Nguyễn Huy Vũ - Giáo dục: Lối thoát cho nền kinh tế Việt Nam

<div class="boxleft320"><img
src="http://tiasang.com.vn/DesktopModules/VietTotal.Articles/ImageHandlerLarge.ashx?width=250&height=174&HomeDirectory=%2fPortals%2f0%2fVietTotal.Articles%2fGiaoduc%2f&fileName=giao+duc+cuu+canh.jpg&portalid=0&i=5266&q=1"
/><div class="textholder">Nếu không đầu tư đúng hướng để phát
triển nguồn nhân lực, kinh tế Việt Nam sẽ có nguy cơ rơi vào
bẫy thu nhập trung bình</div></div>
Có nhiều dự đoán cho thấy nền kinh tế hiện nay đã tăng
trưởng gần đến mức bão hòa khi dựa vào những nguồn lực
sẵn có về công nghệ, nguồn nhân lực rẻ và tài nguyên. Nếu
không có một chính sách đầu tư về nguồn nhân lực, có
nhiều khả năng Việt Nam sẽ chỉ loay hoay với mô hình kinh tế
kiểu cũ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Kinh tế Việt Nam đang đứng trước những khó khăn rất lớn,
đó là nợ xấu ngân hàng, các doanh nghiệp tư nhân phá sản
tăng, doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, sức mua
nội địa giảm, thất nghiệp tăng nhanh… Đối với chính
phủ, vấn đề quan tâm nhất hiện nay là các vấn đề về kinh
tế: làm sao để vực dậy một nền kinh tế tăng trưởng ốm
yếu.

Tin tức cho biết số doanh nghiệp khai báo phá sản hoặc ngừng
hoạt động là hơn 70 ngàn chỉ trong vòng 5 tháng đầu năm nay,
nhiều phân tích "lạc quan" cho rằng đây cuối cùng cũng
chỉ là sự "phá hủy sáng tạo" (creative destruction) nhằm
tạo ra một thế hệ các công ty có năng lực vượt trội. Nếu
nhìn kỹ vào thực trạng của nền kinh tế, đó là một sự
lạc quan không căn cứ. Sự phá hủy sáng tạo thường đi kèm
với nó là những tiến bộ về công nghệ và tiến triển về
năng suất lao động. Điều này không hề thấy trong nền kinh
tế Việt Nam hiện nay, ít nhất là trong ngắn hạn. Có ‎ý
kiến cho rằng sau cuộc khủng hoảng này, các doanh nghiệp sống
sót sẽ cải tổ để hoạt động hiệu quả hơn. Điều này
đúng chủ yếu với các doanh nghiệp nhà nước chịu bao cấp,
sau cuộc khủng hoảng này sẽ phải được cải tổ và áp
đặt một cơ chế hoạt động và giám sát mới. Tuy vậy, nếu
những chính sách kinh tế của chính phủ như hiện nay có thể
giúp phục hồi nền kinh tế, Việt Nam cũng chỉ quay lại với
những cơ cấu kinh tế kiểu cũ. Có nhiều dự đoán cho thấy
nền kinh tế hiện nay đã tăng trưởng gần đến mức bão hòa
khi dựa vào những nguồn lực sẵn có về công nghệ, nguồn
nhân lực rẻ và tài nguyên. Nếu không có một chính sách đầu
tư về nguồn nhân lực, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ chỉ
loay hoay với mô hình kinh tế kiểu cũ và rơi vào bẫy thu nhập
trung bình.

Câu hỏi đặt ra là bắt đầu những cải cách về chính sách
đầu tư nguồn nhân lực như thế nào. Đây là một câu hỏi
liên quan đến giáo dục và cơ chế. Dưới đây là một vài
điểm chính mà chính sách giáo dục có thể thực hiện ngay
nhằm vực dậy nền khoa học và giáo dục.

<h2>1. Tăng mức lương cơ bản cho giảng viên đại học</h2>

Chất lượng giảng viên đại học hiện nay rất kém. Với một
mức lương cơ bản dưới 5 triệu đồng hàng tháng, so với
thời giá hiện đại, một giảng viên khó mà sống nổi với
nghề nếu họ không "chạy sô" đi dạy thêm trường khác.
Tuy vậy, không phải giảng viên nào cũng kiếm được sô để
dạy thêm. Vào cơ hữu ở đại học lúc này giống như có một
chân ở đại học và người giảng viên dùng cái uy tín để
đi kiếm tiền thêm nơi khác. Động lực để nghiên cứu và
cải thiện đóng góp chương trình dạy và học không có. Ngoại
trừ những giảng viên thâm niêm có vị trí cao nhận được
những lớp dạy với mức thù lao hậu hĩnh, mức thu nhập cho
giảng viên mới vào quá thấp.

Khi mức lương cơ bản trả cho một thạc sỹ để làm giảng
viên ở trường đại học chưa tới 5 triệu đồng / tháng, khó
có thể giữ chân những giảng viên ưu tú khi mức lương ở
ngoài thị trường hấp dẫn hơn nhiều. Kết quả là chỉ còn
những giảng viên ở lại với mục đích kiếm một suất học
bổng đi du học, hoặc kiếm thêm sô đi dạy, hoặc cảm thấy
ít có khả năng cạnh tranh ở ngoài và muốn an phận. Những
sinh viên ưu tú không muốn dấn thân vào con đường khoa học
và giảng dạy.

Tuy vậy, không phải là trường không có tiền để trả lương
giảng viên, mà thực chất là có những khoản tiền bị
"thất thoát". Lấy ví dụ, mức lương thỉnh giảng mà một
giảng viên được nhận cho một lớp đại học công lập là
khoảng 120 ngàn đồng / tiết. Mức lương trung bình theo tiết
trả cho giảng viên cơ hữu còn rẻ hơn nhiều nữa. Một lớp
khoảng 100 sinh viên, vị chi một sinh viên trả 1,2 ngàn đồng /
tiết. Một môn học trung bình khoảng 50 tiết, mỗi sinh viên
trả khoảng 60 ngàn đồng tiền giảng cho một môn học. Nếu
một năm học gồm hai học kì có tổng cộng 15 môn, số tiền
phải trả cho giảng viên thỉnh giảng là 900 ngàn đồng/ sinh
viên. Nếu giả sử các chi phí về điện, nước, hành chính
liên quan bằng số tiền trả cho giảng viên thỉnh giảng thì
tổng mức chi phí cho một sinh viên trong 1 năm học chưa tới 2
triệu đồng/sinh viên. Với mức học phí mỗi học kì trung
bình 5 triệu đồng như hiện nay, nhà trường có thể "bỏ
túi" ít nhất khoảng 8 triệu đồng/sinh viên/năm học. Trên
đây là con số với giả sử trả cho giảng viên thỉnh giảng
và ở trường công với mức học phí ưu đãi, nếu các
trường chỉ bao gồm giảng viên cơ hữu, mức chi trả lương
cho giảng viên có thể thấp đi tới một nữa, hoặc ở các
trường dân lập, mức học phí tăng cao hơn, và do đó lợi
nhuận từ học phí cao hơn con số 8 triệu đồng / sinh viên /
năm nhiều. Với một ngôi trường có khoảng 10 nghìn sinh viên,
mỗi năm trường thu nhập ít nhất 80 tỉ trước thuế, chưa
kể các khoản đóng góp, hợp tác, hỗ trợ khác. Chính vì lợi
nhuận khổng lồ đó, hàng loạt trường đại học đã được
mở ra chỉ trong một khoản thời gian ngắn.

Việc quy định mức lương cơ bản cho các giảng viên trẻ, ít
nhất là bằng mức lương mà họ có thể kiếm được ở
ngoài, là cần thiết. Việc tăng mức lương cơ bản còn giúp
tôn vinh vị trí giảng viên và tạo động lực thu hút những
sinh viên ưu tú tham gia vào hoạt động giáo dục.

Bên cạnh đó, các mức thưởng nên căn cứ vào thành tích
nghiên cứu khoa học của các giảng viên nhằm khích lệ tinh
thần nghiên cứu khoa học cũng như cung cấp thêm thu nhập cho
giảng viên.

<h2>2. Rà soát và cải tạo các chương trình đào tạo tiến
sỹ</h2>

Các chương trình đào tạo tiến sỹ nhằm đào tạo ra đội
ngũ nghiên cứu khoa học cho đất nước, thay vì cấp các tấm
bằng giúp cho việc thăng tiến trong hành chính sự nghiệp. Trong
một thời gian dài, việc buông lỏng quản lý các chương trình
này đã tạo ra những thế hệ tiến sỹ trình độ kém, không
có khả năng nghiên cứu khoa học. Những vị này sau khi nhận
bằng lại quay ra nắm giữ những vị trí lãnh đạo trọng
trách trong giáo dục, đào tạo và nhiều lĩnh vực khác đã
khiến nền giáo dục và khoa học ngày càng đi xuống.

Việc rà soát lại các chương trình đào tạo tiến sỹ của
các trường đại học nhằm đảm bảo chỉ có những chương
trình đào tạo có chất lượng mới được thực hiện.

Trước mắt nên đặt mục tiêu các nghiên cứu sinh tiến sỹ
của Việt Nam khi bảo vệ luận văn phải có trình độ tương
đương với các nước trong khu vực. Để làm được điều
này, Bộ Giáo dục nên có quy định hội đồng bảo vệ luận
văn tiến sỹ có ít nhất một giám khảo đến từ một
trường đại học có uy tín nước ngoài.

Thực hiện quy định này rất khó khăn trong điều kiện hiện
nay, nhưng không phải là không thể. Thay vì mỗi trường có
một chương trình đào tạo tiến sỹ riêng, Bộ Giáo dục nên
đứng ra hỗ trợ các trường trong một khu vực hợp tác tổ
chức một trung tâm chung đào tạo các chương trình sau đại
học, một kiểu graduate school ở các nước phương Tây. Các
giáo sư là các giảng viên ưu tú từ các trường này. Các trung
tâm này được cấp kinh phí nghiên cứu và khuyến khích sự
hợp tác với các giáo sư người Việt ở nước ngoài trong
việc hỗ trợ và hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Bộ Giáo dục nên ra một quy định là miễn phí chương trình
học nghiên cứu sinh và chỉ những nghiên cứu sinh bằng cách
này hay cách khác nhận được nguồn tài chính để theo học
các chương trình tiến sỹ mới được nhập học. Nên có một
quỹ học bổng đài thọ cho các nghiên cứu sinh ưu tú chi phí
sinh hoạt bên cạnh quy định miễn học phí.

<h2>3. Lọc chất lượng giảng viên</h2>

Tăng mức lương cơ bản chỉ giúp tạo một động lực hấp
dẫn những sinh viên ưu tú quan tâm và dấn thân vào khoa học
và giáo dục. Nó là điều kiện cần để ngành giáo dục và
đào tạo có thể phát triển.

Ở Việt Nam, các trường đại học, chủ yếu là công lập,
còn đối diện với một thực tế là họ đã đủ chỉ tiêu
giảng viên, không thể tuyển thêm giảng viên trẻ, nhưng lực
lượng giảng viên hiện có đa số rất thụ động không muốn
dấn thân nghiên cứu hay cải thiện việc giảng dạy. Việc
tăng lương do đó không thể giải quyết được vấn đề cải
thiện chất lượng giáo dục trong trường hợp này. Một giải
pháp khác là lọc giảng viên thông qua chất lượng nghiên cứu
khoa học. Bộ Giáo dục nên ra quy định là các giảng viên cơ
hữu muốn duy trì vị trí phải có ít nhất ba bài báo trên các
tạp chí quốc tế hoặc đã bảo vệ luận văn tiến sỹ ở
một trường có uy tín ở nước ngoài. Việc đưa ra một quy
định như vậy nên có một lộ trình để thực hiện, thời
gian hợp lý khoảng 5 năm kể từ ngày đưa ra quy định. 5 năm
cũng là một khoảng thời gian đủ để một nghiên cứu sinh
hoàn thành luận án tiến sỹ.
Sau 5 năm, nếu những giảng viên cơ hữu hiện thời không hoàn
thành quy định sẽ bị cắt hợp đồng.

Trong những trường hợp các vị trí giảng viên tại các
trường đại học công lập có được là do sự đút lót thay
vì trình độ và khả năng nghiên cứu khoa học, việc đưa ra
một quy định lọc chất lượng giảng viên như vậy cũng sẽ
tự động giúp loại bỏ đi những giảng viên yếu kém.

<h2>4. Sửa lại chính sách cấp học bổng đào tạo tiến
sỹ</h2>

Các chương trình như 322, 911 chủ yếu cấp học bổng cho cán
bộ, giảng viên của các trường đại học nhằm hoàn thiện
chương trình tiến sỹ ở nước ngoài và về nước công tác.

Mục tiêu rất tốt đẹp, tuy nhiên các chương trình này thực
sự không hiệu quả.

Như đã phân tích ở trên, với chế độ đãi ngộ quá thấp
như hiện nay, lực lượng giảng viên trẻ cơ hữu còn giữ
lại ở các trường đại học không phải là lớp sinh viên ưu
tú nhất, nếu không nói là chỉ hạng khá. Lớp sinh viên ưu tú
nhất không kham chịu nổi các khó khăn về tài chính đã ra
ngoài làm cho các công ty.

Chính sách cấp học bổng ưu đãi cho cán bộ công nhân viên
trong trường hợp này giống như là phần thưởng cho những
đóng góp với mức lương rẻ mạt của họ cho nền giáo dục.
Những cán bộ, giảng viên này sau khi cố gắng học xong các
chương trình tiến sỹ bắt buộc quay về nước phục vụ trở
lại cho giáo dục. Với năng lực chỉ ở hạng khá, các nghiên
cứu khoa học của họ nếu có cũng chỉ ở mức bình bình.
Thêm nữa, việc phải chấp nhận một mức lương thấp đồng
nghĩa với việc họ không có động lực đóng góp vào giáo
dục và nghiên cứu khoa học. Nếu có tham gia vào giáo dục, họ
cũng sẽ cố gắng kiếm một vị trí tốt về mặt hành chính
để từ đó có thể thông qua các dự án hay dạy thêm để
kiếm thêm thu nhập. Ở đây, tấm bằng tiến sỹ chỉ còn có
mục đích thăng tiến vị trí hành chính thay vì nó là khởi
đầu của một sự nghiệp khoa học.

Chính sách cấp học bổng của Bộ Giáo dục do đó cần sửa
lại theo hướng khuyến khích động cơ của người học và
đóng góp vào sự nghiệp giáo dục. Trước tiên, chính sách
cấp học bổng nên mở và xét chung cho cả các đối tượng
đang làm việc ở các khu vực ngoài giáo dục với điều kiện
các đối tượng này sau khi nhận học bổng sẽ phải làm việc
cho một tổ chức giáo dục hay khoa học của Việt Nam trong một
thời gian như trong hợp đồng. Làm như vậy sẽ thu hút được
lớp sinh viên ưu tú nhất vốn đã ra ngoài làm việc.

Quá trình xét cấp học bổng nên được thực hiện một cách
công bằng dựa vào trình độ học vấn và khả năng theo đuổi
chương trình tiến sỹ. Tuy nhiên, nếu cả hai thí sinh đều như
nhau, lẽ dĩ nhiên nên ưu tiên các cán bộ giảng viên trẻ có
kinh nghiệm nghiên cứu giảng dạy và đóng góp vào sự nghiệp
giáo dục.

Khi các nghiên cứu sinh đã hoàn tất quá trình học và quay về
nước, trường đại học nên cung cấp một cơ chế ưu đãi
về lương bổng và chế độ làm việc. Mức đãi ngộ này ít
nhất phải tương đương với mức thu nhập mà họ có thể
kiếm được bên ngoài.

Có như vậy ngành giáo dục mới có thể thu hút được những
sinh viên ưu tú nhất của quốc gia sẵn lòng nghiên cứu khoa
học và nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp khoa học và giáo
dục cho đất nước.

Bộ Giáo dục nên dành hẳn một phần trên trang web của mình
liệt kê các loại học bổng, chỉ tiêu hàng năm, cách thức
nộp đơn, điều kiện. Nên cho phép nộp đơn online trực tiếp
và công khai người nhận học bổng và người nộp đơn trên
mạng. Điều này cũng giúp giảm đi những tiêu cực trong quá
trình xét duyệt.

<h2>5. Sắp xếp lại ban quản trị trường đại học</h2>

Cơ chế tự chủ trường đại học đã được bàn nhiều. Các
mô hình cũng có rất nhiều. Tuy vậy, nhìn chung ban quản trị
các trường đại học bao gồm một ủy ban với một người
đứng đầu được tuyển chọn bởi chính một ủy ban từ
trường đại học hoặc một ủy ban giáo dục bên ngoài
thường là từ Bộ Giáo dục. Ban quản trị của trường đại
học chịu trách nhiệm bổ nhiệm nhân sự, giáo sư, quản trị
tài chính, được quyền tự thiết kế chương trình học và
định hướng của ngôi trường.

Trong trường hợp của Việt Nam, một ủy ban bổ nhiệm ban
quản trị của một trường đại học nên do Bộ Giáo dục
chủ trì. Cơ chế tự chủ với một ban quản trị có viễn
kiến sẽ giúp cho trường đại học nhanh chóng chuyển đổi
phương thức dạy, học và nghiên cứu của mình.

<h2>6. Đào tạo kỹ năng học suốt đời</h2>

Một trong những kỹ năng để tồn tại và phát triển đối
với bất kì một chuyên gia nào trong thời đại hiện nay là
khả năng tự học suốt đời.

Tự biết mình là các nước nhỏ (về dân số, Đan Mạch: 5,5
triệu, Na Uy: 5 triệu , Thụy Điển: 9,4 triệu, Phần Lan: 5,4
triệu) và dùng ngôn ngữ đặc trưng, khả năng tồn tại và
phát triển do đó chủ yếu dựa vào ngoại thương với các
nước khác và nền tri thức cũng phải phụ thuộc vào các
nước lớn hơn, các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Na Uy, Thụy
Điển, Phần Lan) đã đưa "kỹ năng học suốt đời" thành
một chính sách giáo dục của mình.

Chính sách này nhấn mạnh việc đào tạo những sinh viên có
khả năng tự học, tự nắm bắt những kiến thức, kỹ thuật
mới. Một mục tiêu ban đầu quan trọng là trang bị cho sinh
viên khả năng ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh, nhằm nắm
bắt trực tiếp kiến thức khoa học thế giới. Ngày nay, rất
dễ dàng bắt gặp một sinh viên nói tiếng Anh lưu loát như
người bản địa ở các nước Bắc Âu hơn tại bất cứ quốc
gia nào không dùng tiếng Anh. Ngoài việc trang bị khả năng Anh
ngữ cho giáo viên, cải thiện chương trình học, các chương
trình tivi bằng tiếng Anh cũng giúp cho sinh viên làm quen với
tiếng Anh từ rất sớm. Từ bậc cao học trở lên, các chương
trình chủ yếu bằng tiếng Anh.

May mắn là gần đây các chương trình truyền hình cáp của
Việt Nam bắt đầu có nhiều chương trình bằng tiếng Anh giúp
thế hệ trẻ quen dần với ngôn ngữ quốc tế này. Tuy vậy,
có nhiều điều cần làm để thực hiện chính sách "đào
tạo kỹ năng học suốt đời" cho học sinh, sinh viên.

Một việc có thể thực hiện được là bắt buộc các chương
trình từ cao học trở lên thực hiện tại các trung tâm đào
tạo sau đại học phải được trực tiếp giảng dạy và
nghiên cứu bằng tiếng Anh.

Bên cạnh đó, nâng cấp các chương trình đào tạo Anh ngữ
tại các trường đại học và bắt buộc sinh viên dùng các
giáo trình tham khảo bằng Anh ngữ khi thực hiện giảng dạy và
nghiên cứu.

Các chương trình học hiện nay dành cho bậc đại học là quá
dài: trung bình 4 năm cho khối ngành kinh tế và 4.5 - 5 năm cho
khối ngành kỹ thuật. Nên rút lại còn 3 năm cho khối ngành
kinh tế và 4 năm cho khối ngành kỹ thuật, bên cạnh đó kèm
thêm các chương trình tiếng Anh thực tế hơn.

"Kỹ năng học suốt đời" nên được trang bị cho trẻ từ
khi mới chào đời. Ở Phần Lan, khi mang thai, bố mẹ được
tặng 3 cuốn sách. Một cho bố, một cho mẹ và một cho đứa
trẻ mới chào đời. Sách cho bố và mẹ hướng dẫn cách chăm
sóc con. Sách cho trẻ kích thích và giúp trẻ làm quen với việc
đọc sách ngay từ bé. Khả năng đọc sách, tìm tòi nghiên cứu
được làm quen từ bé giúp trẻ sớm phát triển khả năng sáng
tạo và tự học khi lớn lên.

Bộ Giáo dục cũng nên có chính sách định hướng và khuyến
khích việc đọc sách của trẻ em, cũng như khuyến khích việc
xây dựng thêm các thư viện trung tâm ở các huyện, xã.

<center>* * *</center>

Cải cách giáo dục là một quá trình lâu dài với rất nhiều
lĩnh vực đòi hỏi phải cải tổ. Trên đây chỉ là vài ý, và
danh sách trên chắc chắn không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề
cần phải bàn thêm về giáo dục tiểu học, trung học,...
Những ý kiến trên mục tiêu chỉ nhắm chủ yếu đến đào
tạo bậc đại học và sau đại học, vì đây là giai đoạn
quan trọng đào tạo những kĩ năng cần thiết cho các chuyên gia
đầu ngành, giảng viên của các trường đại học. Đây là
lực lượng có tác động rất lớn đến sự thay đổi của
giáo dục và hình thành nên bộ mặt khoa học công nghệ của
một quốc gia. Sự thay đổi về chất và lượng của lực
lượng này sẽ ảnh hưởng sâu sắc lên cách thực hiện chính
sách giáo dục. Có thể nói cách thay đổi như vậy là cách thay
đổi từ trên xuống.

Sự phát triển của một quốc gia phải được nâng đỡ bởi
chính nội lực của nó. Nội lực ở đây là trình độ giáo
dục, khoa học và công nghệ. Không có một quốc gia phát triển
nào mà không có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến.
Cũng như, không có một quốc gia nào có một hệ thống giáo
dục khoa học tiên tiến mà không phát triển.

Những cố gắng cải thiện chính sách kinh tế trong ngắn hạn
nên được đi kèm với những hỗ trợ và cải cách về giáo
dục mạnh mẽ hơn. Có như vậy nền kinh tế mới có những
bước nhảy vọt lên một ví trí cao hơn.

Lẽ dĩ nhiên, khi thực hiện những cải cách như trên sẽ gặp
phải rất nhiều chống đối từ những người đang hưởng
lợi từ việc duy trì tình trạng hiện có của hệ thống. Đó
là những giảng viên không muốn nỗ lực nghiên cứu khoa học,
những nhà quản trị đại học trình độ kém, và những cá
nhân hưởng lợi khác. Việc thực hiện những cải cách như
vậy do đó phải phát xuất từ một quyết tâm chính trị. Ở
đây, vai trò của các chính trị gia quyết định.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13444), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét