Thứ sáu, tháng bảy 20, 2012

Thư của tiến sĩ Trần Nhơn, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy Lợi, gửi chủ tịch nước Trương Tấn Sang

<div class="rightalign">Hà Nội ngày 8 tháng 7 năm 2012</div>

<h2><center>Kính gửi Anh Trương Tấn Sang</center></h2>

Thưa Anh,

Trong bức Tâm thư gửi đến Anh hôm nay, tôi xin trình bày 2
việc:

<strong>Một là, việc đã qua cần rút kinh nghiệm:</strong>

Quốc hội vừa thông qua Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi)
ngày 21 tháng 6 năm 2012 và đã trình lên Anh, cho dù Luật này
rất phiến diện, kém chất lượng, không kế thừa đầy đủ
Luật Tài Nguyên Nước (TNN) 1998. Điều này chắc Anh cũng đã
nắm rõ phần nào. Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhấn mạnh và phản
ảnh đến Anh để biết và khả dĩ tùy nghi xử lý. Chí ít là
có sự rút kinh nghiệm sâu sắc.

Chủ trương ban đầu của Chính phủ và Quốc hội là làm Luật
sửa đổi, nhưng Ban soạn thảo (chuyên môn, nghiệp vụ đều
yếu lại khá bảo thủ) đã viết lại mới hoàn toàn (phiến
diện, chất lượng kém như vừa nêu trên). Vậy nên bây giờ
đành phải lấy tiêu đề là Luật Tài nguyên nước, thực
chất là một luật mới: Luật Tài Nguyên Nước 2012, thay cho
Luật Tài nguyên nước 1998 (*).

<strong>Hai là, việc sắp tới "cần làm ngay":</strong>

Quản lý nhà nước về tài nguyên nước cần sớm thu về một
đầu mối.

Qua các cuộc hội thảo, tọa đàm (tôi được tham dự) đóng
góp ý kiến vào Dự Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi) lần
này, nổi lên một yêu cầu bức xúc:

Phải gắn việc sửa đổi Luật Tài Nguyên Nước lần này với
việc thu về một đầu mối cơ quan ngang Bộ quản lý nhà
nước về nước. Không thể để phân tán, chia cắt như hiện
nay. Tình trạng đó làm cho công tác quản lý nhà nước về Tài
nguyên nước xuống cấp rất nghiêm trọng, chưa bao giờ tệ
hại như bây giờ! Câu chuyện "chèo kéo, tranh chấp chức năng
quản lý lưu vực sông kéo dài hơn 6 năm trời (từ năm 2002
đến năm 2008) giữa Bộ TN-MT và Bộ NN&PTNT"; việc "đùn qua
đẩy lại, đá loanh quanh" của sự cố đập Sông Tranh và xả
lũ "đúng quy trình vận hành" nhưng lại gây ngập lụt,
cuốn trôi nhà cửa, ruộng vườn vùng hạ du các Thủy điện
Miền Trung... là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của tình
trạng quản lý bất cập đó.
Nhiều chuyên gia, cán bộ hoạt động thực tiễn tha thiết,
bức xúc: Không làm được việc thu về một đầu mối cơ quan
ngang Bộ quản lý nhà nước về nước vào dịp này thì không
biết sẽ có thể còn làm được vào lúc nào nữa!

Có 3 phương án khả thi sơ bộ được đề xuất (nêu trong
phần Phụ lục). Đề nghị Anh quan tâm tham khảo, giao nhiệm
vụ và trao đổi thêm với cơ quan hữu trách, giới chức hữu
quan để đề xuất với Bộ Chính trị; có ý kiến với Chính
phủ, sớm cứu vớt ngành thủy lợi thoát khỏi cảnh "xẻ
nghé tan đàn", đầu một nơi, mình mẩy tay chân một nẻo.
Làm được điều này, và sớm đưa vào cuộc sống những ý
tưởng, quan điểm đề xuất trong phần Phụ lục đính kèm
(đã được ghi nhận trong Quyết định Phê duyệt Chiến lược
quốc gia về Tài Nguyên Nước đến năm 2020 - QĐ 81/2006/QĐ-TTg),
là góp phần giảm thiểu một "bầy sâu" lớn đang hoành
hành trong xã hội ta hiện nay.

Thưa Anh,

Trong 2 việc trình bày với Anh trên đây thì việc thứ hai là
quan trọng và chủ yếu. Đó cũng là việc rất cấp bách (SOS!).

Nếu không có sự "xẻ nghé tan đàn", đầu một nơi, mình
mẩy tay chân một nẻo của ngành Nước (kéo dài trong 10 năm
qua) do cựu Bộ trưởng Lê Huy Ngọ không nghiêm túc thực hiện
Nghị quyết 02/2002/QH11, ngày 5/8/2002, trong việc bàn giao tổ
chức và lực lượng nhân sự tương thích cho Bộ TN-MT (do nhận
thức chưa đến nơi hay vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm?)
thì cũng đã không xảy ra sự việc đáng tiếc (đó là việc
đưa ra dự thảo văn bản Luật kém chất lượng vừa được
Quốc Hội thông qua do thiếu vắng nguồn nhân lực công chức am
hiểu sâu về quản lý ngành nước) như đã nêu ở điểm 1
của thư này.

Nhân đây cũng xin phản ảnh với Anh, ý kiến của một số
thức giả cho rằng: việc chọn lựa một trong 3 phương án (hay
thêm một vài phương án nữa để so sánh) và chỉ đạo kiên
quyết, rốt ráo để phương án được chọn sớm trở thành
hiện thực, cũng không đơn giản, dễ dàng trong tình hình hiện
nay. Bởi các nhóm lợi ích và các cá nhân có ảnh hưởng,
không ít người, thường khi nói thì rất "hùng biện" vì
cái này cái nọ và vì sự nghiệp chung, nhưng trên thực tế,
họ chỉ nhìn sự việc qua lăng kính lợi ích: thực hiện theo
phương án này hay phương án kia ta sẽ được gì và mất gì.
Họ cảm nhận vấn đề rất nhanh, và tìm mọi lý lẽ ngụy
biện để tham góp ý kiến với nhà nước theo hướng "ra sức
chiến đấu" cho lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm của mình.
Điều này Anh cũng biết quá rõ. Tôi chỉ xin nêu như vậy để
mong Anh dành thêm sự quan tâm thích đáng cho chủ đề "Quản
lý nhà nước về Tài Nguyên Nước cần sớm thu về một đầu
mối", là yêu cầu khách quan, cũng là nỗi niềm bức xúc của
các thế hệ cán bộ, chuyên gia ngành Nước. Tôi chỉ là
người chịu khó tìm hiểu, lắng nghe và "đứng mũi chịu
sào" phản ảnh tình hình đến nhà chức trách và các vị
lãnh đạo mà thôi.

Kính chúc sức khỏe và xin gửi đến Anh lời chào trân trọng.

Kính thư

<strong>Trần Nhơn </strong>

189 Chùa Bộc – Hà Nội

Mobil: 0989 889 686

E-mail: 3d@trannhon.com


__________________________________


<em>(*) Thông thường ở Quốc Hội ta, sau một số lần có các
"Luật sửa đổi và bổ sung một số Điều" của một
"Luật gốc" nào đó, rồi sau đó, khi thực sự có nhu cầu
chín muồi, mới soạn ra Luật mới thay cho "Luật gốc" cũ.
Ví dụ như đối với Luật Đất đai 1993 (89 Điều), đã có 2
Luật sửa đổi và bổ sung một số Điều của Luật Đất đai
1993 vào năm 1998 và năm 2001. Đến năm 2003 mới ra luật Đất
đai mới: Luật Đất đai 2003 (146 Điều).</em>

<h2><center>PHỤ LỤC</center></h2>

<strong><center>Nguyên Thứ trưởng Trần Nhơn "đòi" viết lại
Dự Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi)</center></strong>

<em><center>(Bài đã đăng trên các Báo, Tạp chí và <a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/Bai-Phong-Van-Cua-Sy-Luc-1084/">Trang
mạng</a>)</center></em>

<em>Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi) dự kiến được thông
qua vào cuối tháng 6 tới. Tuy nhiên, TS Trần Nhơn, nguyên thứ
trưởng Bộ Thuỷ lợi cho rằng dự luật này đã "quên"
điểm quan trọng là xem nước sau công trình (sản phẩm nước)
là hàng hoá, cần có lộ trình xóa bỏ bao cấp của nhà nước
trong lĩnh vực này. Ông Nhơn đã cùng các cộng sự viết riêng
một <a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/Du-luat-nuoc-sua-doi-Cong-Ty-TNHH-Toan-Cau-25-05-1082/">Dự
Luật khác</a> để trình Quốc hội.</em>

Gặp ông trong căn nhà riêng cạnh đại học Thuỷ lợi, vị
thứ trưởng về hưu hơn 10 năm nay, tóc gần như bạc trắng.
Ông lục tục soạn ra các luận án phó tiến sỹ, các tài liệu
hội thảo, sách nghiên cứu để chứng minh cho vấn đề mà ông
miệt mài, tâm huyết – "hàng hóa nước và thị trường
nước". Ông nói, "kinh tế nước, tài chính nước là vấn
đề đeo đuổi tôi suốt hơn hai thập niên qua. Ngày đêm tôi
vẫn trăn trở suy tư với đề tài này. Thấy chưa hài lòng,
thấy còn có sức đóng góp nên tôi gửi thư lên Quốc Hội,
viết <a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/Du-luat-nuoc-sua-doi-Cong-Ty-TNHH-Toan-Cau-25-05-1082/">dự
luật độc lập</a> với Luật Tài nguyên nước (sửa đổi)
đang được Quốc Hội thảo luận".

<h2>"Chiến đấu" cho "hàng hoá nước".</h2>

<em>Thưa ông, quan niệm sản phẩm nước là háng hoá; cần từng
bước xác lập thị trường cung ứng nước ở nước ta. Hàng
ngày người dân thành phố vẫn phải mua nước để dùng, nông
dân nộp phí để lấy nước cày ruộng. Vậy vì sao dường như
ông vẫn chưa đồng thuận với Luật Tài nguyên nước hiện
nay?</em>

- Ngành hàng nào "được hưởng" cơ chế bao cấp, "xin –
cho" thì ngành hàng đó còi cọc, lụn bại, lụi tàn vì nội
lực, nội năng không ngừng bị tiêu hao, hủy hoại; động lực
phát triển bị xói mòn, tổn hại, tiêu vong. Sản phẩm nào
được hàng hóa hóa, thị trường hóa thì phát triển đa dạng,
phong phú, cung thỏa mãn cầu. Đó là quy luật, đã được thực
tiễn đổi mới và hội nhập chứng minh. Sản phẩm nước
(nước sau công trình) còn chưa được coi là hàng hóa, thị
trường nước còn bị bỏ ngõ thì vấn nạn thiếu nước
sạch, công trình thủy lợi xuống cấp, không có nguồn tài
chính để xử lý nước thải, nước nhiểm bẩn là lẽ đương
nhiên.

Để có được mấy chữ đơn giản "nước là hàng hoá",
"thị trường nước" …được ghi trong Quyết định Phê
duyệt Chiến lược Quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020
(<a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/QUYET-DINH-Phe-duyet-Chien-luoc-quoc-gia-ve-tai-nguyen-nuoc-den-nam-2020-1076/">số
81/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 4 năm 2006</a>) là cả một tiến
trình dài, đầy khó khăn. Cách đây 14 năm, khi Quốc Hội khóa X
thảo luận về Luật Tài nguyên nước – 1998, Hội Thủy lợi
Việt Nam (lúc đó tôi là Chủ tịch Hội) tổ chức một cuộc
Hội thảo với gần 200 chuyên gia, nhà quản lý tham dự. Nhiều
nhà khoa học lúc đó nêu các quan điểm về kinh tế nước, tài
chính nước, "lấy nước nuôi nước và phát triển nước",
sản phẩm nước sau công trình là hàng hóa, giá sản phẩm
nước phải được tính đúng tính đủ, xóa bỏ cơ chế "xin
– cho", bảo đảm các doanh nghiệp nước bảo toàn và phát
triển vốn được nêu ra. Các ý kiến đó được tiếp thu một
phần trong Luật Tài nguyên nước 1998, sau đó được đưa
nhiều hơn vào Chiến lược Quốc gia về Tài Nguyên Nước đến
năm 2020.

Nhưng tiếc thay, hiện nay, Dự Luật Tài Nguyên Nước (sửa
đổi) sẽ thông qua tại kỳ họp Quốc Hội thứ 3 này chưa kế
thừa được các thành tựu đạt được trong 2 văn bản pháp
luật nói trên về vấn đề tài chính nước. Vì vậy, tôi và
các đồng nghiệp tiếp tục góp ý và nhấn mạnh quan điểm
này.

<em>Vậy "bất cập", "thiếu sót" ở đây là gì thưa
ông?</em>

- Trong dự thảo Luật lần này, cũng quy định thu các loại phí
của các cá nhân tổ chức khi khai thác, sử dụng nước. Tuy
nhiên, những cái đó chỉ là một phần rất nhỏ của thị
trường hàng hoá nước. Vấn đề ở đây là phải tạo ra một
thị trường nước thực sự chứ không chỉ là việc thu phí.
Trong dự thảo luật do chúng tôi xây dựng, chúng tôi đề
nghị: <em>"Phải coi sản phẩm nước là hàng hoá. Sớm xóa
bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện xã hội hóa các hoạt động
bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước.
Giá dịch vụ cung ứng nước được tính đúng, tính đủ, bảo
đảm cho các doanh nghiệp nước bảo toàn và phát triển vốn.
Từng bước hình thành thị trường cung ứng dịch vụ về
nước với sự tham gia của các thành phần kinh tế và thị
trường chuyển nhượng, trao đổi giấy phép về tài nguyên
nước"</em>. Câu này không còn là ý kiến đề xuất của cá
nhân tôi mà là trích từ Quyết định Phê duyệt Chiến lược
Quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020 (<a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/QUYET-DINH-Phe-duyet-Chien-luoc-quoc-gia-ve-tai-nguyen-nuoc-den-nam-2020-1076/">số
81/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 4 năm 2006</a>)

<em>Xã hội hoá việc xây dựng và quản lý khai thác công trình
thuỷ lợi, như vậy, có nghĩa là việc đầu tư xây dựng các
công trình thuỷ lợi sẽ có sự tham gia của các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế giống như hình thức đầu tư BOT
trong giao thông?</em>

- Đại loại là như vậy. Ngân sách nhà nước không thể đáp
ứng được tất cả các nhu cầu xây dựng các công trình đầu
tư công, trong đó có công trình thuỷ lợi. Mặt khác, điều
quan trọng hơn, việc Nhà nước bao cấp tràn lan, vô điều
kiện, trong đầu tư khai thác công trình thuỷ lợi (trừ thủy
điện) đang bộc lộ nhiều bất cập. Nổi rõ nhất là kém
hiệu quả, lãng phí nguồn lực, triệt tiêu động lực phát
triển. Khi các chủ đầu tư chỉ là "tớ đầu tư", không
phải bỏ tiền để đầu tư, quản lý khai thác công trình,
chỉ trông chờ, ỷ lại vào vốn ngân sách, thì làm sao họ có
thể "của đau con xót" để xây dựng, quản lý khai thác
công trình có hiệu quả được! Việc "xin – cho" dự án
tạo kẽ hở dẫn đến hệ lụy lãng phí, tham nhũng nghiêm
trọng.

<em>Như vậy là ông không đồng thuận với việc miễn giảm
một phần thuỷ lợi phí cho nông dân hiện nay?</em>

- Việc giảm thuỷ lợi phí cho nông dân như hiện nay chỉ là
bước quá độ. Về lâu dài, nước cho sản xuất nông nghiệp
cũng như các ngành công nghiệp, dịch vụ cần phải vận hành
theo cơ chế thị trường (có chính sách hỗ trợ tài chính minh
bạch và thích hợp đối với một số loại hộ dùng nước).
Có như vậy mới phát huy được nội lực và động lực phát
triển của doanh nghiệp nước cũng như người sử dụng dịch
vụ cung ứng nước: Doanh nghiệp nước được bảo toàn và
phát triển vốn trong khi hộ dùng nước sử dụng nước tiết
kiêm, có hiệu quả.

Nhà nước sẽ dành số vốn tiết kiệm được do không phải
bao cấp tràn lan (rất kém hiệu quả) cho dịch vụ cung ứng
nước (và có thể nhân đôi, nhân ba lên!) để đầu tư (minh
bạch) cho điện, đường, trường, trạm ở nông thôn, kể cả
có thể để chi dùng vào việc trực tiếp mua thóc nông dân
với giá khuyến khích (gấp rưỡi, gấp đôi...so với cơ chế
chính sách hiện hành).

Việc gì phải tách bạch ra việc ấy. Trong dân gian có câu:
"Đánh nhau chia gạo, chào nhau ăn cơm". Nhập nhèm "xin –
cho" chỉ tạo môi trường "đục nước béo cò". Đối
tượng mà Nhà nước cần quan tâm hỗ trợ chẳng thụ hưởng
được bao nhiêu từ cơ chế "xin - cho" lỗi thời, lạc hậu.

Thực tế, nguyên nhân chính làm cho đời sống nông dân khó
khăn như hiện nay, hoàn toàn không phải là do thanh toán dịch
vụ tưới tiêu theo giá được tính đúng, tính đủ để tạo
điều kiện cho doanh nghiệp tưới tiêu bảo toàn và phát triển
vốn. Mọi người đều biết, nếu không có dịch vụ tưới
tiêu bảo đảm (chỉ trông chờ nước trời), bình quân mỗi
hecta lúa nước chỉ có thể thu hoạch không quá 1,3 tấn
thóc/ha/năm. Ở những cánh đồng cao khô hạn hay vùng trũng
"chiêm khê mùa thối", tình hình còn tồi tệ hơn (0,8 – 1,0
tấn/ha/năm). Nhờ có công trình thủy nông đảm bảo tưới
tiêu (có yếu tố "nhất nước") thì các yếu tố "nhì
phân, tam cần, tứ giống" mới có thể phát huy hết cỡ để
người trồng lúa khả dĩ thu hoạch dược 10 tấn, 12
tấn.../ha/năm. Trước ngày thống nhất đât nước (30/4/1975),
ở miền Nam có dịch vụ bơm nước tưới lúa bằng máy bơm
nhỏ rất phổ biến với cơ chế dịch vụ 1/3 (cuối vụ,
người làm dịch vụ bơm nước được chia 1/3 số thóc thu
hoạch trên mảnh ruộng mà anh ta đã phụ trách bơm nước chu
toàn suốt cả vụ từ khi cấy trồng cho đến ngày thu hoạch).
Tức là thị trường đã xác định: giá trị của yếu tố
"nhất nước" bằng 1/3 tổng sản lượng thóc được sản
xuất ra; 2/3 tổng sản lượng thuộc về 3 yếu tố còn lại
"nhì phân, tam cần, tứ giống". So với giá dịch vụ tưới
đã được thị trường xác định như vừa nêu trên (cơ chế
1/3) thì giá dịch vụ tưới tính đúng tính đủ để bảo
đảm doanh nghiệp nước bảo toàn và phát triển vốn (theo tính
toán của chúng tôi) chỉ bằng khoảng 50% mà thôi! Nếu Nhà
nước lại có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nước được
hưởng chế dộ vay vốn ngân hàng theo cơ chế ưu đãi đặc
biệt, công khai, minh bạch thì giá dịch vụ tính đúng tính
đủ bảo đảm doanh nghiệp nước bảo toàn và phát triển vốn
sẽ còn thấp hơn nữa. Chẳng hạn như ở Công ty Thủy nông
Provence, vùng hạ du sông Rhône, nước Pháp: Một thời, công ty
này được chấp nhận vay vốn ngân hàng để làm thủy nông
phục vụ sản xuất nông nghiệp chỉ phải hoàn trả một phần
vốn vay (< 50%) trong thời hạn 15 năm. Phần chênh lệch còn lại
được Nhà nước hỗ trợ cấp bù (<em>nguồn: Thu hoạch sau
chuyến khảo sát, nghiên cứu nước Cộng hòa Pháp của lãnh
đạo Viện Khảo sát Thiết kế Thủy lợi – 1985</em>).

Quyết định của UBND tỉnh An Giang số 244/QĐ.UB, ngày 12 tháng
12 năm 1991, quy định về hiệp thương khai thác và sử dụng
đường nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, là một minh
chứng sống động cho việc từng bước hình thành thị trường
nước, trong đó hàng hóa nước được nhìn nhận đúng vai trò,
vị trí của mình. Giá dịch vụ thủy nông được tính đúng,
tính đủ, bảo đảm cho người khai thác đường nước (vừa
là chủ máy bơm) thực hiện bảo toàn và phát triển vốn, và
người sử dụng nước chỉ phải trả chi phí thấp nhất mà
đem lại hiệu quả cao nhất.

Quyết định 244/QĐ.UB (đúc kết từ thực tiễn dịch vụ thủy
nông ở An Giang) cũng là minh chứng hùng hồn cho tính khả thi
của việc thực hiện phương châm "lấy thủy lợi nuôi thủy
lợi và phát triển thủy lợi". Ngành kinh tế nước không từ
chối sự tài trợ của Nhà nước, nhưng chính sách tài trợ
phải như thế nào để không làm thui chột nội lực, động
lực phát triển mà là để không ngừng phát huy, nhân rộng
nội lực và động lực ấy. Đó mới là điều quan trọng, là
mục tiêu của mọi chính sách khuyến nông nói riêng, và chính
sách kinh tê – xã hội nói chung.

Sở dĩ đời sống người nông dân hiện nay còn nhiếu khó
khăn, chủ yếu là do nhiều nguyên nhân quan trọng, như thiếu
đất sản xuất (bình quân diện tích canh tác trên đầu người
quá thấp), thiếu vốn, thiếu công nghệ, tay nghề thấp, ngành
nghề chưa phát triển, thiếu công ăn việc làm, thời gian nông
nhàn quá lớn, hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn lạc
hậu, yếu kém... Đó là những nội dung mà chương trình Nông
thôn mới đang triển khai thực hiện. Không giải quyết đồng
bộ và căn cơ để khắc phục những nguyên nhân chủ yếu nói
trên thì dù Nhà nước có bao cấp 100% cho cả ba yếu tố "nhì
phân, tam cần, tứ giống", đời sống nông dân cũng không
thể khá lên được nếu không muốn nói là sẽ ngày càng khó
khăn hơn do mọi nội lực và động lực phát triển sẽ bị
làm triệt tiêu hoàn toàn.

<h2>Sự khác nhau trong cách tiếp cận vấn đề sửa Luật</h2>

<em>Ông có thể cho biết, sự khác nhau trong cách tiếp cận sửa
luật của ông và đồng nghiệp với Bộ Tài nguyên và Môi
trường?</em>

- Chúng tôi quan niệm: đã gọi là Luật Tài nguyên nước (sửa
đổi) thì phải lấy Luật Tài nguyên nước 1998 làm cơ sở,
như cách của các nhà làm luật chuyên nghiệp đã làm đối
với <a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/LUAT-DAT-DAI-1993-1071/">Luật
Đất đai 1993</a>, hay đang làm đối với Luật Quản lý thuế
2006. Trong tình hình hiện nay thì cũng chỉ nên làm Luật Tài
nguyên nước (sửa đổi) như đã chủ trương, chưa có nhu cầu
phải làm Luật Tài Nguyên Nước mới.

Do vậy, Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi), về nội dung, phải
kế thừa toàn diện Luật Tài nguyên nước 1998: không bỏ sót,
chia cắt các đối tượng điều chỉnh đã được đưa vào khá
toàn diện trong Luật Tài Nguyên Nước 1998. Về hình thức,
phải giữ nguyên, không làm phá vỡ cấu trúc của Luật Tài
Nguyên Nước 1998.

<a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/Du-luat-tai-nguyen-nuoc-sua-doi-cap-nhat-Bo-TNMT-1081/">
Bộ Tài Nguyên - Môi Trường thì viết lại mới hoàn toàn</a>
(như thế sao gọi là sửa đổi?). Các tác giả của Bộ TN-MT
thêm vào một chương II (Điều tra cơ bản, Chiến lược, Quy
hoạch Tài nguyên nước) chủ yếu là để mô tả rất dài dòng
(15 Điều, Điều nào cũng dài dằng dặc) những việc thuộc
về chuyên môn, nghiệp vụ mà các cơ quan quản lý nước của
Bộ TN-MT đang làm.(có một số nội dung, quy định cụ thể còn
ở tình trạng đang tranh cãi cũng đưa vào Luật), mà cốt lõi
của nó cũng đã đề cập ngắn gọn trong Luật TNN 1998 rồi.
Chúng ta có thể loại bỏ Chương này (để không làm phá vỡ
cấu trúc của Luật Tài nguyên nước 1998, vốn đã hợp lý) và
xử lý bằng cách sửa đổi và bổ sung một số Điều trong
chương VII của Luật Tài nguyên nước 1998 (Chương nói về
Quản lý nhà nước về Tài nguyên nước), như cách chúng tôi
đề nghị sửa chữa bổ sung đối với Điều 59 và Điều 60,
vẫn cô đọng được những nội dung cần nhấn mạnh theo ý
nguyện của Bộ TN-MT. Vấn đề là ở chỗ, phải đưa vào
luật những quy định, chế tài cô đọng làm rõ quyền và
trách nhiệm của các đối tượng được điều chỉnh, chứ
không phải mô tả dài dòng nội dung công việc đang làm (văn
phong ít mang tính luật) để làm mất cân đối cấu trúc chung
của luật. Những nội dung đó có thể đưa vào các văn bản
dưới luật.

Trong khi đó, ban soạn thảo đã "bỏ sót" một Chương rất
quan trong là Chương Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
(Chương V trong Luật Tài nguyên nước 1998). Điều 3 (Giải thích
từ ngữ), mục 17 của <a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/LUAT-TAI-NGUYEN-NUOC-1998-1075/">Luật
Tài nguyên nước 1998</a> đã nêu rất rõ: "Công trình thuỷ
lợi" là công trình khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống
tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh
thái". Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi) mà không điều
chỉnh đối tượng quan trọng này (như trong luật Tài Nguyên
Nước 1998) thì còn gì gọi là Luật Tài Nguyên Nước nữa?

Về quản lý đê điều và phòng chống lụt bão (một công tác
trung tâm hết sức quan trọng trong lĩnh vực Tài nguyên nước),
trong các dự thảo của Bộ TN-MT, từ version 6 – 2011 (Chương V:
Phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ lụt và các tác hại
khác do nước gây ra) đến version 6/4/2012, tuy viết lại và
giảm 3 Điều (từ 11 Điều còn 8 Điều) so với Luật Tài
nguyên nước 1998 nhưng về cơ bản, vẫn kế thừa và bám theo
<a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/LUAT-TAI-NGUYEN-NUOC-1998-1075/">Luật
Tài nguyên nước 1998</a> . Tuy nhiên, đến version cập nhật mới
nhất, đã rút xuống còn 6 Điều (từ Điều 57 đến Điều 62)
làm cho nội dung quản lý đê điều và phòng chống lụt bão
bị mờ nhạt đi rất nhiều! Đó là bước thụt lùi đáng
tiếc, cần phải sửa chữa, khắc phục.

<h2>Quản lý nhà nước về tài nguyên nước cần thu về một
mối</h2>

Ông Trần Nhơn cho rằng, phải gắn việc sửa đổi Luật Tài
nguyên nước lần này với việc thu về một đầu mối cơ quan
ngang Bộ quản lý nhà nước về nước. Không thể để phân
tán, chia cắt như hiện nay. Không làm được việc thu về một
đầu mối cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về nước vào
dịp này thì không biết sẽ có thể còn làm được vào lúc
nào nữa!

Việc quản lý nhà nước về nước trên thực tế được giao
cho cả Bộ NN&PTNT và Bộ TN-MT, như hiện nay, làm cho công tác
quản lý nhà nước về Tài nguyên nước bị phân tán, chia
cắt, xuống cấp rất nghiêm trọng.

Có thể đưa ra hình ảnh để mô tả tình trạng chia cắt rất
thảm hại của ngành khoa học kỹ thuật Tài Nguyên Nước như
sau: Toàn thân ngành khoa học kỹ thuật Tài nguyên nước bị
cắt cái đầu (nhưng cái đầu gần như là rỗng) ném sang Bộ
TN-MT từ năm 2002, còn mình mẩy tay chân và cái đầu thực
chất, cái đầu trí tuệ thì mười năm nay, vẫn nằm ở Bộ
NN&PTNT (đang bị trì trệ, không phát triển được).

<em>Xin ông nói rõ thêm, vì sao ông lại đưa ra hình ảnh ví von
kỳ lạ như vậy? </em>

- Hiện nay, cơ quan quản lý tổng hợp về Tài nguyên nước là
Bộ TN&MT (theo chức năng được phân công từ năm 2002) thiếu
nghiêm trọng hệ thống các cơ quan và lực lượng hỗ trợ kỹ
thuật đồng bộ để điều hành công việc, thực thi nhiệm
vụ. Trong khi đó, cơ quan quản lý chuyên ngành nước cho nông
nghiệp – Bộ NN&PTNT lại ôm giữ quà nhiều nguồn lực này
(Bộ NN&PTNT đã thừa hưởng lực lượng cán bộ khoa học kỹ
thuật thủy lợi rất hùng hậu, được đào tạo, rèn luyện
và trưởng thành suốt nửa thế kỷ của Bộ Thủy lợi cũ đã
sáp nhập vào bộ NN&PTNT từ năm 1995). Đây là hậu quả của
việc Bộ Nông nghiệp & PTNT, từ thời Bộ trưởng Lê Huy Ngọ,
đã không thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 02/2002/QH11, ngày
5/8/2002 của Quốc Hội khóa 11.

<em>Xin ông cho biết cụ thể hơn.</em>

- Tại Điều II, Nghị quyết 02/2002/QH11 nêu rõ: "Những chức
năng, nhiệm vụ, quyền han của một số bộ, cơ quan ngang bộ
đã được quy định tại các luật, pháp lệnh hiện hành,
nhưng nay do có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức theo Nghị
quyết này, thì được chuyển giao cho các bộ, cơ quan ngang bộ
tương ứng kể từ ngày các cơ quan này được sắp xếp
lại".

Tuy nhiên, Bộ trưởng Lê Huy Ngọ chỉ bàn giao cho Bộ
trưởng Mai Ái Trực (Bộ trưởng TN&MT thời đó) 13 cán bộ,
trong đó, có 1 Phó Cục trưởng và một càn bộ cấp trưởng
phòng, phụ trách lĩnh vực nước ngầm. Toàn bộ các cơ quan
hỗ trợ khoa học kỹ thuật cùng với lực lượng cán bộ
quản lý dày dạn kinh nghiệm và đội ngũ chuyên gia khoa học
kỹ thuật hùng hậu (Trường Đại học Thủy lợi, các Viện
Quy hoach, Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi, các Công ty Tư vấn
Xây dựng thủy lợi...) vẫn nằm nguyên vẹn ở Bộ NN&PTNT như
cũ.

Về hồ sơ tài liệu thì 13 cán bộ ra đi chỉ mang theo một ít
tài liệu về nước dưới đất (nước ngầm). Tài liệu nước
mặt (phần phong phú, đa dạng nhất và quan trọng nhất) và
toàn bộ hồ sơ quy hoạch thủy lợi (đồ sộ, tích lũy trong
nhiều thập niên) vẫn giữ lại ở Bộ NN&PTNT.

<em>Vậy ông có đề xuất ý kiến gì về việc tập trung về
một đầu mối đối với công tác quản lý nhà nước về Tài
Nguyên Nước?</em>

- Tôi đã trao đổi ý kiến với nhiều anh em đương nhiệm và
các vị lão thành (ở trung uơng và cả các địa phương), thấy
sơ bộ có 3 phương án tập trung về một đầu mối được nêu
ra như sau:

Phương án I: Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết
02/2002/QH11, ngày 5/8/2002 của QH khóa 11.

Mười năm qua, với vốn cán bộ quá ít ỏi ban đầu và tài
liệu điều tra cơ bản quá nghèo nàn như vậy, mặc dầu Bộ
TN-MT đã có rất nhiều cố gắng xây dựng lực lượng để
thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, tình
hình vẫn rất bất cập như đã nêu. Một minh chứng hết sức
rõ nét là Bộ TN-MT được giao chức năng quản lý lưu vực
sông vào năm 2008 tại Nghị định số 120/2008/NĐ-CP (sau thời
gian 6 năm "chèo kéo" qua lại giữa Bộ NN&PTNT và Bộ TN-MT),
nhưng từ dó đến nay Bộ TN-MT chẳng triển khai được công
việc gì do thiếu nghiêm trọng nguồn lực nhân sự.

Để khắc phục tồn tại này, đề nghị Quốc hội và Thủ
tướng Chính phủ ra văn bản và cử cán bộ lãnh đạo cấp cao
chỉ đạo Bộ NN&PTNT chuyển giao cho Bộ TN-MT các đơn vị và
lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật sau đây:

1/ Chuyển toàn bộ cơ quan Tổng cuc Thủy lợi (thành lập
ngày 15/3/2010 với biên chế hiện nay hơn 500 người, gồm có 2
Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Bắc và Miền Nam, Cục Quản lý
Đê điều & Phòng chống lụt bão, một Trung tâm Tư vấn và bộ
máy hành chính của cơ quan Tổng cục). Như vậy chức năng
quản lý đê điều và phồng chống lụt bão (từ trước tháng
9/1995 do Bộ Thủy lợi quản lý, nay giao cho Bộ TN&MT quản lý
theo đúng tinh thần NQ 02/2002/QH11. Giao Bộ trưởng Bộ TN-MT
kiêm nhiệm chức Trưởng ban Phòng chống lụt bão TW, như
trước đây Bộ trưởng Thủy lợi Nguyễn Cảnh Dinh từng kiêm
nhiệm.

Bộ TN-MT hiện nay đang quản lý công tác điều tra cơ bản, dư
báo về Khí tượng - Thủy văn, nên thống nhất công việc Dự
báo với Chỉ đạo Phòng chống lụt bão là điều hợp lý.
Trên thế giới, công tác quản lý Tài nguyên nước cũng luôn
gắn với Phòng chống lũ lụt, quản lý Lưu vực sông và bảo
vệ dòng chảy tối thiểu của sông.

2/ Chuyển giao Ban Quản lý Trung ương Dự án Thủy lợi (CPO) cho
Bộ TN-MT quản lý (cơ quan này trước đây thuộc Bộ Thủy lợi
cũ).

3/ Chuyển giao toàn bộ Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam cho
Bộ TN-MT quản lý. Bộ NN&PTNT có thể giữ lại một lực
lượng có liên quan đến nghiên cứu khoa học Tưới tiêu và
kinh tế Thủy nông để sáp nhập vào Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam.

4/ Chuyển giao Trường Đại học Thủy lợi cho Bộ TN-MT quản
lý.

5/ Chuyển giao chức năng quản lý nhà nước từ Bộ NN&PTNT sang
Bộ TN-MT đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh sau đây: 2
Công ty Tư vấn Xây dựng Thủy lợi (phía Bắc và phía Nam)
Tổng công ty Cơ điện Xây dựng Nông nghiệp và Thuỷ lợi,
Tổng công ty XDTL4; Công ty XDTL47, Công ty XDTL40, và một số đơn
vị sản xuất kinh doanh có liên quan khác.

Nói tóm lại, những cơ quan đơn vị nào trước đây thuộc
quyền quản lý trực tiếp hoăc quản lý nhà nước của Bộ
Thủy lợi cũ thì nay, về cơ bản, hay phần lớn, phải được
chuyển sang chịu sự quản lý (dù trực tiếp hay gián tiếp)
của Bộ TN-MT.

Đề nghị các công việc chuyển giao nói trên, có việc cần
được tiến hành khẩn trương, có việc có thể triển khai từ
từ, nhưng nên hoàn thành dứt điểm trong năm 2012 để thực
hiện đúng đắn và nghiêm túc tinh thần Nghị quyết 02/2002/QH11
của Quốc hội Khóa XI, mà đến nay là khóa XIII, 10 năm đã
trôi qua, chúng ta vẫn còn đang mắc nợ,

Phương án II: Chuyển giao chức năng quản lý nhà nước về
Tài nguyên nước tổng hợp trở lại cho Bộ NN&PTNT, như tại
nhiệm kỳ QH khóa X (sau khi sáp nhập Bộ Thủy lợi vào Bộ
NN&PTNT, 1996 - 2001). Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cũng đã có lần đề
nghị phương án này.

Đây cũng là phương án cần được đem ra cân nhắc, so sánh
với phương án I, nếu xét thấy phương án I có nhiều điểm
không khả thi.

Phương án III: Thành lập Bộ mới có tên là Bộ Thủy lợi
và Biến đổi Khí Hậu như đề nghị của các anh Nguyễn Cảnh
Dinh, Vũ Mão, được sự ủng hộ của nhiều vị lãnh đạo
cấp cao (đương nhiệm và dã nghỉ hưu).

Chúng ta cũng có thể đưa thêm các phương án khác để so sánh,
lựa chọn, nhưng phải đạt yêu cầu là thu về một đầu mối
cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về nước. Không thể để
kéo dài tình trạng phân tán, chia cắt như hiện nay.

<h2>Đề nghị thông qua Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi) tại
kỳ họp thứ Tư, Quốc Hội khóa XIII.</h2>

<em>Xin ông cho biết ý kiến của ông về vấn đề nên để lùi
lại 6 tháng việc thông qua Dự Luật Tài Nguyên Nước (sửa
đổi). </em>

- Với những lý do được phân tích như trên, để gắn việc
sửa đổi Luật Tài Nguyên Nước lần này với việc thu về
một đầu mối cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về nước,
việc thông qua Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi) nên để lùi
lại 6 tháng để Bộ Chính trị và Chính phủ có thời gian bàn
thảo, chuẩn bị cho một phương án tổ chức thu về một mối
thích hợp, đồng bộ, khả thi, và cũng để cho Dự Luật có
thêm thời gian tham góp được nhiều ý kiến khách quan đạt lý
thấu tình.

<em>Nếu Quốc hội vẫn thực hiện đúng theo kế hoạch là sẽ
thông qua Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi) trong kỳ họp thứ
3 này, và vẫn theo phiên bản đề nghị của Bộ TN-MT thì ông
có ý kiến đóng góp gì?</em>

- Trong trường hợp đó tôi đề nghị:

1/ Đưa thêm Chương Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
(Chương V trong <a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/LUAT-TAI-NGUYEN-NUOC-1998-1075/">Luật
Tài nguyên nước 1998</a> vào Dự Luật (sửa đổi) mới. Lý do
tôi đã nói ở trên: Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) mà
không điều chỉnh đối tượng quan trọng này (như trong luật
Tài nguyên nước 1998) thì còn gì gọi là Luật Tài Nguyên
Nước nữa? Nửa thế kỷ qua, chúng ta đã xây dựng "gần
xong" quy hoạch thủy lợi các loại, nhưng quản lý kinh tế
kỹ thuật các hệ thống thủy lợi hiện hành thì rất tồi.
Giai đoạn từ nay trở đi là giai đoạn phải tập trung và tăng
cường công tác quản lý khai thác các công trình thủy lợi
(thủy nông , thủy điện, nước sạch, giao thông thủy, nước
cho các ngành công nghiệp, dịch vụ...). Quản lý khai thác các
công trình thủy lợi không an toàn, kém hiệu quả như hiện nay
thì làm sao tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo
đảm phát triển bền vững được? Từ nay trở đi, công trình
lớn có còn xây dựng mới bao nhiêu nữa đâu mà Dự Luật
(sửa đổi) cứ "tập trung" vào "cấp phép" với "thu
phí"?

2/ Đề nghị giữ nguyên tinh thần và "tô đậm" thêm Chương
"Phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ lụt và các tác hại
khác do nước gây ra" (trong <a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/LUAT-TAI-NGUYEN-NUOC-1998-1075/">Luật
Tài nguyên nước 1998</a> ) đưa vào Dự Luật Tài Nguyên Nước
(sửa đổi) mới. Không phải vì hiện nay Bộ TN-MT không thực
thi chức năng này mà làm mờ nhạt nó đi trong dự Luật Tài
Nguyên Nước (sửa đổi). Luật Phòng chống Thiên tai hay các
Luật khác có liên quan, nếu có, thì cũng không vì thế mà làm
nhẹ tầm quan trọng của Chương này trong Luật Tài Nguyên
Nước (sửa đổi).

3/ Không nên đưa tên cụ thể của Bộ này hay Bộ kia vào
Luật. Theo tôi, đó là kiến thức sơ đẳng mà mỗi chuyên gia
soạn thảo Luật đều phải biết. Ví dụ, trong <a
href="http://trannhon.com/home/vi/news/Chuyen-Muc-Tai-Nguyen-Nuoc/LUAT-TAI-NGUYEN-NUOC-CUA-NUOC-CONG-NHAN-DAN-TRUNG-HOA-1072/">Luật
Nước của Trung Quốc</a> (1988, 53 Điều), chỉ dùng cụm từ
"cơ quan quản lý Tài nguyên nước của Chính phủ", không có
chỗ nào nhắc đến tên "Bộ Thủy lơi" là cơ quan cụ thể
được phân công đảm nhiệm chức năng này.

Nếu, tối thiểu, không khắc phục các tồn tại (khuyết
điểm) nêu trên (đặc biệt là các khuyết điểm 1 và 2) thì
Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi) nếu được thông qua, chỉ
là một Luật "nửa vời, phiến diên", sẽ bị lịch sử phê
phán!

<strong>Sỹ Lực thực hiện</strong>








***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13470), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét