam ở các định chế quốc
tế. VNCH, kế thừa di sản của Quốc Gia việt Nam, tiếp tục
đại diện cho quốc gia Việt Nam tại các định chế quốc tế
đã ghi ở trên. Tức các định chế quốc tế công nhận tính
liên tục quốc gia Việt Nam, từ Quốc Gia Việt Nam sang Việt Nam
Cộng Hòa.

Ngày 18 tháng 11 năm 1954, Quốc Gia Việt Nam được chấp nhận
cho gia nhập vào Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế
(l'Organisation internationale pour l'aviation civile - O.A.C.L).

Ngày 1 tháng 4 năm 1955 QGVN được chấp nhận cho gia nhập Tổ
chức Khí tượng Thế giới (l'Organisation mondiale de la
météorologie – O.M.M).

Ngày 21 tháng 9 năm 1956 VNCH được gia nhập Ngân hàng Quốc tế
về Tái xây dựng và Pháp triển (la Banque internationale pour la
reconstruction et le développement - B.I.R.D.).

Sau 1963, nền Đệ nhứt cộng hòa chấm dứt, nền Đệ nhị
cộng hòa kế thừa VNCH, tiếp tục đại diện cho quốc gia
Việt Nam duy nhứt tại các định chế quốc tế cho đến khi
sụp đổ ngày 30-4-1975.

Như thế, tóm lại, từ Quốc Gia Việt Nam 1948 cho đến Việt Nam
Cộng Hòa 1975, các quốc gia này đã giữ được tính liên tục
và thể hiện sự kế thừa di dản quốc gia từ các triều
đại phong kiến, nhà Nguyễn, đến thời kỳ Pháp thuộc.

Nhà nước Quốc Gia Việt Nam đã tuyên bố dành lại Hoàng Sa và
Trường Sa cho Việt Nam tại hội nghị San Francisco năm 1951. Nhà
nước VNCH đã đổ máu gìn giữ Hoàng Sa khi quân Tàu xâm lăng
năm 1974.

<strong>2.4</strong> Quốc gia <em>"Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa"</em>
từ tháng 12 năm 1946 đến Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 và
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ tháng 7-1954 đến 30-4-1975

Từ tháng 12-1946 đến tháng 7 năm 1954 là khoảng thời gian gọi
là <em>"chín năm kháng chiến"</em>, hay còn gọi là <em>"cuộc
chiến Đông dương lần thứ nhứt"</em>. Chính phủ của ông Hồ
tuyên bố <em>"tiêu thổ kháng chiến"</em>, phá bỏ thành thị,
làng xã, rút vào rừng thành lập các khu kháng chiến. Chính
phủ của ông Hồ trở thành một <em>"chính phủ kháng
chiến"</em> thực sự với ý nghĩa của nó.

Nhưng từ năm 1949, sau khi Tàu Mao thắng Tàu Tưởng, cuộc chiến
<em>"kháng chiến giành độc lập"</em> cũng trở thành cuộc
chiến để cộng sản Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng. Từ
tháng 2 năm 1951, đại hội đảng CSVN lần 2, ông Hồ tuyên bố
phương pháp chiến tranh là lấy kinh nghiệm chiến tranh cách
mạng của Trung Quốc, tư tưởng là lấy tư tưởng của Mao
Trạch Đông. Cuộc "kháng chiến giành độc lập" của Việt Nam
được Mao Trạch Đông hoạch định cùng sách lược với cuộc
chiến Triều Tiên, trong chiến lược nhuộm đỏ Châu Á,
<em>"gió Đông thổi bạt gió Tây"</em>. Trong cuộc chiến Triều
Tiên, phía Trung Cộng đã gởi hàng triệu <em>"chí nguyện
quân"</em> đánh giúp Bắc Hàn. Cuộc <em>"kháng chiến thần
thánh"</em> dành độc lập của Việt Nam đã đổi sang màu
<em>"đỏ"</em> của phong trào vô sản quốc tế. Bộ đội ông
Hồ, từ quân trang, quân dụng, vũ khí, lương thực cho đến
cán bộ chỉ huy, tất cả đều do Trung Cộng cung cấp. Nhờ sự
giúp đỡ vô biên của Trung Quốc, bộ đội của ông Hồ, cùng
với bộ đội của bác Mao, thắng được quân Pháp ở trận
Điện Biên Phủ, buộc Pháp ký Hiệp định Genève 1954.

Câu hỏi đặt ra, <em>"quốc gia"</em> Việt Nam DCCH với <em>"chính
phủ kháng chiến"</em>, từ tháng 12-1946 đến tháng 7-1954, do ông
Hồ lãnh đạo có phải là một <em>"quốc gia"</em> đầy đủ ý
nghĩa theo Công pháp quốc tế hay không?

Dĩ nhiên là không! Một chính phủ kháng chiến luôn là một
chính phủ tạm thời. Về lãnh thổ thì chính phủ này chỉ
kiểm soát trên rừng rú. Chính phủ này không hề kiểm soát
được các tỉnh lớn, không đem lại an ninh và hòa bình cho dân
chúng. Trong khi người dân, ngoại trừ những người ở thôn
quê hẻo lánh không có điều kiện, hầu như tất cả đều
<em>"dinh tê"</em>.

Cuối cùng <em>"kháng chiến thành công"</em>, Pháp thua Việt Minh
ở trận Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định Genève tháng 7
năm 1954. Chính phủ VNDCCH do ông Hồ lãnh đạo vì vậy lấy
được một nửa đất nước, tính từ vĩ tuyến 17. Nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hiện hữu trên thực tế (de facto)
từ đây.

Nhưng các chính sách của nhà nước VNDCCH đã tố cáo nhà
nước này lệ thuộc vào một thế lực ngoại bang. Sau 1954, các
chính sách về kinh tế, cách thức tổ chức xã hội, tư tưởng
chính trị, văn hóa… thảy đều rập khuôn với các chính sách
của Mao Trạch Đông đã áp dụng trước đó tại Trung Hoa lục
địa. Các phong trào <em>"cải cách ruộng đất"</em>, phong trào
<em>"trăm hoa đua nở"</em>, phong trào diệt "trí phú địa hào"…
áp dụng tại Việt Nam đều là ý kiến của cố vấn Trung
Quốc.

Một nhà nước không vì lợi ích của dân chúng là một nhà
nước không xứng đáng. Một nhà nước lệ thuộc vào ngoại
bang là một nhà nước không được công nhận theo quốc tế
công pháp.

Về lập trường chính trị, chính phủ VNDCCH tuyên bố theo xã
hội chủ nghĩa, chủ trương một nước Việt Nam duy nhứt (theo
qui định của Hiệp định Genève). Chính phủ VNDCCH không công
nhận sự hiện hữu của một chính phủ VNCH ở miền Nam. Chính
phủ VNCH bị gán cho là chính quyền ngụy, bù nhìn, do đế
quốc lập nên chứ không do nguyện vọng của người dân miền
Nam. Chính phủ VNDCCH cũng tuyên bố không công nhận bất kỳ
một đại diện nào cho Việt Nam từ phía VNCH tại các định
chế quốc tế. Tức là chính phủ VNDCCH chủ trương một quốc
gia VN duy nhứt mà họ là đại diện chính thống.

Chính phủ VNDCCH, trên phương diện công pháp quốc tế, là một
chính phủ hiện hữu trên thực tế (de facto) nhưng không được
công nhận (de jure). Chính phủ này không hề đại diện nước
Việt Nam duy nhứt tại bất kỳ một tổ chức quốc tế nào.
Trong khi tư cách đại diện của VNCH tại các tổ chức này thì
bị VNDCCH phủ nhận. Lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở về bắc
là lãnh thổ mà tổ chức chính trị của ông Hồ
<em>"chiếm"</em> được. Chính quyền họ có trong tay là do
<em>"cướp"</em> được.

Những người cộng sản Việt Nam rất tự hào về việc này.
Họ tuyên bố đoạn tuyệt với quá khứ, không chấp nhận di
sản của chính quyền thực dân cũng như đả phá các nhà
nước tiền nhiệm Việt Nam thời phong kiến. Họ tuyên bố sáng
lập một nước Việt Nam mới. Như thế, vấn đề liên tục
quốc gia không đặt ra. Việc kế thừa cũng không đặt ra.

Nhưng khó khăn chỉ đến khi đối diện với thực tế. Sau 1975,
vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa sẽ giải quyết
thế nào, khi chính quyền này đã công nhận nhiều lần trong
quá khứ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc?

Vấn đề về liên tục quốc gia vì thế phải được quan niệm
lại, đồng thời với việc kế thừa. Các việc này phải
được thực hiện như thế nào để quốc gia Việt Nam không
mất lãnh thổ (và hải phận) ở hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa?

<strong>2.5</strong> Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và
Chính phủ Cách mạng Lâm thời 20-12-1960 đến 2-7-1976:

Trong vấn đề <em>"thống nhứt"</em> đất nước, VNDCCH chủ
trương <em>"giải phóng miền nam"</em>, vì đồng bào miền nam
đang quằn quại dưới ánh cai trị bạo tàn của Mỹ-Ngụy.
Vấn đề <em>"giải phóng"</em> sẽ được thực hiện bằng bạo
lực, bằng cách phát động cuộc chiến tranh cách mạng, hô hào
dân miền Nam nổi dậy lật đổ chế độ.

Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được khai sinh để phục vụ
cho chủ trương đó. Mặt Trận khai sinh ngày 20-12-1960 theo nghị
quyết của của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba của
đảng CSVN (lúc đó là đảng Lao Động), được đặt dưới
sự lãnh đạo của bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục
miền Nam.

Mục tiêu của Mặt Trận là: <em>"đoàn kết các tầng lớp nhân
dân, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và nhân sĩ yêu nước
không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh lật đổ
ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình
Diệm, tay sai của Mỹ, để thực hiện độc lập, dân chủ,
hòa bình, trung lập tiến tới hòa bình thống nhứt tổ
quốc."</em>

Cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, thực hiện theo một
nghị quyết khác của đảng CSVN, là một thành công chính trị
lớn lao cho đảng CSVN. Con cờ mà họ lập ra, MTGPMN, từ nay
được quốc tế biết đến. Chính phủ Cách mạng Lâm thời
được thành lập ngày 8-6-1969. Dĩ nhiên VNDCCH cùng các nước
trong khối cộng sản lập tức công nhận thực thể chính trị
này. Việc này đặt lại tính chính thống của chính phủ VNCH
trước các định chế quốc tế, làm yếu đi tư thế đại
diện một nước Việt Nam duy nhứt. Nhưng cho đến khi sụp
đổ, VNCH vẫn là đại diện duy nhứt cho quốc gia Việt Nam
tại các tổ chức quốc tế.

Cùng lúc chính trị của Mỹ về vấn đề Việt Nam bước vào
khúc quanh quyết định. Mỹ muốn <em>"Việt Nam hóa chiến
tranh"</em>, vì thấy không cần thiết để hiện diện ở Việt
Nam nữa, sau khi bắt tay được với Mao Trạch Đông qua việc ký
kết ước Thượng Hải. Chính phủ Cách mạng Lâm thời được
Mỹ nâng lên ngang tầm với VNCH, để bốn bên Mỹ, CS miền
Bắc, VNCH và CPCMLT ký kết hiệp định Paris 1972. Hoa Kỳ bắt
đầu rút quân khỏi miền Nam đồng thời cúp viện trợ quân
sự cho VNCH.

Việc đến phải đến, 30-4-1975 VNCH sụp đổ. Quốc gia VNCH
đổi tên thành Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

<h2>III. Vấn đề kế thừa giữa VNCH và CHMNVN qua khía cạnh
đại diện các định chế quốc tế - Thái độ của VNDCCH</h2>

Bộ trưởng bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời
là bà Nguyễn Thị Bình. Sau khi VNCH sụp đổ, bà Bình đã có
những động thái hướng đến các tổ chức quốc tế nhằm
kế thừa danh nghĩa của VNCH đại diện cho quốc gia Việt Nam.
Ngày 7-5-1975, một điện tín từ Bộ ngoại giao của Cộng hòa
Miền Nam Việt Nam đã gởi đến O.M.S, cùng lúc với các định
chế quốc tế khác, nội dung tóm lược như sau:

<div class="special_quote"><em>"Chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt
Nam thông báo đã kiểm soát hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam. Chế
độ cũ ở Sài Gòn đã sụp đổ. Chính phủ Cách Mạng lâm
thời là người duy nhứt có thẩm quyền, thực sự đại diện
dân chúng miền Nam, có tính chính thống để đại diện miền
Nam Việt Nam tại O.M.S cũng như các định chế quốc tế
khác."</em></div>

Việc <em>"kế thừa"</em> VNCH của Chính phủ Cách mạng Lâm
thời tại các định chế quốc tế không gặp khó khăn, chỉ
đơn giản là việc <em>"đổi tên nước"</em>, tại UNESCO vào
tháng 7 -1975, U.I.T vào tháng 2 năm 1976.

Điều cần ghi nhận là động thái của VNDCCH qua việc xin gia
nhập O.M.S như là <em>"một thành viên chính thức"</em> vào ngày
10 tháng 4 năm 1975. Việc này được đại hội O.M.S chấp nhận
ngày 7-5. Lập trường một quốc gia Việt Nam duy nhứt đã bị
phá bỏ. Tức là có hai nước Việt Nam tại O.M.S.

Điều cần ghi nhận khác, tại đại hội O.M.S năm 1976, hai
quốc gia VNDCCH và CHMNVN chỉ có một phái đoàn đại diện.
Việc này vi phạm điều lệ LHQ, vì một người không thể
đại diện cho hai quốc gia. Tuy vậy, việc này cũng được
thông qua, với điều kiện, khi phái đoàn phát biểu cho nước
nào thì phải để bảng ghi tên nước đó phía trước.

Như thế, trong chừng mực, VNDCCH chấp nhận có hai quốc gia
Việt Nam: VNDCCH và CHMNVN, sau ngày 30-4-1975.

Việc thống nhứt đất nước 2-7-1976 như thế là thống nhứt
giữa hai quốc gia. Vấn đề kế thừa về lãnh thổ do đó mang
một sắc thái chính trị khác.

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, việc phải lên tiếng
khẳng định chủ quyền là một điều bắt buộc. Như đã
viết ở trên:

<em>"Trường hợp quốc gia có thay đổi chính thể do biến
động chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một quốc
gia mới được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai vùng
lãnh thổ, quốc gia ly khai…) việc kế thừa quốc gia sẽ đặt
ra nhằm tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết
ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc
gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác."</em>

Quốc tế cần phải biết thái độ của chính phủ mới về
chủ quyền của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi vì,
ở Trường Sa có tranh chấp với Trung Quốc và một số nước
khác; ở Hoàng Sa thì Trung Quốc đã xâm lăng đảo này bằng vũ
lực tháng 2 năm 1974. Việc lên tiếng không chỉ là cần thiết
mà còn là bắt buộc, nếu Việt Nam muốn khẳng định chủ
quyền ở hai quần đảo này.

Sau 30-4-1975, không thấy chính phủ Chính phủ Cách mạng Lâm
thời tuyên bố lời nào về chủ quyền của Hoàng Sa và
Trường Sa. Thái độ im lặng này của Chính phủ Cách mạng Lâm
thời có thể sau này ảnh hưởng đến hồ sơ pháp lý của
Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Theo thông lệ quốc tế,
người ta thường xem việc một quốc gia giữ yên lặng trước
một động thái của một quốc gia khác là không có ý kiến
(hay mặc nhiên đồng thuận) về động thái đó. Thí dụ, thái
độ im lặng của chính phủ VNDCCH trước việc Trung Quốc xâm
lăng Hoàng Sa là một thái độ mặc nhiên đồng thuận việc
Trung Quốc <em>"giải phóng Hoàng Sa"</em>. Trong khi đó, Liên Xô
đã lên tiếng phản đối động thái này của Trung Quốc.

Việc này không gây ngạc nhiên, bởi vì cuộc chiến này đã
được gọi là cuộc chiến <em>"giải phóng"</em>, tức cuộc
chiến đánh đổ (phủ nhận) chính phủ tiền nhiệm, nhằm tháo
gỡ cùm gông kìm kẹp dân chúng. Chính phủ Cách mạng Lâm thời
đã xem chính phủ tiền nhiệm là ngụy, là <em>"quân bán
nước", "làm tay sai của quân cướp nước"</em> (tức đế quốc
Mỹ). Do đó không có vấn đề <em>"kế thừa"</em> lãnh thổ.
Làm thế nào có việc kế thừa <em>"bọn cướp nước và bè lũ
bán nước"?</em> mà chỉ có vấn đề <em>"giải phóng", "đánh
cho Mỹ cút, ngụy nhào"</em>, chiếm lại đất đai và dành lại
dân chúng. Một số đảo ở TS đã được thể hiện như thế
(de facto).

Đến nay, các mặt nạ lần lượt rơi xuống. Mọi người đều
biết MTGPMN là con đẻ của đảng CSVN, chứ không hề do nhân
dân miền Nam thành lập để <em>"vùng lên"</em> chống áp bức.
Các cán bộ lãnh đạo Mặt Trận đều là đảng viên của
đảng CSVN. Những lãnh đạo CSVN hiện nay, hay đã quá cố (Võ
Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng,
Nguyễn Minh Triết...), những người trong MTGPMN cũ, đều là
thành viên TW của đảng CSVN. Nói MTGPMN là con đẻ của đảng
CSVN là không sai. Đây là một thực tế không thể phản biện.

Chính phủ VNCDCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời tuy hai mà
một. Ý kiến của VNDCCH về Hoàng Sa và Trường Sa trong chừng
mực cũng là ý kiến của CHMNVN. Mà ý kiến đó là công nhận
chủ quyền của TQ tại Hoàng Sa và Trường Sa. Ý kiến này
không được người dân Việt Nam nào, Nam cũng như Bắc, chấp
nhận. Hoàng Sa và Trường Sa là các lãnh thổ của quốc gia
Việt Nam, do tổ tiên người Việt Nam khám phá, khai thác và
quản lý trên thực tế liên tục từ nhiều thế kỷ. Chấp
nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc
là phản bội tiền nhân, đi ngược lại quyền lợi của dân
tộc Việt Nam.

Sự thật lịch sử là như thế, vấn đề đặt ra, nước
CHXHCNVN thống nhứt ngày hôm nay sẽ kế thừa chủ quyền ở hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào? Nước này sẽ
đứng trên lập trường của nước nào, VNDCCH, CHMNVN hay VNCH
để khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa? Đây
không phải là một lựa chọn về <em>"chính trị"</em> mà là
một quyết định đứng vào lập trường nào để có thể bảo
vệ một cách hữu hiệu quyền lợi của dân tộc.

<h2>IV. Tính pháp lý của việc kế thừa hai quần đào Hoàng Sa
và Trường Sa của nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt
Nam</h2>

Ngày 2-7-1976 hai nước VNDCCH và CHMNVN hiệp thương thống nhứt
đất nước. Như đã viết ở phần trên, VNDCCH chủ trương có
hai nước Việt Nam sau 30-4-1975, qua việc VNDCCH xin gia nhập các
định chế quốc tế. Ở điểm này, CHMNVN <em>"kế thừa"</em>
VNCH, việc gia nhập vào các định chế quốc tế của CHMNVN
chỉ đơn giản là thủ tục đổi tên nước. Nhưng sự gia
nhập của nước VNDCCH vào các định chế quốc tế là với tư
cách một nước Việt Nam khác.

Với tư cách một quốc gia khác, sau khi thống nhứt đất
nước, CHXHCNVN có kế thừa VNCH hay không?

Sau khi thống nhứt đất nước, đại diện của Việt Nam tại
các định chế quốc tế là đại diện của nước VNDCCH vừa
mới gia nhập trước đó. Tính liên tục quốc gia đã được
xác định: từ VNDCCH chuyển sang CHXHCNVN. Việc này làm rõ rệt
tương quan giữa VNDCCH và VNCH. Nếu CHXHCNVN có ý định kế
thừa CHMNVN, tức kế thừa VNCH, thì đã không gia nhập vào các
định chế quốc tế (như trước 1975), để khẳng định nguyên
tắc một quốc gia Việt Nam duy nhứt. Ở trường hợp này, sau
khi thống nhứt giữa hai nước VNDCCH và CHMNVN, đại diện của
CHMNVN, kế thừa VNCH, cũng sẽ là đại diện của nước Việt
Nam mới CHXHCNVN.

Nhưng trường hợp này đã không xảy ra. VNDCCH luôn quan niệm
VNCH là một chính quyền <em>"tay sai của ngoại bang"</em>, là
<em>"ngụy"</em> cần phải lật đổ, do đó không thể hiện hữu
vấn đề kế thừa.

Nước CHXHCNVN là một nước Việt Nam mới, đoạn tuyệt với
quá khứ của nhà nước thực dân và các nhà nước phong kiến.
Lãnh thổ của nước CHXHCNVN là lãnh thổ chiếm được từ tay
Pháp (1954) và Mỹ, Ngụy (1975), chứ không phải là lãnh thổ
kế thừa từ cha, ông. Nhà nước CHXHCNVN cũng là nhà nước
mới, đoạn tuyệt với mọi nhà nước thực dân, phong kiến,
hay chính quyền Ngụy ở Sài Gòn.

Tinh liên tục quốc gia đã được thể hiện: di sản của VNDCCH
được chuyển sang CHXHCNVN. Chính quyền CHXHCNVN kế thừa di sản
của chính phủ VNDCCH. Việc này càng rõ rệt hơn khi ta nhận
thấy đảng lãnh đạo nhà nước VNDCCH trước kia và đảng
lãnh đạo nhà nước CHXHCNVN hôm nay là một: đảng CSVN.

Vấn đề kế thừa chính phủ CMLT cũng không đặt ra. Những
người lãnh đạo chính phủ này cũng nằm trong đảng CSVN. Tức
cả hai nước VNDCCH và CHMNVN, nhân sự lãnh đạo đều nằm
trong một đảng. Mình với ta tuy hai mà một, lập trường chính
trị của hai nước chỉ là một. Lý ra, sau 30-4-1975, CPCMLT không
cần phải kế thừa VNCH, gia nhập các định chế quốc tế.
Việc này hôm nay mới thấy đó là một thủ thuật chính trị
của đảng CSVN để khỏi phải vướng mắc với di sản của
VNCH tại các định chế quốc tế khi phải xin gia nhập sau này.

Như đã viết ở phần 1, việc kế thừa sẽ đặt lại các
vấn đề về bang giao quốc tế. Đó là việc tái xác định,
hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn
phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện
đối với các nước khác. Sau 1975, chính phủ CMLT đã im lặng
về tình trạng pháp lý ở Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó,
nước CHXHCNVN, kế thừa VNDCCH, còn phải có nghĩa vụ tôn
trọng những kết ước, những tuyên bố đơn phương về một
vấn đề quốc tế... của nhà nước tiền nhiệm VNDCCH.

<h2>V. Tạm kết:</h2>

Với những phân tích sơ lược ở trên ta có thể kết luận
danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa
vẫn chưa hề thụ đắc (de jure). Xu thế của thời đại là
giải quyết tranh chấp bằng phương tiện hòa bình. Tranh chấp
Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có thể giải quyết bằng một tòa
án quốc tế. Với những lổ hỗng pháp lý như thế, nếu đưa
ra một tòa án để phân giải ngay bây giờ, Việt Nam không có
nhiều hy vọng để thắng Trung Quốc.

Vì vậy, mọi yếu tố pháp lý có thể làm phương hại cho
Việt Nam đều phải được bàn luận tới. Bàn luận bằng môt
thái độ khách quan, khoa học, với những dữ kiện thuyết
phục, kiểm chứng được. Có như thế ta mới nắm vững
được ngọn ngành của vấn đề.

Người viết sẽ trở lại trong bài tới để trình bày về
hiệu lực pháp lý của các tuyên bố đơn phương và các hành
vi mặc nhiên chấp thuận (của nhà nước VNDCCH về Hoàng Sa và
Trường Sa) theo tài liệu hướng dẫn chính thức của LHQ.
Người viết cũng sẽ phân tích về hiệu lực pháp lý của các
tuyên bố đơn phương, các hành vi mặc nhiên chấp thuận qua
các bản án mẫu của Tòa án Công lý Quốc tế (C.I.J), qua các
trường hợp tranh chấp lãnh thổ đã xảy ra trong lịch sử
thế giới, ở một số thí dụ để so sánh với trường hợp
Việt Nam. Các thí dụ:

1/ nội dung và hiệu lực pháp lý của lá thư của Bộ ngoại
giao Colombie gởi chính phủ Vénézuela về chủ quyền quần đảo
Los Monjes.

2/ Nội dung và hiệu lực pháp lý của công hàm chính phủ lâm
thời Johor về chủ quyền đảo Pedra Branca trong tranh chấp chủ
quyền đảo này giữa Mã Lai và Tân Gia Ba.

3/ nội dung và hiệu lực pháp lý tuyên bố <em>"Ihlen"</em> của
bộ trưởng Bộ ngoại giao Na Uy về chủ quyền Groenland trong
tranh chấp lãnh thổ này giữa Đan Mạch và Na Uy.

4/ Nội dung tuyên bố của các viên chức Pháp về chủ quyền
các đảo <em>"Anglo-Normand"</em> trong quá khứ và tác động của
chúng lên quyết định của tòa án trong tranh chấp Anh-Pháp về
chủ quyền các đảo này. 5/ Về thái độ của chính phủ Thái
Lan về tấm bản đồ phân định biên giới 1907 và hệ quả
của thái độ này lên phán quyết của tòa án trong tranh chấp
Thái-Miên về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear v.v…

Khi đã có một ý thức về hiệu quả pháp lý của các tuyên
bố đơn phương hay các thái độ mặc nhiên công nhận qua các
bản án mẫu, ta sẽ thấy tầm tác hại to lớn của các động
thái trước kia của nhà nước VNDCCH về Hoàng Sa và Trường Sa.
Sau đó ta phải đi tìm một phương pháp thích ứng để hóa
giải kịp thời hiệu lực của các tuyên bố hay thái độ này.

Chỉ có vậy mới có thể giữ được bờ cõi của tổ tiên,
mới tránh được cảnh ức hiếp của Trung Quốc như các việc
cắt cáp tàu Bình Minh II năm ngoái, hay việc cho đấu thầu 9 lô
ngay trên thềm lục địa, trong vùng 200 hải lý ZEE của Việt
Nam mới đây. Đó còn chưa nói tới nạn nhân trục tiếp là
các ngư dân Việt Nam, những người thường xuyên bị TQ bắt
bớ, tịch thu ngư cụ, tàu bè, bắt đòi tiền chuộc.

Không còn cách nào khác, Việt Nam là nước yếu, muốn bảo vệ
quyền lợi của mình là phải đưa vấn đề ra tòa án quốc
tế. Công lý dùng để bênh vực kẻ yếu. Mọi thái độ
<em>"đà điểu"</em>, hay thái độ <em>"uống thuốc an thần"</em>
có thể giữ được đảng trong lúc này, có tác dụng trong giai
đoạn mà tác hại đến đất nước lâu dài. Chế độ hữu
hạn. Đất nước vĩnh cửu.

<strong>Trương Nhân Tuấn</strong>

_____________________________________________

<strong>Ghi chú</strong>: Một số dữ kiện ở phần 2.3 và 3 dẫn
từ bài "La représentation du VietNam dans les institutions
spécialisées" của bà Joële Nguyên Duy-Tân. In: Annuaire français de
droit international, volume 22, 1976. pp. 405-419.
http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996



***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13347), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét