Lịch sử sơ lược về Quyền Con Người

<h2>Định nghĩa về Quyền Con Người</h2>

Chúng ta hãy bắt đầu bằng những định nghĩa đơn giản về
Quyền Con Người

<strong>Con người</strong> (danh từ)

<em>Một thành viên thuộc loài Hômo sapiens, tiếng La-tinh nghĩa
là "người thông thái" hay "người thông minh"; một
người đàn ông, đàn bà hay trẻ em; một con người.</em>

<strong>Quyền</strong> (danh từ)

<em>Những thứ mà pháp luật hoặc xã hội công nhận bạn
được hưởng, được làm hoặc được đòi hỏi; sự tự do
được đảm bảo.</em>

<strong>Quyền Con Người</strong> (danh từ)

<em>Các quyền mà bạn được hưởng vì lý do đơn giản rằng
bạn là một con người.</em>

[video:http://www.youtube.com/watch?v=oh3BbLk5UIQ]

Nếu bạn ra hỏi những người bất kỳ gặp ở ngoài phố,
rằng "<a href="http://www.youtube.com/watch?v=oh3BbLk5UIQ">Quyền Con
Người là gì?</a>", bạn sẽ nhận được rất nhiều câu trả
lời khác nhau. Họ sẽ nói với bạn một số quyền mà họ
biết, nhưng ít ai biết hết các quyền mà họ phải được
hưởng.

Như đã nêu ở định nghĩa trên, quyền là một loại tự do.
Nó là một cái gì đó mà bạn được hưởng bởi bạn là một
con người.

Quyền Con Người dựa vào nguyên tắc tôn trọng cá nhân. Giả
định nền tảng của nó là mỗi cá nhân là một thực thể có
phẩm hạnh và lý trí đáng để được đối xử với sự tôn
trọng. Các quyền này được gọi là Quyền Con Người bởi vì
chúng có giá trị phổ quát. Trong khi các quốc gia hoặc nhóm
người nhất định có thể được hưởng một số quyền đặc
biệt dành cho họ, thì quyền con người là quyền mà mọi
người đều được hưởng – không phân biệt họ là ai và
họ sống ở đâu – mà chỉ đơn giản là vì họ là những con
người còn sống.

Ấy thế mà rất nhiều người, khi được hỏi quyền con
người là gì, chỉ đề cập đến quyền tự do ngôn luận hay
tự do tín ngưỡng, hoặc vài ba quyền khác. Đây là những
quyền con người quan trọng, không thể nghi ngờ điều đó,
nhưng quyền con người rộng hơn thế. Quyền con người liên
quan đến lựa chọn và cơ hội. Quyền con người có nghĩa là
con người có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn
bạn đời, lựa chọn cách nuôi dậy con cái v.v... Chúng bao gồm
quyền được đi lại tự do và quyền được làm giàu cho bản
thân mà không bị ai quấy nhiễu, lạm dụng hay đe dọa đuổi
việc một cách tùy tiện. Chúng thậm chí còn bao gồm cả
quyền được nghỉ ngơi.

Trong quá khứ, không có khái niệm quyền con người. Thế rồi
ý tưởng nổi lên rằng con người phải có một số quyền tự
do nhất định. Và ý tưởng đó, vào thời điểm Thế chiến
lần thứ hai nổ ra, đã dẫn tới một văn bản gọi là
"Tuyên Ngôn Quốc Tế về Quyền Con Người" và trong đó đề
cập đến 30 quyền mà tất cả mọi người trên thế giới
đều phải được hưởng.

<h2>Lịch sử sơ lược của Quyền Con Người</h2>

<h3>Trụ cổ văn của vua Cyrus Ba Tư (539 năm trước Công
Nguyên)</h3>

Năm 539 trước Công Nguyên, đội quân của Cyrus Đại Đế, vị
vua đầu tiên của quốc gia Ba Tư cổ đại, chiếm thành phố
Babylon. Nhưng hành động kế tiếp của ông đã đánh dấu một
bước tiến vĩ đại của loài người. Ông trả tự do cho các
nô lệ, tuyên bố rằng tất cả mọi người đều có quyền
tự do lựa chọn tôn giáo của riêng mình, và xác lập bình
đẳng về chủng tộc. Những tuyên bố này được chạm khắc
lại trên một trụ gốm bằng ngôn ngữ Akkadian.

Ngày hôm nay văn bản này được biết đến với cái tên Trụ
Cyrus (Cyrus Cylinder), một tài liệu cổ được ghi nhận là hiến
chương về nhân quyền đầu tiên của thế giới. Nó được
dịch ra theo 6 thứ tiếng chính thức của Liên Hợp Quốc và
các điều khoản của nó tương đương với bốn điều khoản
đầu tiên của Tuyên Ngôn Quốc Tế về Quyền Con Người.

<center><img src="/files/u1/sub1/cyrus_cylinder_0_0.jpg" width="560"
height="288" alt="cyrus_cylinder_0_0.jpg" /></center>

<center><em>Trụ Cyrus với những dòng chữ chạm khắc tuyên ngôn
nhân quyền đầu tiên được loài người biết
tới.</em></center>

<h3>Sự lan tỏa của Quyền Con Người</h3>

Sau Babylon, ý tưởng về Quyền Con Người nhanh chóng lan tỏa
sang Ấn Độ, Hy Lạp và cuối cùng tới La-mã. Ở đây khái
niệm "luật tự nhiên" (natural law) trỗi dậy, [cách đặt
tên này] dựa theo quan sát thực tế rằng con người có xu
hướng tuân theo những luật bất thành văn trong cuộc sống, và
luật La-mã thường dựa trên những ý tưởng duy lý xuất phát
từ bản chất tự nhiên của sự vật.

Những văn bản xác nhận quyền cá nhân, như Hiến chương Magna
Carta (1215), Thỉnh nguyện Đòi Quyền (Petition of Right, 1628),
Hiến pháp Hoa Kỳ (1787), Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền
Pháp (1789) và Tuyên ngôn Nhân Quyền Hoa Kỳ (1791) là những
tiền thân của nhiều văn bản về quyền con người ngày hôm
nay.

<h3>Hiến chương Magna Carta (1215)</h3>

Hiến chương Magna Carta, hay còn gọi là Đại Hiến Chương,
được coi là có ảnh hưởng quan trọng và sớm nhất tới
tiến trình lịch sử lâu dài đã dẫn đến sự cai trị bằng
hệ thống luật hiến pháp ngày nay ở các nước nói tiếng Anh.

Năm 1212, sau khi vua John vi phạm một số luật và tập quán lâu
đời ở Anh, các thần dân đã ép ông ký bản Hiến Chương
Magna Carta, trong đó liệt kê một số điểm mà sau này được
nhìn nhận như là các quyền con người. Trong số đó là quyền
của nhà thờ được tự do không phải chịu ảnh hưởng của
nhà nước, quyền cho tất cả các công dân được sở hữu và
thừa kế tài sản và được bảo vệ khỏi thuế khóa hà khắc
quá đáng. Nó thiết lập quyền cho các quả phụ có tài sản
không phải tái giá, và đặt ra quyền được xét xử theo đúng
trình tự pháp luật (<em>due process of law</em>) và bình đẳng
trước pháp luật. Nó cũng chứa đựng những điều khoản ngăn
cấm hối lộ và cấm quan chức hành xử bậy bạ.

Được nhiều người nhìn nhận như là văn bản pháp lý quan
trọng nhất trong tiến trình phát triển của nền dân chủ
hiện đại, hiến chương Magna Carta là bước ngoặt lịch sử
trong cuộc tranh đấu xây dựng nền tự do.

<center><img src="/files/u1/sub1/magna-carta.jpg" width="560" height="601"
alt="magna-carta.jpg" /></center>
<center><em>Hiến chương Magna Carta, hay còn gọi là Đại Hiến
Chương</em></center>

<h3>Thỉnh nguyện Đòi Quyền (Petition of Rights, 1628)</h3>

Cột mốc lịch sử kế tiếp trong quá trình phát triển của
quyền con người là bản Thỉnh nguyện Đòi Quyền (Petition of
Right), được Quốc hội Anh đưa ra vào năm 1628 và gửi tới vua
Charles I như một đòi hỏi về tự do dân sự. Bị Quốc hội
từ chối cấp kinh phí cho chính sách ngoại giao không được
lòng dân của mình, nhà vua đã bắt buộc thần dân phải cho vay
và cho quân đội đồn trú tại gia như một biện pháp giải
quyết vấn đề thiếu kinh phí. Nhiều người phản đối chính
sách trên đã bị bắt bớ và giam giữ một cách tùy tiện,
điều này làm cho Quốc hội tỏ thái độ thù địch với vua
Charles và George Villier, công tước của Buckingham. Bản Thỉnh
nguyện Đòi Quyền, do hiệp sĩ Edward Coke khởi xướng, đã dựa
trên những đạo luật và hiến chương tồn tại từ trước,
để lập ra bốn nguyên tắc: (1) Không được áp dụng bất kể
hình thức thuế nào mà không có sự đồng thuận của Quốc
Hội, (2) Không thần dân nào có thể bị bỏ tù mà không chỉ
ra lý do, tái khẳng định quyền được xét xử theo trình tự
pháp luật (<em>habeas corpus</em>), (3) Quân đội không được phép
đồn trú tại nhà dân, và (4) Không được sử dụng lệnh
giới nghiêm trong thời bình.

<center><img src="/files/u1/sub1/petoright.jpg" width="560" height="386"
alt="petoright.jpg" /></center>
<center><em>Thỉnh nguyện Đòi Quyền, 1628</em></center>

<h3>Tuyên ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ (1776)</h3>

Vào ngày mùng 4 tháng 7 năm 1776, Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn
bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Tác giả chính của tuyên ngôn, Thomas
Jeffeson, đã viết bản Tuyên ngôn này như một lời giải thích
chính thức cho việc Quốc Hội đã bỏ phiếu tuyên bố độc
lập khỏi Anh Quốc vào ngày 2/7/1776 - hơn một năm ngày Cách
Mạng Mỹ nổ ra, và như là một lời tuyên bố rằng mười ba
thuộc địa ở Bắc Mỹ không còn là một phần của Anh Quốc.
Quốc Hội Hoa Kỳ phát hành bản Tuyên Ngôn Độc Lập này
dưới nhiều hình thức. Ban đầu nó được ấn hành trên báo
khổ lớn được phát tán rộng rãi và đọc trước công chúng.

Về mặt triết học, bản Tuyên ngôn nhấn mạnh hai chủ đề:
quyền của mỗi cá nhân và quyền được làm cách mạng [nếu
chính phủ đi ngược lại nguyện vọng của đa số nhân dân].
Những tư tưởng này trở thành tư tưởng chung của nhiều
người Mỹ, và lan rộng ra quốc tế, gây ảnh hưởng lớn
nhất là tới cuộc Cách mạng Pháp.

<h3>Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ (1787) và Tuyên ngôn Nhân Quyền Hoa
Kỳ (Bill of Rights, 1791)</h3>

Được viết vào mùa hè năm 1787 tại Philadelphia, bản Hiến
Pháp của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là bộ luật đóng vai trò
nền tảng cho hệ thống chính quyền liên bang Hoa Kỳ và là
một cột mộc quan trọng đối với thế giới phương Tây. Nó
là bản hiến pháp quốc gia cổ nhất vẫn còn được sử dụng
và quy định cấu trúc của chính quyền và hệ thống tư pháp
và đề ra các quyền căn bản của công dân.

Mười tu chánh án đầu tiên của bản Hiến Pháp – gọi chung
là Tuyên ngôn Nhân Quyền Hoa Kỳ (Bill of Rights) – có hiệu lực
vào ngày 15 tháng 12 năm 1791, hạn chế quyền lực của chính
quyền liên bang Hoa Kỳ và bảo vệ quyền con người của tất
cả các công dân, ngụ cư trong hay đang ghé thăm lãnh thổ Hoa
Kỳ.

Tuyên ngôn Nhân Quyền Hoa Kỳ bảo vệ quyền tự do ngôn luận,
tự do tôn giáo, và quyền được giữ và sử dụng súng, quyền
tự do lập hội và quyền tự do thỉnh nguyện. Nó cũng cấm
các hành vi lục soát và bắt bớ vô căn cứ, đối xử tàn
bạo và bất thường, hay ép cung. Tuyên ngôn nhân quyền cũng
hạn chế quyền của Quốc hội bằng cách cấm Quốc hội ban
hành luật về thành lập tôn giáo và bằng cách cấm chính
quyền liên bang tước quyền sống, quyền tự do hay tài sản
của bất cứ người nào mà không thông qua tố tụng pháp
luật. Trong trường hợp các án hình sự liên bang, nó yêu cầu
phải có lời kết tội từ bồi thẩm đoàn đối với các
tội ở mức tử hình hoặc ở mức bị tước bỏ quyền công
dân, đồng thời đảm bảo phiên tòa công khai và nhanh chóng
với với một bồi thẩm đoàn không thiên vị tại địa hạt
mà tội ác diễn ra, và cấm kết án hai lần cho cùng một tội
danh (double jeopardy).

<center><img src="/files/u1/sub1/american-billofrights_0.gif" width="560"
height="472" alt="american-billofrights_0.gif" /></center>
<center>Tuyên ngôn Nhân Quyền Hoa Kỳ, hay Bill of Rights, ra đời
năm 1791.</center>

<h3>Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp (1789)</h3>

Năm 1789 quần chúng Pháp đã lật đổ chế độ quân chủ
chuyên chế và mở đường cho sự thành lập của nền Đệ
Nhất Công Hòa. Chỉ sáu tuần sau khi chiếm ngục Bastille, và ba
tuần sau khi tuyên bố xóa bỏ chế độ phong kiến, Tuyên ngôn
Nhân Quyền và Dân Quyền (tiếng Pháp: La Déclaration des Droits de
l'Homme et du Citoyen) đã được Quốc Hội thông qua như bước
đầu tiên tới xây dựng một hiến pháp cho nước Cộng Hòa
Pháp.

Bản Tuyên ngôn tuyên bố rằng tất cả các công dân đều
được đảm bảo quyền "tự do, sở hữu tài sản, an ninh và
chống lại sự áp bức". Nó lập luận rằng nhu cầu về
luật pháp sinh ra từ thực tế rằng "…việc thực hiện các
quyền tự nhiên của mỗi cá nhân chỉ bị giới hạn sao cho
các cá nhân khác trong xã hội cũng được hưởng những quyền
tương tự". Và như thế, Tuyên ngôn nhìn luật pháp như một
"mong ước chung của cộng đồng", với mục đích thúc đẩy
sự bình đẳng về quyền và chỉ ngăn cấm "những hành vi có
hại cho xã hội".

<h3>Công Ước Geneva thứ nhất (1864)</h3>

Năm 1864, sáu quốc gia Châu Âu và một số bang của Hoa Kỳ dự
một hội nghị tại Geneva, theo lời mời của Hội Đồng Liên
Bang Thụy Sỹ, với sáng kiến tạo ra một Ủy Ban Geneva. Hội
nghị ngoại giao này được tổ chức nhằm thông qua một công
ước về việc đối xử với các binh sĩ bị thương trên
chiến trường.

Những điều khoản cơ bản đề ra trong Công ước này và
được duy trì trong các bản Công ước Geneva sau đó tạo khung
pháp lý để bắt buộc các bên phải cung cấp chăm sóc y tế
cho những quân nhân bị ốm và bị thương, bất luận là của
bên nào, và tôn trọng các xe chở nhân viên cứu thương và y
cụ được đánh dấu rõ ràng bằng dấu thập tự đỏ trên
nền trắng.

<center><img src="/files/u1/sub1/geneva-convention_0.jpg" width="516"
height="424" alt="geneva-convention_0.jpg" /></center>
<center><em>Công ước Geneva thứ nhất</em></center>

<h3>Liên Hợp Quốc (1945)</h3>

Thế chiến lần thứ hai kéo dài từ năm 1939 tới năm 1945, và
khi cuộc chiến sắp kết thúc, các thành phố từ Âu sang Á
nằm trong cảnh hoang tàn đổ nát. Hàng triệu người chết,
hàng triệu người khác sống trong cảnh không nhà và thiếu
đói. Lực lượng Hồng Quân đang tiến gần đến điểm kháng
cự cuối cùng của Đức Quốc Xã tại Berlin. Trên Thái Bình
Dương, lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ vẫn đang chiến
đấu với lực lượng Phát xít Nhật cố thủ tại các hòn
đảo như Okinawa.

Vào tháng tư năm 1945, các đoàn đại biểu từ 50 quốc gia đã
gặp mặt tại San Francisco với đầy hy vọng và lạc quan. Mục
tiêu của Hội Nghị Liên Hợp Quốc về Tổ Chức Quốc Tế là
để xây dựng một tổ chức quốc tế đóng vai trò thúc đẩy
hòa bình và ngăn cản những cuộc chiến tranh trong tương lai. Ý
tưởng về một tổ chức như vậy bắt đầu trong lời nói
đầu của dự thảo Hiến chương Liên Hợp Quốc: "Chúng tôi,
những công dân của Liên Hợp Quốc, đã quyết định cứu vớt
những thế hệ kế tiếp khỏi sự tàn khốc của chiến tranh,
đã hai lần trong cuộc đời của chúng tôi đem đến khổ đau
không kể xiết cho loài người".

Bản Hiến Chương của tổ chức Liên Hợp Quốc mới được
thành lập có hiệu lực vào ngày 24 tháng 10 năm 1945, và ngày
này được tưởng nhớ tới hàng năm như là ngày Liên Hợp
Quốc.

<center><img src="/files/u1/sub1/un-logo_0.jpg" alt="un-logo_0.jpg"
/></center>
<center><em>50 quốc gia gặp gỡ tại San Francisco năm 1945 và thành
lập tổ chức Liên Hợp Quốc để bảo vệ và thúc đẩy hòa
bình.</em></center>

<h3>Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền (1948)</h3>

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền đã truyền ý tưởng
cho nhiều luật và hiệp ước bảo vệ nhân quyền khác trên
khắp thế giới.

Tới năm 1948, Hội Đồng Nhân Quyền mới ra đời của Liên
Hợp Quốc đã nhận được sự chú ý của toàn thế giới.
Dưới quyền chủ tọa đầy năng động của Eleanor Roosevelt –
vợ góa của Tổng thống Franklin Roosevelt, một nhà hoạt động
nhân quyền và đại biểu của Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc –
Hội Đồng này đã tiến hành soạn thảo bản dự thảo mà sau
này trở thành Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền. Bà Roosevelt,
là người truyền cảm hứng cho bản tuyên ngôn, đã so sánh
bản Tuyên ngôn như một Hiến chương Magna Carta quốc tế cho
toàn bộ nhân loại. Nó được thông qua bởi Liên Hợp Quốc
vào ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Trong Lời nói đầu và trong Điều 1, bản Tuyên ngôn tuyên bố
dứt khoát về quyền không thể tách rời của mỗi con người:
"Sự xâm phạm và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những
hành động tàn bạo xúc phạm tới lương tâm của nhân loại,
và việc xây dựng một thế giới trong đó con người được
tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn phải chịu nỗi
sợ hãi và cùng cực được coi là khát vọng cao nhất của
loài người… Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do
và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền."

Các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc trịnh trọng cam
kết làm việc cùng với nhau để thúc đẩy 30 điều khoản về
quyền con người mà, lần đầu tiên trong lịch sử, đã được
tập hợp và ghi thành luật lệ trong một tài liệu chung. Và
kết quả là, rất nhiều những quyền này – dưới các hình
thức khác nhau, ngày nay đã là một phần của hiến pháp và
pháp luật ở các quốc gia dân chủ.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13283), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét