Nếu lấy cái mốc 2007-2008 là thời điểm có những sự kiện
quan trọng mang tính bước ngoặt – trong nước, năm 2007, lần
đầu tiên có sự bùng nổ các phong trào biểu tình chống Trung
Quốc vốn kết tụ từ những âm ỉ trước đó, và trong quan
hệ với quốc tế, từ năm 2008, Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của WTO – thì có thể thấy trong vòng dăm năm trở
lại đây, Việt Nam đang dần tiến tới một khúc quanh quan
trọng mang tính quyết định cho vận mệnh của chính mình. Nếu
đặt Việt Nam giữa các "ông lớn" trên bàn cờ thế giới
hiện nay và thu gọn lại thành một quan hệ tay ba Việt Nam –
Trung Quốc – Hoa Kỳ thì có thể công thức hoá khúc quanh quan
trọng này dưới dạng các câu hỏi mang tính chiến lược, và
việc lựa chọn đáp án nào sẽ mang tính quyết định cho vị
thế của Việt Nam trên sân khấu chính trị châu Á – Thái
Bình Dương cũng như thế giới nói chung:
1. Đi gần hơn nữa với Trung Quốc trên mặt trận chống lại
sức ảnh hưởng (ảnh hưởng vốn có và nỗ lực ảnh hưởng
trở lại mang tính chiến lược) của Mỹ?
2. Cố gắng giữ thăng bằng, hay là đu dây, giữa các cường
quốc mà đặc biệt là giữa hai gã khổng lồ của thế kỉ 21
là Mĩ và Trung Quốc?
3. Trở thành đồng minh với Mĩ trong nỗ lực ngăn chặn Trung
Quốc?
Thực ra đã có nhiều bài báo từ nhiều phía, nhiều lực
lượng khác nhau trực tiếp hoặc gián tiếp cổ xuý và vận
động cho từng đáp án này. Trước hết đánh giá một cách sơ
bộ về 3 câu hỏi: câu 1 dường như ít có khả năng xảy ra,
bất chấp những cáo buộc, đôi khi là cực đoan, của các
tiếng nói bất mãn trong và ngoài nước trước những phản
ứng có vẻ như quá nhu của Việt Nam trước các động thái
của Trung Quốc trong thời gian gần đây. Ngoại trừ những
tuyên bố phần nhiều là có tính toán về mặt ngoại giao và
thường được để cho giới lãnh đạo cấp cao Việt Nam về
bên Đảng lên tiếng, cộng với những tuyên bố vừa cứng
rắn, doạ dẫm, vừa phủ dụ lôi kéo của phía Trung Quốc
được thể hiện qua tờ Hoàn cầu Thời báo, thì khó có thể
tưởng tượng được kịch bản 1 này lại được Việt Nam
lựa chọn. Hai lựa chọn còn lại (giữ thăng bằng, đu dây, hay
liên minh với Mĩ) thường gây nhiều tranh cãi nhất, và sẽ là
trọng tâm mà tôi phân tích ở đây. Do vậy, trong bài báo này
tôi sẽ đặt mối quan hệ này vào một bối cảnh rộng hơn
với việc khu biệt hoá thành 6 lực lượng trên sân khấu chính
trị châu Á – Thái Bình Dương hiện nay: 1/ Việt Nam – 2/ Trung
Quốc – 3/ Hoa Kỳ - 4/ Đông Nam Á – 5/ Các cường quốc bậc
trung hoặc từng là siêu cường có mối ràng buộc gần với
những động thái giữa ba bên (Việt – Trung – Mỹ) bao gồm
Ấn Độ, Nhật, Hàn Quốc, Australia, và Nga – 6/ Liên Âu và
phần còn lại của thế giới nói chung. Sau khi phân tích những
vấn đề nội tại trong sự phát triển của Việt Nam và mối
quan hệ giữa Việt Nam với các lực lượng còn lại, tôi sẽ
cố gắng đi tới câu trả lời là một lựa chọn nước cờ
cho Việt Nam.
Về cơ bản, mối tương tác giữa các lực lượng nêu trên là
mối tương tác dựa trên sự ràng buộc giữa giá trị và lợi
ích.[i] Mối quan hệ giữa Việt Nam với các lực lượng còn
lại do vậy cần được các nhà hoạch định chính sách nhìn
nhận trong mối tương tác giữa giá trị và lợi ích này. Trong
điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng vào một thế giới
toàn cầu hoá, không quá khó để xác định và đánh giá bình
diện giá trị: đó là các giá trị về tự do, dân chủ và
luật chơi quốc tế. Đó là các yếu tố cần thiết vừa đem
lại chính "giá trị" và "lợi ích" cho người dân trong
nước, vừa tạo nên "quyền lực mềm" cho quốc gia với tư
cách là một đối thủ trong cuộc chơi toàn cầu. Bình diện
còn lại, "lợi ích," mới là yếu tố khó giải quyết vì
bản chất của con người – xét ở cấp độ cá nhân cũng như
một thực thể lớn hơn và trừu tượng hơn là quốc gia – là
lòng tham. Lòng tham này được kích thích hay chế ngự dựa vào
các yếu tố, thứ nhất là thực lực của bản thân từng
đối thủ, và thứ hai là các "giá trị." Nếu một lực
lượng nào đó trên bàn cờ chính trị này bị chi phối quá
lớn bởi bình diện "lợi ích" và bất chấp cả bình diện
"giá trị," lúc đó tất yếu nảy sinh mâu thuẫn và xung
đột với các lực lượng còn lại. Các thế lực có thực
lực yếu hơn, do vậy thường nhấn mạnh bình diện "giá
trị," dựa vào "giá trị" để bảo vệ mình, tất nhiên
đồng thời với đó là tranh thủ thời gian để phát triển
thực lực, tăng sức mạnh thực tế hỗ trợ cho cuộc cạnh
tranh.
Trong thời gian qua, có thể quan sát thấy Việt Nam đã có những
bước đi khá khôn ngoan và đúng hướng trong việc nhấn mạnh
"giá trị" đồng thời ra sức củng cố và phát triển thực
lực của mình. Bên cạnh việc mua sắm thêm nhiều vũ khí hiện
đại để xây dựng một lực lượng quân đội ngày càng tinh
nhuệ như là những biểu hiện cụ thể nhất của việc phát
triển thực lực, ít nhất là đủ sức răn đe đối thủ,
việc Quốc hội Việt Nam bỏ phiếu thông qua luật biển vào
cuối tháng 6 vừa rồi với những điều chỉnh cho phù hợp hơn
với luật quốc tế, chính là những điều chỉnh khôn ngoan
để phát triển bình diện "giá trị," tranh thủ sự ủng
hộ của quốc tế.
Đó chính là những động tác cụ thể trong chiến lược xây
dựng và bảo vệ đất nước thực hiện theo nguyên tắc tự
lực tự cường mà Việt Nam đã quá thấm thía trong suốt
chiều dài lịch sử của mình. Song đặt trong bối cảnh toàn
cầu hoá, cộng với một thực tế là thực lực của mình còn
rất yếu nếu so sánh với Trung Quốc sát cạnh như một gã
khổng lồ và tham lam, những động tác trên là không đủ nếu
thiếu đi những tương tác với các lực lượng bên ngoài còn
lại trong sơ đồ nêu trên. Vấn đề cần đặt ra, do vậy, là
phải đánh giá được "giá trị," "lợi ích" và ý đồ
của mỗi thế lực nêu trên trong cuộc chơi để từ đó có
những bước đi hợp lí trong quan hệ với từng đối tượng.
Cho đến thời điểm này thì có thể nói không quá khó để
nhận ra ý đồ, tham vọng của từng bên trong mối quan hệ
Việt Nam – Trung Quốc. Với Việt Nam, trước hết là bảo vệ
những lợi ích chính đáng của mình theo đúng quy định của
luật quốc tế về phạm vi 200 hải lí của khu vực đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; tiếp theo,
bảo vệ phần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) mà mình đã chiếm
hữu và quản lí liên tục trong lịch sử. Với Trung Quốc,
hiện tại khó có thể dám phiêu lưu vào một xung đột quân
sự trên biển Đông, song tham vọng lợi ích của nó đã quá rõ
ràng: quyết tâm cướp đoạt Hoàng Sa và Trường Sa, biến 80%
diện tích biển Đông thành cái ao nhà của mình, từ đó thực
hiện tham vọng lớn hơn: dùng biển Đông làm bàn đạp tiến ra
xưng hùng với thế giới.
Do vậy, trong mối quan hệ trực tiếp với Trung Quốc, bên cạnh
gấp rút trở thành một thực lực đủ mạnh về kinh tế lẫn
quốc phòng, Việt Nam cần phải cho Trung Quốc thấy giới hạn
của sự hoà hiếu và tính nguyên tắc trong việc quyết tâm
bảo vệ chủ quyền của mình. Bên cạnh một số chiến lược
đã và đang được các nhà lãnh đạo Việt Nam thực hiện như
chiến lược "nhím xù lông," chiến lược "chống tiếp
cận," Việt Nam cần phải sử dụng đa dạng các phương cách
khác nhau như ngoại giao nhân dân, ngoại giao đa phương, tranh
thủ nước lớn và cộng đồng quốc tế. Đặc biệt Việt Nam
có thể sử dụng truyền thông và tiếng nói của các học giả
để nói cho Trung Quốc hiểu rằng Việt Nam sẵn sàng chiến
đấu đến cùng một khi bị dồn đến chân tường, rằng gây
sự với Việt Nam, Trung Quốc có thể lặp lại sai lầm trong
lịch sử: 600 năm trước, bại trận ở Việt Nam đã khiến nhà
Minh phải co về cố thủ nội địa và từ bỏ mộng vươn ra
đại dương của mình. Lần này cũng vậy, sa lầy vào một xung
đột quân sự lâu dài với Việt Nam có thể sẽ khiến Trung
Quốc trở nên khốn đốn và tan tành mộng bá chủ toàn cầu.
Trong quan hệ giữa Việt Nam với lực lượng ngoài Trung Quốc,
lực lượng số 6, tức "EU và phần còn lại của thế giới
nói chung," là ở xa nhất và có tác động ít trực tiếp
nhất. Song EU với tư cách là một thực thể kinh tế quan trọng
và cái nôi của các giá trị toàn cầu như tự do, dân chủ, vai
trò của nó cũng không hề nhỏ. Về mặt kinh tế, có thể
thấy sự ràng buộc rất lớn giữa EU như là một khu vực đang
phải đối diện với những khó khăn rất lớn về kinh tế, và
Trung Quốc như là một thế lực kinh tế mới nổi, có dự trữ
ngoại tệ rất lớn và một công xưởng sản xuất hàng hoá cho
toàn thế giới. Sự phụ thuộc về mặt kinh tế, tài chính
của EU và Trung Quốc là điều có thể trông thấy rõ, song
không vì thế mà Trung Quốc có thể hoàn toàn khuất phục
được EU trong việc ủng hộ các tham vọng quá đáng về lợi
ích của mình. Bên cạnh đó, các nước EU cũng ngày càng tỏ ra
e ngại Trung Quốc không chỉ như một thế lực hung hãn đang
trỗi dậy, mà còn vì bản chất của nó là một sự kết hợp
giữa nền toàn trị phi dân chủ với một chủ nghĩa tư bản
hoang dã sẵn sàng vi phạm các cam kết về an toàn thực phẩm
cũng như về luật lệ quốc tế và về nhân quyền nói chung
chỉ để thực hiện các tham vọng lợi ích của mình. Do vậy,
trong mối quan hệ với lực lượng này (EU và phần còn lại
của thế giới nói chung), Việt Nam cần có những cải cách
mạnh mẽ hơn nữa về kinh tế và chính trị để biến mình
thành một địa chỉ hấp dẫn cho quan hệ kinh tế với EU, xây
dựng sự ràng buộc lợi ích lớn hơn giữa hai bên. Những cải
cách về chính trị cũng là để đi gần hơn với EU và tranh
thủ sự ủng hộ của EU trên bình diện "giá trị."
<div class="boxright200"><div class="simplequote"><div
class="quotebody">Trong mối quan hệ với lực lượng EU và phần
còn lại của thế giới nói chung, Việt Nam cần có những cải
cách mạnh mẽ hơn nữa về kinh tế và chính trị để biến
mình thành một địa chỉ hấp dẫn cho quan hệ kinh tế với EU,
xây dựng sự ràng buộc lợi ích lớn hơn giữa hai bên. Những
cải cách về chính trị cũng là để đi gần hơn với EU và
tranh thủ sự ủng hộ của EU trên bình diện "giá
trị."</div><br class="quoteclear"></div></div>
Các cường quốc bậc trung trong vùng (Ấn Độ, Nhật, Hàn
Quốc, Australia, và Nga) ở các mức độ khác nhau đều có xung
đột về lợi ích với Trung Quốc và ngày càng cảnh giác
trước một Trung Quốc hung hãn. Nhật, Hàn Quốc, Australia và ở
một góc độ nào đó là Ấn Độ, đều là đồng minh của Mĩ.
Tuy có thể không nói ra trực tiếp, song kiềm chế một nước
Trung Quốc độc đảng và tham lam đều là mục tiêu chung của
các quốc gia này dưới sự dẫn dắt của Mĩ. Trường hợp
của Nga có phức tạp hơn. Nga từng là siêu cường một thời,
song với tình hình hiện thời, uy thế ngày xưa đã mất cũng
như mối ràng buộc quyền lợi của Nga với Việt Nam và vùng
Đông Nam Á không còn trực tiếp thiết thân như xưa, cho nên
trong bài toán Việt – Trung hiện nay, tạm thời có thể xếp
Nga vào nhóm các cường quốc bậc trung trong vùng này. Nga có
quan hệ lợi ích kinh tế mật thiết với Trung Quốc và có thể
liên minh tạm thời với Trung Quốc để kiềm chế Mĩ. Song về
lâu dài, Nga không thể trở thành đồng minh với Trung Quốc và
vẫn luôn cảnh giác với Trung Quốc, không muốn Trung Quốc
vươn lên lãnh đạo thế giới. Xét về bình diện"giá
trị," dù hiện thời chính quyền Putin có là một chế độ
độc tài được bọc ngoài bởi một lớp nhung dân chủ, thì
về lâu dài, xã hội – văn hoá Nga vẫn gần gũi Mĩ – Âu hơn
là với Trung Quốc. Chiến lược của Việt Nam do vậy phải
không ngừng củng cố quan hệ kinh tế và chính trị với các
cường quốc này, lôi kéo các cường quốc này can dự sâu hơn
vào vấn đề biển Đông, tăng cường sự ràng buộc về mặt
lợi ích với các nước, đồng thời cần cải cách chính trị,
phát huy tự do dân chủ để tranh thủ sự ủng hộ của các
cường quốc này trên bình diện "giá trị."
Thực ra hai lực lượng khó giải quyết nhất chính lại là
ASEAN và một phần nào đó là Mĩ. Với Asean, trước hết phải
có những phương thức ngoại giao khác nhau để các nước trong
khối thấy được yêu cầu đoàn kết để tiếng nói chung bởi
Trung Quốc sẽ là một thế lực có tiềm năng gây nguy hại
không chỉ với những nước có can hệ trực tiếp về mặt
lợi ích với Trung Quốc, mà còn đối với cả khu vực và
thậm chí là cả khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Song, đối
phó với việc Trung Quốc đang dùng quyền lực của cơ bắp
lẫn đồng tiền để khiến Asean phải thúc thủ, Việt Nam
không thể đủ tài chính và cơ bắp để chạy đua theo cách
đó với Trung Quốc. Một chiến lược thu phục lâu dài đối
với các nước Asean mà Việt Nam cần tạo ra phải là sự thu
phục bằng quyền lực mềm, bằng "giá trị". Muốn làm
được điều đó, bản thân Việt Nam phải chứng tỏ mình sẵn
sàng tạo nên và đi theo các "giá trị" ấy, thông qua đó
tác động lên những nước đang hoặc có nguy cơ rơi vào vòng
tay Trung Quốc, giúp các nước cảnh giác trước những mối
lợi trước mắt do Trung Quốc đem lại, và nhận ra rằng các
bình diện "giá trị" như tự do, dân chủ, pháp quyền là
cái đích tất yếu cần phải đi đến để đảm bảo một sự
phát triển bền vững cho mỗi quốc gia, giúp mỗi quốc gia kia
tự xây dựng nên "sức đề kháng" đối với một gã láng
giềng khổng lồ, độc tài và tham lam.
Song những diễn biến căng thẳng của diễn đàn khu vực ASEAN
lần thứ 19 vừa diễn ra tuần rồi với sự thất bại của
cả khối không đưa ra được tuyên bố chung buộc các nhà lãnh
đạo Việt Nam phải thấy rằng với toàn bộ tính chất phức
tạp về lịch sử, tôn giáo, chính trị, địa dư,… giữa 10
nước, phải mất một thời gian khá dài, có thể lên tới tầm
ít nhất vài thập kỉ, thậm chí là nửa thế kỉ nữa thì
ASEAN mới có thể tạo ra được một sự thống nhất như của
châu Âu hiện thời. Dựa vào Asean là cần thiết nhưng không
đủ, đặc biệt không kịp cho diễn tiến phát triển dồn dập
của bàn cờ chính trị khu vực, và cho những tình huống cấp
bách có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Con bài chốt, chung quy
lại, không ai khác, chính là Mĩ.
Với Mĩ, bên cạnh sự khó khăn mà nền kinh tế khổng lồ này
đang gặp phải, sự phụ thuộc về mặt kinh tế vào Trung
Quốc, Mĩ còn tỏ ra e dè ngại va chạm với Trung Quốc phần
nhiều vì những lí do lịch sử: những va chạm và thất bại
của Mĩ ở Đông Á (chiến tranh Triều Tiên) và Đông Nam Á
(chiến tranh Việt Nam) trong thế kỉ 20 luôn luôn nằm trong thế
kình địch với Trung Quốc. Đó vẫn là những vết thương
lịch sử khiến Mĩ thận trọng và cân nhắc kĩ cho mỗi hành
động trong hiện tại. Trong mối quan hệ Việt – Mĩ, hai bên
đã có những bước tiến dài đáng kinh ngạc sau khi bình
thường hoá vào năm 1995, song mối nghi kị lẫn nhau vẫn chưa
phải là hoàn toàn chấm dứt. Mĩ với tư cách là lãnh đạo
của thế giới tự do, ở một mức độ nào đó hẳn vẫn còn
cái nhìn nghi ngại về Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam hẳn
cũng vẫn còn nghi ngại Mĩ rất nhiều vì vẫn chưa quên nỗi
đau về việc bị các cường quốc trong thế kỉ 20 thoả hiệp
trên lưng mình, trong đó có Mĩ. Song, quá khứ là bài học cần
phải nhớ để rút ra kinh nghiệm cho bài toán hiện tại và
tương lai; trong khi đó, xét trên tổng thể, chỉ có Mĩ là lực
lượng duy nhất có thể làm đối trọng với Trung Quốc hiện
nay.
Như vậy, qua sự phân tích các bình diện "giá trị," "lợi
ích" và ý đồ của từng lực lượng trong sơ đồ trên, có
thể đi đến một nhận định: bài toán then chốt nhất trong
số các bài toán trên là phát triển mối quan hệ với Mĩ, lấy
Mĩ làm đối trọng chính hỗ trợ cho sự đương đầu với
Trung Quốc. Và trước hết, vấn đề then chốt trong bài toán
then chốt cần giải này là phải cố gắng xoá tan sự nghi
ngại đến từ cả hai phía, xây dựng và phát triển lòng tin
lẫn nhau.
Làm thế nào để đạt được điều đó? Câu trả lời là:
phải làm thế nào để cho hai bên tương hợp về "giá trị"
và "lợi ích." Tương hợp về "lợi ích" gần như đã
không cần bàn cãi: bên cạnh yếu tố kinh tế thì xét về mặt
địa – chính trị chiến lược, trong khi Việt Nam cần Mĩ làm
đối trọng với Trung Quốc, Mĩ cũng rất cần Việt Nam như là
một mắt xích quan trọng trong việc thực hiện kiềm chế tham
vọng của Trung Quốc để cố gắng giữ ngôi vị bá chủ và
tham vọng toàn cầu của mình.
Sự "quyền biến" của Mĩ trong mối quan hệ với hai nước
đồng minh của mình là Nhật Bản với Phillipines trong cuộc
đối đầu với Trung Quốc vừa qua đưa ra cho Việt Nam những
bài học quan trọng: Mĩ sẵn sàng "cắt nghĩa" bản hiệp
ước an ninh với Nhật theo hướng có lợi cho Nhật, tuyên bố
có trách nhiệm bảo vệ quần đảo Senkaku (mà Trung Quốc gọi
là Điếu Ngư Đài) cho Nhật bởi một thực tế thấy rõ là
Nhật có thực lực. Trong khi đó, tình hình ngược lại với
Phillippines trong vụ xung đột ở bãi đá ngầm Scarborough bởi
thực lực của nước này quá yếu, đặc biệt là về mặt
quân sự – quốc phòng.
Những cố gắng trong việc giữ thăng bằng giữa hai cường
quốc Mĩ và Trung Quốc, kéo các cường quốc khác tham gia vào
cuộc chơi để tăng thanh thế cho bản thân, đồng thời bên
cạnh đó là những bước đi thận trọng, kín đáo ngày càng
gần gũi hơn với Mĩ, là những nước đi khôn ngoan của các
nhà lãnh đạo Việt Nam. Song một vấn đề chiến lược quan
trọng mà các nhà lãnh đạo Việt Nam phải thống nhất được
với nhau, đó là giữ mối cân bằng này đến mức nào, đằng
sau mối cân bằng này là mục tiêu chiến lược nào cần
hướng đến. Liệu mối cân bằng này có duy trì mãi được
không? Và quan trọng hơn, liệu mối cân bằng này có là giải
pháp tối ưu hỗ trợ Việt Nam trong cuộc đối đầu với Trung
Quốc hay không? Nếu câu trả lời là "không" thì lãnh đạo
Việt Nam phải trả lời tiếp câu hỏi: Vậy phải xây dựng
mối quan hệ với Mĩ đến mức độ nào mới đủ sức làm
thoái lui dã tâm của Trung Quốc và trong tình huống khẩn cấp
xảy ra (một cuộc xung đột vũ trang chẳng hạn) thì lập tức
có ngay lực lượng hỗ trợ đủ mạnh để đập tan ý chí
của Trung Quốc? Trả lời câu hỏi này đồng nghĩa với việc
các Việt Nam cần phải xác quyết một mục tiêu chiến lược
rạch ròi, phải thống nhất được với nhau và quyết tâm đi
tới mục tiêu đó. Mục tiêu đó là gì?
Dự đoán chính trị là một điều rất khó. Trong khoa học
chính trị, người ta thường đưa ra các dự báo dựa trên các
biến thiên (tham số) là các hành động của mỗi bên trong
cuộc chơi chung, theo công thức: nếu các tham số a, b thì sẽ
cho ra kết quả X; nếu các tham số là c, d thì sẽ cho ra kết
quả Y. Trong bài toán đang đặt ra cho Việt Nam ở đây cũng
vậy. Một kịch bản tốt đẹp và có phần lí tưởng là Trung
Quốc sẽ gạt bỏ "lợi ích" của mình để tuân theo "giá
trị" chung; lúc đó chiến lược giữ thăng bằng của Việt
Nam hẳn tiếp tục phát huy tác dụng. Song dựa trên các dữ
kiện lịch sử với các tham số như chủ nghĩa dân tộc của
người Trung Quốc và chủ nghĩa bành trướng đại Hán cũng như
diễn biến dồn dập và căng thẳng gần đây, rõ ràng kịch
bản trên khó lòng xảy ra. Trung Quốc có vẻ không sẵn sàng
từ bỏ "lợi ích" của mình và đồng thời có vẻ không
còn che giấu cho tham vọng soán ngôi bá chủ toàn cầu. Do vậy
Việt Nam cũng phải sẵn sàng các bước đi cần thiết cho
chiến lược của mình trong cuộc chơi này. Theo đó, Việt Nam
cần tiếp tục cố gắng giữ thăng bằng trong chừng mực còn
thấy nó cần thiết, trong khi đóphải luôn tỉnh táo quan sát
và dự báo động thái của đối thủ. Đồng thời, bằng các
cách thức không khoa trương gây ồn ào và khó chịu không cần
thiết cho đối thủ, Việt Nam càng thân thiết với Mỹ càng
tốt để làm sao có thể thiết lập một mối quan hệ Việt –
Mỹ có tính đồng minh không chính thức hay có thể gọi là
đồng minh dự bị, chẳng hạn như mối quan hệ giữa Mĩ và
Singapore hiện nay. Mối quan hệ đồng minh dự bị có sự ràng
buộc cần thiết nhất định nào đó về mặt hỗ trợ quân
sự giữa hai bên, đồng thời nó có tính bước đệm cho một
quan hệ đồng minh chính thức khi cần thiết.
Song vấn đề đặt ra là trong khi khéo léo giữ mối thăng
bằng, phải làm sao để cho các bước đi này có tiến độ
nhanh hơn. Để đạt được tiến độ cần thiết cũng như là
một mục tiêu chiến lược cần hướng đến, Việt Nam còn
nhiều việc cần phải làm. Xét từ mối quan hệ giữa "giá
trị" và "lợi ích" mà tôi nêu trên, rõ ràng lời giải là
phải làm cho "giá trị" và "lợi ích" giữa hai bên trở
nên tương hợp. Mĩ kêu gọi Việt Nam tham gia vào TPP và Việt
Nam đã có phản hồi tích cực, sẵn sàng tham gia, đó là những
bước đi rất quan trọng và hữu ích. Mĩ cũng nên có một số
hành động mang tính biểu tượng, chẳng hạn huỷ bỏ lệnh
cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam để thứ nhất, thể
hiện sự hợp tác toàn diện về mặt quân sự; thứ hai, nó
như là một sự khuyến khích động viên cho Việt Nam tiếp tục
cải cách; và thứ ba, rõ ràng Mĩ cũng thu được mối lợi của
việc xuất khẩu vũ khí mà lâu nay, bất chấp lệnh cấm trên
của Mĩ, Việt Nam vẫn có nguồn cung ứng hữu hiệu từ Nga.
Song mong muốn là một chuyện, thực tế lại là chuyện khác và
phức tạp hơn nhiều. Không phải cứ muốn kết ước đồng
minh là lập tức có thể đặt bút kí kết ước đồng minh.
Bên cạnh việc phải có những nước đi khéo léo và tiệm
tiến, tránh gây sốc cho một Trung Quốc khổng lồ ngay sát bên,
thì còn một trở ngại khác quan trọng hơn cần phải giải
quyết: dù sao đi nữa cũng khó có thể tưởng tượng được
việc Mĩ lại có một đồng minh là một quốc gia cộng sản và
là kẻ thù cũ của nhau. Đó là những trở ngại khó vượt qua
cho việc đi đến kết ước đồng minh. Nhưng nếu cả hai bên
cùng có thiện chí trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau thì vẫn
có thể đạt được mục đích. Phạm vi bài viết này không cho
phép bàn quá rộng, song có thể dễ dàng đồng ý với nhau là
nền kinh tế phát triển mạnh và vững chắc, bền vững chỉ
khi được hỗ trợ bởi một thể chế dân chủ, và sự vững
mạnh về kinh tế phải đi kèm với sự giàu có, sự tự do và
các giá trị dân chủ cho mỗi người dân.[ii] Nếu bước đi
này xảy ra, Mĩ có thể (và nên) phản hồi theo hướng tích
cực là hình thành một quan hệ đồng minh dự bị với Việt
Nam để khi chín muồi, mối quan hệ đồng minh dự bị này có
thể dễ dàng phát triển ở mức cao hơn.
Một khi đã phân tích thấu đáo từng lực lượng trên bàn cờ
chính trị thế giới, dự đoán các kịch bản khác nhau cho
cuộc chơi này, từ đó xác quyết cho mình chiến lược cần
theo đuổi và cái đích cần đi tới, thì việc đạt được
kết quả hay không chỉ còn phụ thuộc vào ý chí và sự khôn
ngoan của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Một điều tưởng đã
nhàm, song chung quy lại, rõ ràng cái cần phải làm ngay và làm
xuyên suốt, vẫn là tiếp tục dân chủ hoá đất nước, xây
dựng một nhà nước pháp quyền thực sự với một thể chế
tam quyền phân lập. Đó là điều cần thiết để xây dựng
một nước Việt Nam hùng mạnh đặng theo đuổi triết lí tự
lực tự cường đã được đúc rút qua chiều dài lịch sử
chống ngoại xâm.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13401), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét