Thứ tư, tháng bảy 04, 2012

Trần Hữu Dũng - Văn hóa và Tăng trưởng: Đọc “Vĩnh biệt bố thí” (Farewell to Alms) của Gregory Clark

<div class="special_quote"><strong>Lời toà soạn Thời Đại
Mới:</strong> Vài năm gần đây, nhiều quyển sách quan trọng
về tăng trưởng và phát triển đã được xuất bản ở Mỹ.
Ba cuốn được chú ý nhất (và đã được dịch ra nhiều thứ
tiếng) là: (i) "Vĩnh biệt bố thí" của Gregory Clark, (ii)
"Nguồn gốc của trật tự chính trị" của Francis Fukuyama,
và (iii) "Tại sao các quốc gia thất bại" của Daron Acemoglu
và James Robinson. Thời Đại Mới sẽ lần lượt giới thiệu
những tác phẩm nổi tiếng này với bạn đọc.

Kỳ này, tạp chí chúng tôi xin bắt đầu với quyển sách của
Gregory Clark.
</div>

Một cuốn sách xuất bản gần đây được nhiều chú ý trong
giới kinh tế là cuốn "Vĩnh biệt bố thí" của Gregory Clark.
[1] Đây là một tác phẩm vừa hữu ích trong việc khơi dậy
một sự kiện có thể là quan trọng bậc nhất trong lịch sử
loài người ̶ căn nguyên của cuộc Cách mạng Công nghiệp
– vừa có nhiều ý kiến đáng thảo luận về khả năng tăng
trưởng hiện nay của các nước nghèo. Chúng tôi xin tóm tắt
và thẩm định cuốn này để giới thiệu với bạn đọc.

<h2>Ba câu hỏi về cuộc Cách mạng Công nghiệp</h2>

Không như đa số các nhà kinh tế hiện nay, Gregory Clark là một
chuyên gia về <em>sử</em> kinh tế, [2] một ngành tương đối ít
người theo. Nhìn lại lịch sử kinh tế thế giới suốt mấy
ngàn năm, Clark cho rằng có ba câu hỏi vẫn chưa được trả
lời thoả đáng: <em>Một là</em>, tại sao cuộc Cách mạng Công
nghiệp xảy ra vào thế kỷ 18, mà không lúc nào khác? [3]
<em>Hai là</em>, tại sao cuộc cách mạng ấy xuất phát ở Anh,
mà không từ nơi nào khác? Ba là, tại sao sau cuộc cách mạng
thì chỉ một số quốc gia (hầu hết ở châu Âu và Bắc Mỹ)
là nhanh chóng phát triển, và ngày càng giàu có, còn những
quốc gia khác (đặc biệt là ở châu Phi) thì vẫn trì trệ,
thậm chí có nơi tụt lùi?

Lý thuyết mà Gregory Clark đưa ra, truớc hết, là để trả lời
ba câu hỏi trên. Nhưng hơn thế nữa, Clark còn cho rằng lý
thuyết của ông (và những bài học chính sách rút ra từ đó)
là phổ quát, nhất quán, thích hợp cho mọi nơi, mọi thời.
Nói vắn tắt, theo Clark, "<em>văn hoá</em>" (theo cách ông
định nghĩa, duới đây sẽ nói rõ) là chìa khoá của tăng
trưởng.

<h2>"Bẫy Malthus"</h2>

Một cách để hiểu Gregory Clark là đặt ông vào dòng lịch sử
khoa học kinh tế, sau vết chân của Adam Smith và Thomas Malthus.

Theo Adam Smith, những "<em>khích lệ</em>" (incentives) là yếu
tố quan trọng bật nhất quyết định năng suất của một nền
kinh tế. Con người có hăng hái lao động, sáng tạo, cần
kiệm, đầu tư không? Lao động ngành gì? Sáng tạo cái gì?
Đầu tư vào lãnh vực nào?... Tất cả đều tùy thuộc vào
cường độ và hình thức "<em>khích lệ</em>". "<em>Khích
lệ</em>" định huớng và thúc đẩy mọi hoạt động và, trong
một môi trường cạnh tranh toàn hảo, sẽ làm kinh tế phát
triển. Smith cho rằng những khích lệ ấy tùy thuộc "<em>chất
lượng</em>" của thể chế: thể chế tốt thì những khích
lệ ấy sẽ mạnh và đúng, còn thể chế tồi thì chúng sẽ
yếu ớt, hoặc lệch sai. Như vậy, muốn tăng trưởng thì phải
có một chính sách tạo ra những khích lệ thích hợp. Smith
nhấn mạnh sự quan trọng của một nền kinh tế cạnh tranh
toàn hảo, không độc quyền trong bất cứ thị trường nào,
bởi lẽ những khích lệ (cụ thể là "tinh thần kinh doanh")
cần thiết để phát trỉển chỉ có thể tồn tại trong một
môi trường như vậy.

Thomas Malthus thì nghĩ khác. Nhà kinh tế này nhìn "tăng
trưởng" qua lăng kính "tính sinh vật" của xã hội loài
người thay vì qua vai trò của những khích lệ. Theo Malthus, ở
từng thời điểm, mỗi xã hội đều có cái mà ông gọi là
"mức lương sinh tồn", tức là thu nhập vừa đủ để một
gia đình (trung bình) "tự tái tạo": có số con cái bằng số
người mà gia đình hiện có. "Mức lương sinh tồn" này mang
lại cho gia đình ấy số lượng calori, chất dinh dưỡng, áo
quần, chỗ ở... vừa đủ để sống. Tất nhiên, mức này tùy
vào văn hóa, thói lề, phong tục... của xã hội liên hệ.

Rồi, ví dụ như ở một thời điểm nào đó, thu nhập (bình
quân) lên cao hơn mức sinh tồn này (chẳng hạn như khi được
mùa, hoặc vì chiến tranh hay bệnh tật mà dân số đột ngột
giảm đi) thì tử suất sẽ tụt xuống, sinh suất sẽ tăng, và
dân số sẽ lên cao. Nhưng tình trạng này không thể kéo dài,
bởi lẽ, khi dân số tăng lên mà diện tích đất đai và số
lượng tài nguyên vẫn cố định, thì năng suất lao động sẽ
giảm, và thu nhập sẽ giảm theo. [4]

Tiến trình này tiếp tục đến khi mức thu nhập xuống trở
lại mức sinh tồn. So với lúc khởi điểm thì dân số sẽ cao
hơn, song mỗi người (trung bình) sẽ không khá gì hơn. Nếu sau
đó mà mùa màng trở lại bình thường, năng suất và thu nhập
sẽ tụt dưới mức sinh tồn thì tiến trình mô tả trên đây
lại đảo ngược: tử suất cao sẽ làm giảm dân số cho đến
khi năng suất và thu nhập trở lên mức sinh tồn, và rồi ổn
định... Cái vòng nghèo khổ lẩn quẩn như thế được gọi là
"bẫy Malthus"

Như thế, theo Malthus, mức sinh tồn là yếu tố duy nhất quyết
định mức sống vật chất của mỗi xã hội. Vì cái "định
luật sắt" này mà, tuy nơi nào trên thế giới cũng đều có
một số tiến bộ công nghệ lẻ tẻ trong suốt chiều dài
lịch sử trước Cách mạng Công nghệ, đời sống nhân loại
đã không khấm khá hơn bao nhiêu trong mấy ngàn năm ấy.

<h2>Thuyết của Clark</h2>

Đa số các nhà kinh tế hiện đại đều cho rằng Smith là
đúng, còn Malthus thì quá bi quan, thậm chí sai lầm. Gregory Clark
không nghĩ thế. Theo ông, Malthus là đúng hơn Smith. Clark giải
thích nguyên nhân cuộc Cách mạng Công nghệ vào thời điểm
ấy ở bên Anh như sau:

Những giai tầng xã hội khác nhau có những tỷ suất có con
(childbearing) và khả năng tồn tại (survival) khác nhau, và chính
sự khác nhau này đã làm thay đổi bản chất con người theo
hướng mà, cuối cùng, đưa nhân loại ra khỏi "bẫy Malthus".
Cụ thể, những gia đình có nhiều con là những gia đình khá
giả, còn những gia đình dần dần tuyệt tự là những gia
đình túng nghèo. Với thời gian, sự "<em>sống còn của những
người thích ứng nhất</em>" [5] lan toả trong quần chúng các
đức tính đã giúp những người giàu trở thành giàu có: tư
duy hợp lý, tính tiết kiệm, tinh thần siêng năng lao động...
Chính sự lan tỏa các đức tính này (mà Clark gọi là "văn
hoá") là đầu mối của cuộc Cách mạng Công nghiệp và
những diễn biến sau đó.

Không như đa số học giả, Clark cho rằng nước Anh đã "chín
muồi" cho sự phát triển công nghiệp sớm hơn mọi nước
chẳng phải vì quốc gia ấy may mắn có nhiều khoáng sản
(nhất là than) và những tài nguyên khác. Theo ông, nguyên do
chính của sự bùng phát công nghiệp ở Anh, và vào thời điểm
ấy, là vì khi ấy quốc gia này hội đủ những thành tố văn
hóa cốt yếu để có những tiến hóa xã hội và kinh tế. Đó
là: dân số tăng trưởng chậm nhưng khá đều đặn từ năm
1300 đến 1760, những định chế luật pháp, chính trị và kinh
tế thuận lợi cho phát triển thì đã có từ trước cuộc Cách
mạng Công nghệ. Khi đông đảo con cái những gia đình tương
đối khá giả đến tuổi trưởng thành và gia nhập xã hội –
đa số làm thợ nghề hay con buôn – thì "những giá trị của
giai cấp trung lưu" (tính cần cù, có giáo dục, v.v.) lan toả
khắp nước Anh. Trái lại, ở Trung Quốc và Ấn Độ, chẳng
hạn, những "giá trị" này lan toả rất chậm – và do đó
hai nước ấy cũng chậm phát triển.

Clark cho rằng yếu tố tạo hình nền kinh tế của một quốc
gia là văn hóa và sự tiến hóa xã hội (social evolution) của
quốc gia ấy như Malthus đã nói, chứ không phải thể chế như
Smith đã nghĩ. Theo Clark, các nhà kinh tế hiện đại đã lầm
khi gán cho Smith quan điểm rằng "<em>khích lệ tốt</em>" (good
incentives), <em>trong bất cứ một nền văn hóa nào</em>, đều
đưa đến những kết quả tốt. [6]

Theo Clark, ba sự kiện trong lịch sử loài người đã chứng tỏ
rõ ràng vai trò khống chế của văn hóa, không phải của khích
lệ. <em>Một là</em>, trong quá khứ, những nhà nước "tốt"
(tức là những nhà nước có những biện pháp hữu hiệu khích
lệ người dân của họ) cũng là những nhà nước có nền kinh
tế <em>trì trệ</em> (stagnation). <em>Hai là</em>, so với vài quốc
gia tiên tiến như Đức, Thụy Điển, thì đa số các nước
nghèo lại có hệ thống "khích lệ" cho hoạt động kinh tế
khả quan hơn nhiều, ngay trong thời kỳ tiền công nghiệp. <em>Ba
là</em>, nguyên nhân của cuộc Cách mạng Công nghiệp là những
thay đổi trong sở thích kinh tế (economic preferences) của người
Anh, không phải những thay đổi trong thể chế.

Clark đưa hai ví dụ cực đoan. Ví dụ thứ nhất: non một thế
kỷ (từ năm 1857 đến 1947), công nghiệp tơ sợi ở Bombay (Ấn
Độ) đã phát triển trong một môi trường hết sức tự do
(theo nghĩa ngày nay), hơn nữa, tổn phí sản xuất (lao động
lẫn vốn) ở vùng ấy hầu như là thấp nhất hoàn cầu. Thế
nhưng công nghiệp tơ sợi ở Bombay không cạnh tranh nổi với
Anh Quốc, dù lương ở Anh cao gấp 5 lần... Rõ ràng là chỉ
"khích lệ" thì không đủ để gây tăng trưởng.

Ví dụ thứ hai: Ở cực đoan khác, các nước Bắc Âu nổi
tiếng là thuế cao. Hoạt động kinh tế thì bị kềm chế khá
chặt chẽ bởi nhiều thứ luật lệ, quy định... Thế mà các
nước ấy lại rất phồn vinh, năng suất đầu người không
thua gì Mỹ, và tăng trưởng đều đặn. Trái lại, ở Anh vào
thời trung cổ thì cả lao động và vốn đều chịu thuế rất
thấp, thị trường cũng khá tự do và cạnh tranh. Thế mà kinh
tế của Anh lúc ấy lại hầu như không tăng trưởng chút
nào...

Tóm lại, cuộc Cách mạng Công nghiệp bộc phát trong một môi
trường mà những khích lệ căn bản của thể chế đã không
thay đổi qua nhiều thế kỷ (thậm chí có phần tệ hơn). Vậy
mà trong thời kỳ cách mạng ấy, phản ứng của con người
đối với những khích lệ đó ngày càng khả quan hơn và tinh
thần kinh doanh ngày càng mạnh mẽ... Từ nhận xét ấy, Clark
kết luận, mức độ giàu nghèo của một quốc gia không do sự
khác nhau ở các khích lệ (như Smith ám chỉ), song <em>ở cách
con người đáp ứng các khích lệ ấy</em>. Dù khích lệ có
thể là yếu ớt, song nếu người dân làm việc năng nổ, tích
lũy, có tinh thần canh tân, thì kinh tế sẽ phồn thịnh. Ngược
lại, dù khích lệ có là tốt, nhưng người dân biếng nhác, ít
tiết kiệm, và không chịu vứt bỏ những công nghệ lỗi
thời, thì nền kinh tế sẽ "thất bại".

Clark khẳng định rằng những yếu tố thường được giới
kinh tế nghĩ là cốt yếu cho cuộc Cách mạng Công nghiệp –
thị trường tự do và khích lệ – thật ra không quan trọng.
Theo ông, khi nhìn vào lịch sử thì những khích lệ tốt –
quyền tư hữu được bảo đảm, thuế thấp, nhà nước ổn
định ̶ thường chỉ làm kinh tế hoàn toàn trì trệ. Nếu xét
về khích lệ thì nước Anh năm 1300 còn dồi dào hơn cả nước
Anh năm 1800! Babylon Cổ Đại (hơn hai ngàn năm trước Tây lịch)
có hầu hết những khích lệ mà ngày nay được xem là cần
thiết để phát triển kinh tế. Thế nhưng hai xã hội ấy nào
có Cách mạng Công nghiệp? Một trường hợp nữa: Từ 1857
đến 1947, thực dân Anh dường như đã thiết lập cho Ấn Độ
những định chế kinh tế thuận lợi cho phát triển (như các
nhà kinh tế sùng bài thị trường vẫn định nghĩa), thế mà
kinh tế Án Độ lại thụt lùi về công nghiệp trong thời kỳ
này!

Clark chêm thêm: ngay một quốc gia cực kỳ nghèo khổ như Malawi
cũng có nhiều khích lệ hơn Thụy Điển là nơi mà thuế suất
(biên tế) đánh trên thu nhập lao động lên đến 50-60%, hưu
bổng rất sộp, thậm chí y tế, giáo dục còn được cung cấp
miễn phí!

Theo Clark, <em>tăng trưởng kinh tế hiện đại</em> không phải
là nhờ có những khích lệ tốt hơn, nhưng từ sự phát sinh
một "<em>nền văn hóa kinh tế mới</em>" trong những xã hội
như Anh Quốc và Tô Cách Lan. Để những xã hội nghèo có thể
tăng trưởng, chúng ta cần thay đổi văn hóa của họ, không
chỉ thay đổi thể chế (và những khích lệ hàm chứa trong
thể chế ấy). Một sự "thay đổi văn hoá" như thế chỉ
có thể thực hiện bằng cách giúp những người ở các xã
hội hậu tiến tiếp cận với các xã hội tiền tiến. Clark cho
rằng tăng trưởng kinh tế của nhân loại trong hai thế kỷ
vừa qua phần lớn là một "thành tựu văn hóa". Không xã
hội nào có thể phát triển mà không trải qua <em>biến thể
văn hóa</em> (cultural transformation).

Vì cho rằng "văn hoá", chứ không phải thể chế, là chìa
khoá của tăng trưởng, Clark khuyến nghị các tổ chức quốc
tế (như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế) không
nên cố gắng cải tổ "thể chế" các quốc gia chậm tiến,
bằng viện trợ chẳng hạn; những biện pháp ấy chỉ làm giàu
các quan chức tham nhũng ở các nước ấy mà thôi. [7] Tốt hơn,
theo Clark, là cho phép tự do di dân... cho họ cơ hội tiến thân
ở các nước tiền tiến.

<h2>Phê bình Clark</h2>

Khám phá chủ yếu của Clark là tầng lớp khá giả ở Anh Quốc
có nhiều con cái hơn, và từ khám phá này mà Clark "thêu
dệt" nên lý thuyết lược thuật trên đây. Tuy nhiên, xem kỹ
những dẫn chứng của ông thì đó chỉ là giai cấp quý tộc
ở Anh. Không có những con số tương tự về thương gia cũng
như nông gia giàu có ở Trung Quốc và Nhật Bản. Sự thật là
những người giàu có ở Trung Quốc thì có nạn đa thê... và do
đó, nếu giả thuyết của Clark là đúng thì tinh thần "kinh
doanh" và "năng động" phải là lan truyển rộng rãi ở
Trung Quốc cũng như ở thế giới Islam, và hạn chế ở thế
giới đạo Thiên Chúa (theo chế độ đơn thê), trái ngược
với giả thuyết của Clark!

Còn về Ấn Độ thời kỳ Raj (mà theo Clark thì có nhiều khích
lệ kinh tế, nhưng không phát triển được) thì sao? Đúng là
ông Raj có thiết lập một số thể chế kinh tế quan trọng,
tỷ như tự do thương mại (dù chỉ trong nội bộ đế quốc
Anh), và chấm dứt nạn sung công tư sản. Song những điều
kiện kinh tế khác thì vô cùng tồi tệ. Thực dân Anh không bao
giờ muốn phát triển kinh tế cho thuộc địa, chẳng hạn như
họ hoàn toàn không đầu tư vào giáo dục và cơ sở hạ tầng,
trừ khi để phục vụ những nhu cầu quân sự của Anh.

Clark không vững lắm khi chuyển từ phân tích lịch sử sang
"chẩn bệnh" hiện tại. [8] Ông không thấy sự khác biệt
giữa các quốc gia thật kém mở mang ngày nay và những nền kinh
tế trước Cách mạng Công nghiệp, và ông đưa ra một kết
luận "giật gân": những nước nghèo hiện nay có thể khấm
khá hơn nếu họ đã không có một tiếp xúc nào với những
quốc gia đã công nghiệp hóa! Cụ thể, vì kinh tế các nước
thật nghèo ấy là cực kỳ trì trệ, những gì làm tăng dân
số của họ (ví dụ như, oái oăm thay, sự du nhập y khoa tân
tiến) sẽ chỉ đưa đến hậu quả là hạ thấp mức sống
của các nước ấy mà thôi. Rõ ràng là Clark đã sai lầm ở
nhận định này. Như nhiều người phê phán Clark đã vạch ra:
khác với sự "tĩnh lặng" của những nước nghèo trước
Cách mạng Công nghiệp, không thể xem tình trạng kém phát
triển của các nước nghèo ngày nay là "tĩnh lặng" hoặc
"tự nhiên". Ngày nay, thế giới chung quanh những nước nghèo
khác xa thế giới trước Cách mạng Công nghiệp. Thế giới
hiện tại có "thị trường quốc tế" và nhân loại ngày nay
nắm trong tay những công nghệ tân kỳ, không thể so sánh với
ngày xưa. Nói khác đi, ngày nay mọi nước, dù nghèo, đều có
thể với tay nắm bắt những biện pháp có khả năng nâng cao
mức sống của họ.

Ngoài những phản biện nói trên thì luận thuyết của Gegory
Clark bị công kích nhiều nhất bởi những người theo
"trường phái thể chế" phần lớn là vì, bởi lý do nào
đó, Clark hay chỉ trích những luận cứ của trường phái này.
[9]

Nói cho chính xác, Clark đã mạnh mẽ công kích trường phái
thể chế của Robert Fogel và Douglass North. [10] Theo cách hiểu
của Clark thì trường phái này cho rằng phát triển kinh tế
cần ba yếu tố "thể chế", đó là: thị trường phải tự
do, quyền tư hữu được bảo đảm, và thuế phải thấp. Clark
cho rằng cái mà hiện nay được gọi là "Đồng thuận
Washington" là xây dựng trên ý kiến của trường phái này. Hai
phản biện đuợc nhiều tác giả nêu ra: thứ nhất, Clark đã
hiểu sai liên hệ giữa "Đồng thuận Washington" và trường
phái thể chế của Fogel và North; thứ hai, không như Clark nghĩ,
điều cần nhất để thúc đẩy phát triển là một <strong>thể
chế chính trị dân chủ</strong> để làm theo ý dân, và những
việc khác (như quyền tư hữu, v.v.) chỉ là hậu quả của thể
chể ấy.

James Robinson [11] phản biện cách khác: Cuộc Cách mạng Công
nghiệp ở Anh vào thế kỷ 18 không ăn nhập gì đến sự biến
đổi văn hóa. Sự thật là, cuộc cách mạng ấy là hậu quả
của những đấu tranh <em>chính trị</em> vào thế kỷ 17, cụ
thể là sau cuộc Cánh mạng Quang vinh (Glorious Revolution) năm 1688.
Cuộc Cách mạng (Quang vinh) này đánh dấu sự kết thúc chế
độ quân chủ ở Anh. Nó phát sinh một chính thể sẵn sàng và
có khả năng phục vụ lợi ích kinh tế của quốc gia và đem
vào thực tế những thành tố thể chế thiếu vắng trước
đó, như bảo đảm quyền tư hữu và phá hủy các độc quyền.

Nhưng khác biệt rõ ràng nhất là khi những người phái thể
chế và Clark "chẩn đoán" sự thành công kỳ diệu của Trung
Quốc. Đối với những người phái thể chế thì sự thành
công ấy chứng minh rằng khi nhà nước đầu tư vào giáo dục,
vào cơ sở hạ tầng thì quốc gia sẽ phát triển, chứ văn hóa
Trung Quốc thì có gì thay đổi trong mấy mươi năm nay đâu?
Nhưng Clark bảo lưu ý kiến của ông cũng mạnh mẽ không kém:
Trung Quốc cũng còn là không dân chủ, cũng còn là tham nhũng
tràn lan, vậy thì thể chế đó có thay đổi gì đâu?

© Thời Đại Mới

__________________________

[1] Gregory Clark, 2007, "A farewell to alms: A brief economic history of
the world", Princeton University Press, 420 trang, $29.95.

[2] Giáo sư, Đại học California ở Davis.

[3] Cụ thể, trong nhiều ngàn năm trước đó, dù không thiếu
những tiến bộ về canh nông, về chăn nuôi, vận chuyển...
mức sống của loài người cũng không cải thiện đuợc bao
nhiêu (theo Clark, một người trung bình vào năm 1800 cũng không
khá hơn một người trung bình một ngàn năm trước công
nguyên). Nhận xét này khiến Clark đặt câu hỏi: tại sao kinh
tế của loài người lại trì trệ lâu như thế?

[4] Đây là thể hiện của định luật "diminishing returns"
(giảm hồi thu) chủ chốt trong kinh tế học.

[5] Tiếng Anh: "Survival of the fittest"

[6] Có thể là Smith đã không nghĩ như vậy, hay nếu Smith nghĩ
như vậy thì chính Smith là sai.

[7] Về điểm này, Clark giống William Easterly. Xem, chẳng hạn:
William Easterly, 2007, The White Man's Burden: Why the West's Efforts to
Aid the Rest Have Done So Much Ill and So Little Good, NY: Oxford University
Press.

[8] Một cách phê bình Clark dễ nhất là như Solow: Thật là
"quái gỡ" khi Clark dùng mấy tiêu chuẩn hiện đại của IMF
để thẩm định những xã hội hàng thế kỷ, thậm chí thiên
niên kỷ trước... Xem Robert Solow, 2007, "Survival of the
Richest"?, New York Review of Books, 22 tháng 11, 2007.

[9] Xem Trần Hữu Dũng, 2010, "Căn nguyên của phát triển",
Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, số Tết Dương Lịch.

[10] Nên nhớ rằng có nhiều trường phái thể chế khác (như
của Thorstein Veblen, John Commons chẳng hạn).

[11] Người thường cộng tác với Daron Acemoglu, và đồng tác
giả với Acemoglu một cuốn sách (mà Thời Đại Mới sẽ giới
thiệu trong tương lai) về đề tài tương tự như của Clark. Xem
James Robinson, 2007, "What makes an Industrial Revolution"?, Wall Street
Journal, 8 tháng 11, 2007.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13230), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét