Chấm và vạch trong Biển Đông: nhìn nhận từ Luật chứng cứ bản đồ

<div class="boxright200"><img
src="http://www.tiasang.com.vn/DesktopModules/VietTotal.Articles/ImageHandlerLarge.ashx?width=250&height=182&HomeDirectory=%2fPortals%2f0%2fVietTotal.Articles%2fChinhtrixahoi%2f&fileName=ban-de1bb93-lanh-he1baa3i-bie1bb83n-dong.jpg&portalid=0&i=5255&q=1"
/><div class="textholder">Đường lưỡi bò do Trung Quốc tự
vẽ</div></div>

<strong>Ngày 07 tháng 5 năm 2009, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
(CHNDTH) phản đối đệ trình của Việt Nam và đệ trình chung
của Malaysia - Việt Nam gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa
(CLCS). Để hậu thuẫn cho các yêu sách của mình, Trung Quốc
(TQ) đã kèm một bản đồ có vẽ một đường hình chữ U
nhiều chấm bao trùm phần lớn Biển Đông vào công hàm phản
đối.</strong>

Bài nghiên cứu này là đưa ra một phân tích về mặt pháp lý
quốc tế bản đồ nói trên.


<h2>I. BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC</h2>

<strong>A. Nền tảng</strong>

Nguồn gốc của đường chữ U bắt đầu từ các hoạt động
của Uỷ ban thẩm tra Bản đồ Đất và Nước của Trung Hoa Dân
Quốc (THDQ), thành lập vào năm 1933. Trách nhiệm của Uỷ ban
này bao gồm việc khảo sát và đặt tên các đảo ở Biển
Đông và in ra các bản đồ cho thấy các đảo này thuộc chủ
quyền của TQ. [1]

Đường nhiều chấm được chuẩn nhận chính thức đầu tiên
phát xuất từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Tờ bản
đồ đang bàn do Sở lãnh thổ và Ranh giới Bộ Nội vụ THDQ in
ra vào tháng 12 năm 1946. [2] Trên bản đồ này, đường chữ U
gồm 11 vạch liên tục bao kín phần lớn Biển Đông và các
thể địa lý giữa đại dương. [3] Bắt đầu từ ranh giới
Trung-Việt, hai vạch đầu tiên đi qua Vịnh Bắc Bộ. Vạch thứ
ba và thứ tư của đường này phân cách bờ biển Việt Nam
với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tương ứng. Vạch
thứ năm và thứ sáu trên đường đứt đoạn đi qua Bãi cạn
James (4° N), thể địa lý biển cực nam mà TQ và THDQ tuyên bố
chủ quyền. Di chuyển theo hướng đông bắc, hai vạch tiếp theo
nằm giữa quần đảo Trường Sa phía này, và Borneo (Indonesia,
Malaysia, và Brunei) và Philippines (tỉnh Palawan), phía kia. Vạch
thứ chín, thứ mười, và thứ mười một phân cách Philippines
với THDQ. [4] Sau khi loại Quốc dân Đảng khỏi Trung Hoa đại
lục, CHNDTH cũng phát hành bản đồ vẽ với cùng các vạch
trên. [5] Như vậy, từ đó trở đi, ở hai phía của eo biển
Đài Loan đều thấy có bản đồ đường chữ U xuất hiện.
Một trong thay đổi đặc biệt cần lưu ý: từ năm 1953, bản
đồ Biển Đông TQ chỉ vẽ 9 thay vì 11 vạch (2 vạch ở Vịnh
Bắc Bộ đã bị xoá). [6]

<strong>B. Công hàm TQ gửi Tổng thư ký LHQ (ngày 07 tháng 5 năm
2009)</strong>

Ở cấp độ quốc tế, tranh cãi xung quanh đường 9 chấm đã
rộ lên trước Liên Hợp Quốc (LHQ) vào năm 2009 liên quan tới
đệ trình chung của Malaysia-Việt nam[7] và đệ trình riêng của
Việt Nam[8] cho CLCS. CLCS đưa ra khuyến nghị cho các nước ven
biển có nhu cầu xác lập ranh giới bên ngoài thềm lục địa
vượt quá 200 hải lý (nm). [9] Thời gian đệ trình của các
chính phủ Việt Nam và Malaysia có thể được giải thích bởi
thời hạn chót của họ là vào tháng 5 năm 2009. [10] Để đáp
trả các đệ trình này, trong cùng ngày TQ đã chính thức gửi
Tổng thư ký LHQ hai công hàm riêng biệt có kèm bản đồ đó
[11], bằng cách này lần đầu tiên xác nhận đường chữ U, ở
cấp quốc tế trong một tranh chấp cấp nhà nước, [12] với
phản ứng giống hệt nhau sau đây:

TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở
Biển Đông và các vùng biển lân cận, và được hưởng quyền
chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển liên quan cũng
như biết đáy biển và lòng đất dưới biển (xem bản đồ
kèm theo). Lập trường nêu trên đượcChính phủ TQ nhất quán
thể hiện, và được cộng đồng quốc tế biết đến rộng
rãi. [13]

Đọc Công hàm này, một học giả Đài Bắc suy ra một số
khẳng định của TQ:

1. Chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông và vùng biển
tiếp giáp chúng (bản đồ kèm theo cho thấy các thể địa lý
biển sau đây trong đường đứt khúc theo tên: quần đảo Tây
Sa, [14] quẩn đảo Nam Sa, [15] quần đảo Trung Sa, [16] và quẩn
đảo Đông Sa[17]).

2. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển
liên quan bao gồm đáy biển và tầng đất dưới đáy biển
của chúng.

3. Tính nhất quán của vị thế chính thức của TQ về các yêu
sách biển và lãnh thổ ở Biển Đông.

4. Sự nhận biết của các nước bên thứ ba liên quan đến yêu
sách của TQ về biển và lãnh thổ ở Biển Đông.

5. Đường chữ U mô tả những yêu sách của TQ về chủ quyền,
quyền chủ quyền và quyền tài phán. [18]

Tuy nhiên, dường như công bằng để nói rằng giải thích chính
thức của TQ trích dẫn trên, theo như ý nghĩa chính xác của
bản đồ đính kèm, vẫn còn là mơ hồ. Cụ thể, bản chất
pháp lý chính xác của các khu vực biển bao bọc bởi đường
9-chấm-vẫn còn mờ mịt, mặc dù có việc "làm rõ" của TQ.
Điểu này được thể hiện rõ ràng bởi các phản ứng đang
dạng mà họ gây ra tại các hội nghị chuyên ngành được tổ
chức kể từ đó. [19]

Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay chỉ có một nước
là Philippines thực hiện nỗ lực giải thích.[20] TQ nhanh chóng
trả lời với một công hàm mới, một lần nữa công hàm này
chẳng làm cho rõ ràng hơn bao nhiêu. Trong công hàm mới này,
đề ngày 14 tháng 4 năm 2011, TQ nêu rằng "chủ quyền và các
quyền và quyền tài phán liên quan của TQ trong Biển Đông"
được hỗ trợ bằng "chứng cứ lịch sử và pháp lý phong
phú"'.[21] Điều rõ ràng trong tài liệu ngoại giao mới này là
sự thiếu vắng của bất kỳ đề cập nào tới bản đồ
trên. Từ sự thiếu vắng này, chúng ta có thể suy ra sự từ
bỏ đường 9 chấm hay không? Chắc chắn, không thể giả định
có một sự quay ngoắt (volte-face) một cách hời hợt. Hơn nữa,
dù họ đang chủ trương làm dịu đi các quan ngại về tự do
hàng hải ở Biển Đông, [22] ví như can thiệp gần đây của TQ
đối với tàu thuyền Việt Nam và Philippines mà thôi cho thấy
các yêu sách quá đáng của họ như trên bản đồ vẫn còn
nguyên vẹn.

<strong>II. CÁC YÊU SÁCH</strong>

Công hàm ngày 07 tháng 5 năm 2009 của TQ, dù là có thể mới
trong các khía cạnh vể biển của nó nhưng chỉ lặp lại
những khẳng định tương tự như đã đưa ra trong quá khứ
liên quan đến các thể địa lý. [23] Hơn nữa, nhiều học giả
chủ yếu của TQ và Đài Loan đã đề ra các cách giải thích
riêng của họ về đường 9 chấm. Giữa sự rối rắm này,
người ta chỉ có thể chắc chắn một điều là các khẳng
định TQ về Biển Đông không vượt quá ranh giới này. [24]
Những quan điểm và giá trị pháp lý của các khẳng định này
sẽ được thảo luận sau đây.

<strong>A. Yêu sách lịch sử</strong>

<em>1. Thực hành Nhà nước (State practice)</em>

Mặc dù các khẳng định kiểu này dường như không là nét
đặc biệt trong chính sách chính thức của TQ, Đài Bắc có
truyền thống ủng hộ lập trường này đối với đường chữ
U khá mạnh, như có thể thấy trong một loạt các tuyên bố. Ví
dụ, trong năm 1991 tại một trong những Hội thảo về Biển
Đông, một đại diện Văn phòng Kinh tế và Thương mại Đài
Bắc ở Jakarta (Indonesia) tuyên bố:

Biển Đông là một vùng nước thuộc thẩm quyền của THDQ. THDQ
có quyền và đặc quyền trong Biển Đông. Bất kỳ hoạt động
nào trong Biển Đông phải có sự chấp thuận của Chính phủ
THDQ. [25]

Hướng dẫn Chính sách cho Biển Đông năm 1993 (chuẩn nhận bởi
Bộ trưởng Hành Chánh) lưu ý rằng:

Trên cơ sở lịch sử, địa lý, luật pháp quốc tế, và nhiều
sự kiện, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi cạn
Macclesfield, và quần đảo Pratas luôn là phần lãnh thổ cố
hữu của THDQ. Chủ quyền của nước THDQ đối với chúng không
còn chút nghi ngờ nào. Khu vực Biển Đông trong ranh giới vùng
nước lịch sử là khu vực biển thuộc thẩm quyền của nước
THDQ, THDQ sở hữu tất cả các quyền và lợi ích trong đó. [26]

Trong năm 1994, Bộ trưởng Bộ Hành Chánh, Trương Kim Ngọc (Chang
King-yu), nói rằng "các vùng biển được bao bọc bởi đường
chữ U ở Biển Đông là vùng nước lịch sử của chúng ta và
THDQ được hưởng tất cả các quyền trong đó" (nhấn mạnh
thêm). [27]

Chính sách của Đài Bắc được suy luận xa hơn từ các phản
đối đã thực hiện chống lại cách ứng xử của các nước
ven biển trong khu vực. Đáp trả với việc Malaysia chiếm đóng
hai thể địa lý tại quần đảo Trường Sa và việc Philippines
quyết địnhsáp nhập bãi cát ngầm Scarborough trên bản đồ
của họ, Đài Bắc tuyên bố:

Biển Đông là một vùng nước của THDQ. THDQ có tất cả các
quyền và đặc quyền trong vùng Biển Đông. Bất kỳ hoạt
động nào (kể cả việc thảo luận về hợp tác chung hoặc Quy
tắc ứng xử, vv) trong Biển Đông phải có sự chấp thuận
của Chính phủ THDQ. (nhấn mạnh thêm) [28]

Một số chuyên gia đã cóp nhặt nhiều lập luận pháp lý cho
tuyên bố mong manh này. [29] Ví dụ, Triệu Quốc Tài (Guocai Zhao)
nhận xét:

TQ sở hữu quyền lịch sử các hòn đảo, đá ngầm, bãi cát
ngầm, các bãi cạn, và các vùng nước trong đường 9 chấm.
Biển Đông được coi là vùng nước lịch sử của TQ, điều
đó được thừa nhận phổ quát vào thời điểm đó. Cho đến
nay điều này đã kéo dài nửa thế kỷ. [30]

<em>2. Phân tích pháp lý</em>

Việc xem xét các bài viết học thuật về các tuyên bố lịch
sử liên quan đến các khu vực biển làm phát sinh rất nhiều
nhầm lẫn về thuật ngữ. Các khái niệm thích hợp như quyền
lịch sử / sở hữu lịch sử, các vùng nước lịch sử, và
vịnh lịch sử không dễ dàng phân biệt và làm sáng tỏ. [31]
Để tránh việc tìm hiểu kéo dài không cần thiết và phần
nào thừa thãi về sự khác biệt giữa các quyền lịch sử và
sở hữu lịch sử, chỉ cần nói rằng "quyền lịch sử" là
chủng (genus) mà theo đó người ta có thể đặt các loại
(species) "vùng nước lịch sử" vào. Tương tự, "vịnh
lịch sử" là một loại "vùng nước lịch sử". [32] Trong
bối cảnh của đường 9 chấm, cách ứng xử của Đài Bắc
dường như bao hàm sự công nhận các vùng nước lịch sử liên
quan đến một phần chủ yếu của Biển Đông.

Không có định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về các vùng
nước lịch sử, nhưng theo cách hiểu rộng rãi, nó biểu thị
các quyền dành cho một nước ven biển đối với một hoặc
nhiều khu vực biển mà nước đó bình thường sẽ không
được hưởng. Phạm vi các quyền đi cùng với vùng nước
lịch sử có thể khác nhau đáng kể. Các điều kiện pháp lý
cho việc thụ đắc các vùng nước lịch sử đã được xem xét
trong một nghiên cứu năm 1962 do Văn phòng Ban thư ký Liên Hợp
Quốc của Vụ Pháp chế (OLA) thực hiện theo yêu cầu của Uỷ
ban pháp luật quốc tế. [33] Theo quan điểm của OLA:

Có vẻ có một sự nhất trí chung nhất rằng khi xác định
liệu một nước có quyền sở hữu lịch sử đối với một
khu vực biển hay không phải xem xét tới ít nhất ba yếu tố.
Những yếu tố này là: (1) việc thực thi thẩm quyền của
nước yêu sách quyền lịch sử đối với khu vực đó (2) tính
liên tục của việc thực thi thẩm quyền (3) thái độ của các
nước khác. [34]

Đài Bắc lẫn TQ đều không đáp ứng các tiêu chí này cho vấn
đề đó. Điều kiện (1) và (2) đòi hỏi nước có yêu sách
phải thực thi thẩm quyền thông qua các hành vi thể hiện chủ
quyền ở mức đủ thường xuyên và có hiệu quả. Liên quan
tới khu vực họ yêu sách, việc thể hiện thẩm quyền của
họ cùng lắm chỉ có thể nói là ở mức không thường xuyên.
Việc tự do đánh bắt và đi lại của các nước khác vẫn
không bị cản trở. [35] Do đó, không yêu sách lịch sử nào có
thể thực hiện ở đây. Các đòi hỏi lý thuyết cần để
thoả mãn điều kiện (3) là không chắc chắn. Về cơ bản,
việc thảo luận xoay quanh vấn đề liệu các nước khác có
cần phải ngầm bằng lòng với việc thực hiện chủ quyền
của TQ trên Biển Đông hay liệu việc họ không có bất kỳ
phản ứng nào là đủ hay không. [36] Nhưng dù theo quan điểm
nào, cả hai dường như đều đồng ý rằng sự phản đối
của các nước khác có thể ngăn chặn việc thực thi chủ
quyền hòa bình và liên tục, và điều này đích xác là những
gì đã xảy ra đối với Biển Đông (xem phần IV-B).

Một số người đã vặn lại rằng tuyên bố phải được xem
xét dưới ánh sáng của các quy tắc luật quốc tế đã tồn
tại khi bản đồ đường chữ U được vẽ ra, tức là năm 1946
(cái gọi là học thuyết của luật liên thời gian [intertemporal
law]). [37] Điều này là khá khác thường, vì cách tiếp cận
này chỉ làm yếu thêm một luận điểm vốn đã không thuyết
phục. Vào thời điểm đó, bề rộng của lãnh hải hợp pháp
chỉ là 3 hải lý, khiến cho các yêu sách lịch sử càng thêm
quá đáng hơn. [38] Với thực tế rằng các vùng nước lịch
sử thường liên quan đến vịnh hoặc một dải lãnh hải, [39]
do đó không có gì ngạc nhiên khi nhận thấy một chuyên luận
gần đây về vùng nước lịch sử không thấy cần thiết để
đề cập tới yêu sách lịch sử của đường 9 chấm. [40] Hơn
nữa, ngay cả khi vì mục đích lập luận người ta nhắm tới
giả thuyết cho rằng TQ có thể thực hiện một yêu sách lịch
sử lớn chưa từng có (cái không có –quod non) thì cũng nên
nhớ rằng các yêu sách lịch sử không tạo ra một chế độ
liên quan tới mọi nước (erga omnes), mà là phụ thuộc vào sự
công nhận tường minh hay hàm ý trên tầm mức quốc gia như
một tác giả mới đây đã nhấn mạnh. [41]

Một lưu ý cuối cùng, việc sử dụng cách gọi "Biển Nam
Trung Hoa" không có ý trao chủ quyền lịch sử cho TQ. [42] Theo
luật pháp quốc tế, việc đặt tên đơn thuần một khu vực
không thiết lập chủ quyền đối với khu vực đó. [43] Tên
này đã bị các quốc gia có liên quan phản đối mạnh mẽ,
trong đó có Việt Nam. [44] Bản đồ nước ngoài dùng tên Biển
Nam Trung Hoa chỉ đơn giản là để phù hợp với cách gọi tên
do Tổ chức Thủy văn Quốc tế về Ranh giới các Đại dương
và biển công bố (1953), cách gọi tên đó "không có bất kỳ
ý nghĩa chính trị nào". [45] Vì thế việc lựa chọn từ ngữ
này về phần các nước phương Tây không có hàm ý nhìn nhận
chủ quyền của TQ. Ngoài ra, về mặt lịch sử người TQ cũng
dùng nhiều tên gọi khác nhau cho vùng biển này như là "Biển
Giao Chỉ" (đời Tống và Minh) và "Biển Nam" (đời Thanh
(1905), THDQ (1913) và CHNDTH (1952 và 1975)). [46]

<em>3. Những diễn biến mới</em>

Những diễn biến gần đây có thể làm cho sự thảo luận
dễ dàng hơn. Thật vậy, rất có thể là Đài Bắc đang từ
bỏ luận điểm lâu dài của họ. Các tuyên bố trong những năm
gần đây gợi cho thấy một sự thay đổi trong quan điểm của
họ, đưa chính sách của Đài Loan về vấn đề này cùng
hướng với chính sách của TQ. Việc đề cập tới quyền /
vùng nước lịch sử vắng đi trong khi trọng tâm dường như là
chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và lãnh hải của
chúng. [47] Ví dụ gần đây nhất là tuyên bố hồi tháng 5 năm
2009 phản đối các hồ sơ củaViệt Nam và Malaysia - Việt Nam
gửi cho CLCS:

Chính phủ THDQ nhắc lại rằng quần đảo Điếu Ngư Đài
(Diaoyutai), quần đảo Nam Sa (Trường Sa), quần đảo Tây Sa
(quần đảo Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa (Macclesfield) và quần
đảo Đông Sa (Pratas Islands) cũng như các vùng biển xung quanh là
cácvùng lãnh thổ và các vùng biển cố hữu của THDQ dựa trên
các quyền sở hữu chủ quyền không thể chối cãi biện minh
bằng các cơ sở lịch sử, địa lý và luật quốc tế. Theo
luật quốc tế, THDQ được hưởng tất cả các quyền và lợi
ích đối với các quần đảo nói trên, cũng như các vùng biển
xung quanh và đáy biển và lòng đất dưới đáy của chúng. [48]

<strong>B. Các yêu sách đảo</strong>

<em>1. Cách giải thích 1</em>: Tất cả các thể địa lý trong
đường chữ-U là lãnh thổ Đài Bắc/TQ

Người đề xuất trước nhất cách giải thích yêu sách lãnh
thổ này, nhà ngoại giao Indonesia Hasji Djalal, trong khi thừa nhận
tính chất "khó hiểu" của đường chữ U, đã nêu các tìm
hiểu của mình dựa trên việc phân tích cẩn thận các tuyên
bố của TQ, đặc biệt là những tuyên bố hình thành trong
cuộc họp của Tổ chức Hàng không dân dụng (ICAO) quốc tế
năm 1979. [49]

Smith ghi nhận rằng các thể địa lý giữa đại dương nằm
bên trong "các vạch phân bổ này" là những thể địa lý mà
TQ tuyên bố chủ quyền. Ông nhấn mạnh rằng các dấu vạch
này không gợi ra bất kỳ yêu sách ranh giới biển nào và sẽ
không có chút tác động nào đối với việc giải quyết tranh
chấp biên giới biển. [50]

Dzurek cũng tin tưởng rằng đường chữ U không phân ranh các
biên giới thuộc thẩm quyền trên biển của TQ, với việc tin
tưởng này dựa trên một lập luận về bản đồ học, cụ
thể là, sự kiện rằng các dấu vạch chia cắt Malaysia và
quần đảo Natuna đi chệch khỏi đường phân giới thềm lục
địa Indonesia-Malaysia đã thoả thuận. [51]

Như đã nói ở trên, việc thực hành nhà nước hiện nay của
Đài Bắc dường như chứng minh một sự chuyển đổi về phía
vị thế này.

Câu hỏi tinh tế về các đảo trong Biển Đông thuộc nước
nào, đòi hỏi phải phân tích nghiêm ngặt một ma trận sự
kiện phức tạp và ứng dụng các khái niệm pháp lý đa dạng
(chẳng hạn như phát hiện, ngày tới hạn [ngày mà các hành
động của các bên liên quan thực hiện sau ngày đó sẽ không
được toà xét đến-ND] , và tính hiệu quả), sẽ đưa chúng ta
quá xa khỏi chủ đề hiện tại. [52] Với điều này trong trí,
có lẽ thích hợp để nhấn mạnh ở đây rằng bản đồ TQ
không thể tạo thành một quyền sở hữu lãnh thổ hợp lệ
đối với các đảo cho từng bản đồ. Trong vụ Burkina Faso /
Mali, Tòa Công lý Quốc tế (ICJ) đưa ra lời giải thích "dứt
khoát"[53] về giá trị chứng cứ của bằng chứng bản đồ:

Các bản đồ chỉ đơn thuần tạo thành thông tin, chúng thay
đổi về tính chính xác theo từng trường hợp; và bằng sự
tồn tại của một mình chúng, chúng không có thể tạo thành
một quyền sở hữu lãnh thổ, nghĩa là, một tài liệu được
luật quốc tế phú cho hiệu lực pháp lý nội tại cho mục
đích xác lập các quyền lãnh thổ. Tất nhiên, trong một số
trường hợp, bản đồ có thể có được hiệu lực pháp luật
như vậy, nhưng trong những trường hợp như thế hiệu lực
pháp luật không phát sinh duy nhất từ giá trị nội tại của
chúng mà chính vì do bản đồ đó thuộc về loại biểu hiện
vật lý về ý muốn của một nước hoặc các nước có liên
quan. Ví dụ, trường hợp khi các bản đồ được kèm theo một
văn bản chính thức mà chúng là một phần không thể thiếu.
Ngoại trừ trường hợp xác định rõ ràng này, các bản đồ
chỉ là bằng chứng bên ngoài có độ tin cậy khác nhau hay
không đáng tin cậy, chúng có thể được sử dụng, cùng với
các bằng chứng khác loại gián tiếp, để thiết lập hoặc
tái thiết lại các sự kiện thật. [54]

Ý kiến nhân tiện (obiter dictum) này đã được trích dẫn một
cách đồng tình trong một loạt các trường hợp tranh cãi. [55]
Một số người đã đọc đoạn văn này như một bác bỏ
"dứt khoát" đối với khái niệm về quyền sở hữu theo
bản đồ. [56] Trong mọi trường hợp, Tòa án dường như còn
để mở một cửa sổ nhỏ[57] ("các bản đồ … kèm theo
một văn bản chính thức mà chúng tạo thành một phần không
thể thiếu'") đề cập đến nhưng công cụ như các hiệp
ước[58] và do đó không áp dụng được trong trường hợp này.

<em>2. Cách giải thích 2</em>: Đường chữ U là đường ranh
giới của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được tạo ra từ các
đảo ở Biển Đông

Một số học giả TQ dường như ủng hộ thuyết này, mặc dù
lý luận của họ hơi khác nhau và thường liên kết với
thuyết các quyền / vùng biển lịch sử. Triệu Lý Hải (Zhao
Lihai) viết:

Đường chín chấm chỉ rõ lãnh thổ và chủ quyền của TQ về
bốn quần đảo trong Biển Đông và khẳng định ranh giới
biển của các đảo của TQ ở Biển Đông mà các đảo này đã
được bao gồm trong phạm vi TQ ít nhất từ thế kỷ 15. Tất
cả các hải đảo và các vùng nước lân cận trong đường
biên giới phải thuộc thẩm quyền và kiểm soát của TQ.[59]

Kiều Vĩnh Khoa (Jiao Yongke) nêu:

Các khu vực nước bên trong đường biên giới ở Biển Đông
của TQ tạo thành các vùng nước mà TQ có quyền sở hữu lịch
sử đối với chúng, chúngtạo thành vùng đặc quyền kinh tế
đặc biệt, hay vùng đặc quyền kinh tế lịch sử của TQ, do
đó phải có địa vị tương tự như vùng đặc quyền kinh tế
theo các quy định của UNCLOS [Công ước LHQ về Luật Biển].
[60]

Cuối cùng, Trâu Khoa Uyển (Zou Keyuan) tin rằng TQ đã khẳng
định một tuyên bố lịch sử, nhưng tuyên bố này là "tương
đương với tình trạng pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế
hay thềm lục địa". [61]

Cách giải thích thứ hai này về các vạch liên tục là phụ
thuộc hoàn toàn vào cách đầu tiên. Nó suy từ nguyên tắc
"đất thống trị biển" mà cách tiếp cận này nhất thiết
phải dựa trên tiền đề là TQ có chủ quyền đối với các
thể địa lý ở Biển Đông. [62] Những người ủng hộ thuyết
này xem đường chữ U như một ranh giới trên biển nối các
ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa
phát sinh từ các đảo. Một loạt các câu hỏi nẩy lên. Vấn
đề gai góc đầu tiên liên quan đến việc phân định vùng
biển đó. Suy cho cùng, một nước ven biển không thể chỉ đơn
giản áp đặt việc phân giới lên các nước khác một cách
đơn phương. Sự hợp lệ của hành động như vậy sẽ phụ
thuộc vào sự tuân thủ các chuẩn mực luật pháp quốc tế.
[63]

Hơn nữa, còn có vấn đề là các thể địa lý biển có thể
tạo ra các khu vực biển (bất chấp ai là chủ sở hữu hợp
pháp) hay không? Tất cả phụ thuộc vào việc thể địa lý đó
có hội đủ điều kiện là đảo theo nghĩa pháp lý hay không.
Công ước 1982[64] có chứa một điều khoản cho mục đích này,
Điều 121, nêu như sau:

1. Một hòn đảo là một khu đất hình thành tự nhiên, bao quanh
bởi nước, nằm bên trên mặt nước khi triều cao.

2. Ngoại trừ như quy định tại mục 3, lãnh hải, vùng tiếp
giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của một
đảo được xác định theo quy định của Công ước này áp
dụng cho lãnh thổ đất liền khác.

3. Đá không thể duy trì sự cư trú của con người hay có đời
sống kinh tế của riêng mình sẽ không có vùng đặc quyền kinh
tế hay thềm lục địa. [65]

Do đó, các bề mặt có đất trong vùng Biển Đông sẽ tạo ra
thêm các vùng đặc quyền kinh tế (và thềm lục địa) nếu
chúng đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt nêu trên. [66] Do đó,
tính chất đảo của một loạt các tính năng hàng hải tại
Biển Đông đã bị rơi vào nghi vấn. Oude Elferink thận trọng
nêu rằng "ít ra có một số đảo trong Biển Đông có vùng
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các thể địa lý có
tính đảo khác gần như chắc chắn có thể được coi là rơi
vào vòng khống chế của Điều 121 (3) [đá]." [67] Nếu biết
ra rằng những bề mặt đất đó không phải là đảo, (ít
nhất là một phần) thì cách giải thích vùng đặc quyền kinh
tế hay thềm lục địa của đường chữ U là không có giá
trị pháp lý.

Về mặt này, rất đáng để đề cập ngắn gọn đến các
bước do TQ mới thực hiện ở cấp độ quốc tế ủng hộ di
sản chung của loài người bằng cách cố gắng bảo vệ khu
vực này chống lại sự xâm nhập không chính đáng của một
vài nước. [68] Về thực chất, các can thiệp này nhằm mục
đích chống lại đệ trình của Nhật Bản cho CLCS vể đảo
Okinotorishima ở Thái Bình Dương. [69] Tuy nhiên, hành động này
ngay lập tức bị phản ứng ngược đối với Biển Đông,
Indonesia đã chất vấn đường 9 chấm của TQ ngay chính trên cơ
sở của các cơ quan đại diện của đất nước này nêu ra
trước cuộc họp của các nước thành viên năm 2009 cũng như
trước Cơ quan quốc tế đáy biển, đó là, các mỏm đá không
thể duy trì sự cư trú của con người, đời sống kinh tế
riêng không tạo ra một vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục
địa.[70]

Dù các diễn biến có thể thú vị như thế nào, điều bắt
buộc này, mà đúng hơn là việc điều tra nặng thực tế và
kỹ thuật về tình trạng pháp lý chính xác của các thể địa
lý khác nhau ở Biển Đông theo Điều 121 (3) của Công ước năm
1982 vượt quá xa phạm vi nghiên cứu của chúng tôi.

<h2>III. CÁC YẾU TỐ LÀM SUY YẾU SỨC MẠNH CHỨNG MINH CỦA BẢN
ĐỒ</h2>

Theo một quy tắc đã được ghi nhận, [71] các thẩm phán quốc
tế được hưởng sự tự do đặc biệt rộng rãi trong việc
xác định trọng lượng của tài liệu chứng cứ. [72] Cảnh
giác về quyền tự do theo nguyên tắc này, chúng tôi đã xem xét
các tiền lệ[73] liên quan đến bản đồ để suy ra các yếu
tố[74] thường được thẩm phán hoặc trọng tài sử dụng
để đánh giá hiệu lực chứng minh của bằng chứng bản
đồ. Cần nhấn mạnh rằng trong khi làm như vậy, chúng tôi
dựa vào các tiền lệ liên quan cho đất liền lẫn trên biển
không phân biệt. Mặc dù đúng là các nguyên tắc quy định
việc thụ đắc những vùng biển và phân giới biển khác biệt
đáng kể so với những quy tắc làm cơ sở cho việc thụ đắc
và phân giới lãnh thổ, [75] câu hỏi cốt yếu này (chế độ
pháp luật áp dụng được) là tách biệt với câu hỏi về
bằng chứng (các bản đồ). Hơn nữa, học thuyết dường như
không có sự phân biệt có ý nghĩa giữa bản đồ đất liền
và bản đồ biển trong việc phân loại các quy tắc bằng
chứng, và ICJ đã trích dẫn các quy tắc pháp lý bổ sung trong
các vụ trên đất liền khi đánh giá các bản đồ do các bên
tham gia tranh chấp nộp vào có chứa một yếu tố liên quan
đến biển. [76]

Các yếu tố sau đây chứng tỏ sự thiếu sót về chứng cứ
vốn có của đường 9-chấm của TQ.

<strong>A. Cách tiếp cận thận trọng với chứng cứ bản
đồ</strong>

Như một quan sát bước đầu, cần chỉ ra rằng xu hướng chung
là các tòa và các toà án quốc tế không đưa ra các phán
quyết chỉ đơn thuần dựa trên các kết luận về bản đồ.
[77] Mặc dù những bản đồ chính xác phản ánh ý định của
các bên có thể thực sự tạo thành "một cơ sở vững chắc
và liên tục cho việc thảo luận" sự vắng mặt của chúng
"là một sự bất tiện đáng tiếc"', [78] chúng thường sẽ
đóng vai trò phụ trong việc làm vững thêm bằng chứng khác
cùng chỉ về một hướng. [79] Trở lại với quyết định cho
vụ Burkina Faso / Cộng hòa Mali:

Các bản đồ vẫn không thể có giá trị pháp lý hơn so là giá
trị của bằng chứng củng cố trong việc chuẩn nhận một
kết luận mà một tòa án đi đến bằng các phương tiện khác
không dính dáng tới các bản đồ, trừ khi các bản đồ thuộc
loại biểu hiện vật lý ý muốn của Nhà nước, tự chúng
không thể được xem như là bằng chứng về một đường biên
giới, vì trong trường hợp đó chúng sẽ hình thành một giả
định không thể bác bỏ, thật sự đồng nghĩa với quyền sở
hữu pháp lý. Giá trị duy nhất mà chúng có là bằng chứng
thuộc loại phụ hoặc khẳng định thêm, và điều này cũng có
nghĩa rằng chúng không thể được gán cho đặc tính của một
giả định không thể bác bỏ (juris tantum) như là để thực
hiện một sự đảo ngược trách nhiệm chứng minh. [80]

Lập trường thận trọng này đã được phát hiện và ghi nhận
theo ý kiến của học giả có thẩm quyền, [81] và trong một
số trường hợp đã được sự chấp thuận đáng kể. [82]

<strong>B. Các bản đồ không tương thích nhau</strong>

Khi trình bày các khẳng định mâu thuẫn lẫn nhau, sắp xếp
các sự kiện cho chỉnh trang đòi hỏi cố gắng lớn. [83] Khá
tương tự như vậy, khi các tài liệu bản đồ mâu thuẫn với
nhau, chúng sẽ mất đi sự tin cậy. [84] Như ICJ đã nêu trong
trường hợp Kasikili / Sedudu:

"dưới ánh sáng của sự không chắc chắn và không thống
nhất của tài liệu bản đồ được đệ trình, Tòa tự thấy
mình không thể rút ra kết luận từ những bằng chứng bản
đồ đưa ra trong trường hợp này." [85]

Các bản đồ với đường 9-chấm vẽ ra một hình ảnh Biển
Đông khác biệt với bằng chứng bản đồ và các tài liệu
khác của các nước ven biển trong khu vực. Sẽ khó khăn để
đạt được một sự hiểu biết chính xác ranh giới biển và
chính trị chỉ dựa trên việc đặt các bản đồ kế bên nhau.
Ngoài ra, các điều mà đường chữ U thể hiện cũng không
nhất quán. Như đã đề cập ở trên, đường chữ U trong bản
đồ ở TQ trước năm 1953 bình thường gồm có 11 vạch, [86]
trong khi các phiên bản sau này của đường nhiều chấm chỉ
gồm 9 đoạn. Một bản đồ điện tử trực tuyến gần đây
của Cục Khảo sát và Bản đồ Nhà nước TQ ngày 21 tháng 10
năm 2010 lại thêm một đoạn nữa vào phía Bắc giữa Đài Loan
và nhóm Ryukyu, trong đó có đảo Yonaguni là hòn đảo ở cực
tây, tất cả đều thuộc về Nhật Bản. [87] Không có lý do
nào được đưa ra cho việc loại bỏ bí ẩn hai vạch trong quá
khứ hay việc thêm vào vạch thứ 10 mới gần đây. [88]

<strong>C. Ký hiệu bản đồ rời rạc / nhập nhằng</strong>

Bản đồ không rõ ràng đã xuất hiện trong các tố tụng qua
trọng tài trong quá khứ. Trong vụ Trọng tài Eritrea / Yemen,
Eritrea đã nộp các bản đồ mô tả một đường chấm chấm
hỗ trợ yêu sách của mình. Tòa án đưa ra một tuyên bố ngắn
về phương pháp chứng cứ của bên liên quan:

Trong một số trường hợp Tòa án có thể không đồng ý với
các đặc tính của các bản đồ mà bên đưa ra mong muốn. Hơn
nữa, nếu không có chỉ dẫn cụ thể từ chính bản đồ, Tòa
án không muốn gán ý nghĩa cho các đường chấm thay cho màu
sắc hoặc thay cho việc ghi địa danh trên bản đồ. Các kết
luận trên cơ sở này do Eritrea thúc hối liên quan tới một số
bản đồ của họ không được chấp nhận. [89]

Đương nhiên,có sự tương tự của trường hợp này với
đường chữ U, sự thiếu vắng một chú giải (legend), và lời
lẽ bí ẩn chứa trong công hàm của TQ gửi Tổng thư ký LHQ đã
soạn sẵn. Sự lúng túng càng lớn hơn bởi vì cách mô tả
của đường 9-chấm sai lệch với các tiêu chuẩn vẽ bản đồ
quốc tế được Tổ chức Thủy văn Quốc tế đề ra đích xác
cho mục đích về tính rõ ràng. [90] Cần nhớ rằng TQ là một
thành viên của tổ chức quốc tế này. [91]

<strong>D. Ý định không rõ ràng</strong>

Như Thẩm phán Oda đã chỉ ra một cách đúng đắn trong ý kiến
riêng của ông trong vụ Kasikili / Sedudu, "một tuyên bố lãnh
thổ chỉ có thể được thực hiện với dấu hiệu rõ ràng
về ý định của chính phủ, dấu hiệu đó có thể được
phản ánh trong các bản đồ. Một bản đồ tự nó, nếu không
có bằng chứng hỗ trợ khác thì không thể biện minh cho một
tuyên bố chính trị" (nhấn mạnh thêm). [92] Trong trường hợp
này (in casu) tiêu chí về ý định rõ rệt về phía chính phủ
TQ không được đáp ứng một cách thoả đáng. Sự đa dạng
về cách giải thích đường chữ U do các học giả luật học
đưa ra cũng như công hàm mơ hồ của TQ đề ngày7 tháng 5 năm
2009 là chứng cứ cho kết luận này. Bên cạnh các cấu trúc
câu khó hiểu, các từ ngữ được sử dụng trong công hàm, cụ
thể là "vùng biển có liên quan" và "vùng biển tiếp
giáp" là đặc biệt khó hiểu vì chúng không xuất hiện bất
cứ chỗ nào trong UNCLOS. Sự mơ hồ có vẻ như cố tình làm
trầm trọng thêm, vì TQ vẫn chưa thông qua luật tạo cho
đường chữ U bất kỳ hiệu lực trong trật tự luật pháp
trong nước. [93] Ngay cả khi người ta có thể bới ra các ý
định đằng sau bản đồ này, ý nghĩa pháp lý của chúng không
nên được đánh giá cao. Trở lại bài viết nói trên của
Thẩm phán Oda:

Một bản đồ được sản xuất bởi một cơ quan chính phủ có
liên quan đôi khi có thể chỉ ra vị thế của chính phủ liên
hệ đến lãnh thổ hay chủ quyền của một khu vực cụ thể
hay đảo. Tuy nhiên, một mình sự kiện đó không có tính quyết
định về tư cách pháp lý của khu vực hay đảo đang có vấn
đề. Đường ranh giới trên những bản đồ như vậy có thể
được hiểu như là thể hiện cho yêu sách tối đa của nước
có liên quan, nhưng không nhất thiết biện minh cho yêu sách đó.
[94]

<strong>E. Thiếu tính trung lập</strong>

Khi bản đồ được vẽ lên bởi một chuyên gia khách quan, giá
trị chứng minh của nó có xu hướng tăng lên. [95] Trái lại,
các tài liệu bản đồ được sản xuất theo chỉ thị của
một trong các bên tranh chấp sẽ được xét với sự nghi ngờ
nhiều hơn, và do đó sự phụ thuộc vào tài liệu như vậy
chỉ là ngoại lệ không phải là quy tắc. [96] Các trọng tài
trong vụ Trọng tài kênh Beagle nhận xét như sau:

Trong khi các bản đồ đến từ các nguồn khác hơn những bản
đồ của các bên không thuộc vụ đó được coi là nhất
thiết phải chính xác hơn hoặc khách quan hơn, trước nhất
(prima facie) chúng có tình trạng độc lập, điều này có thể
tạo cho chúng giá trị lớn trừ khi chúng chỉ là các bản sao
chép của - hoặc dựa trên bản gốc xuất phát từ - các bản
đồ do một trong các bên vẽ ra, hoặc giả được xuất bản
trong một nước có liên quan, hoặc thay mặt cho, hoặc theo yêu
cầu của một Bên, hoặc rõ ràng có động cơ chính trị. Nhưng
chỗ nào mà tư cách độc lập của chúng không để lộ cho
việc nghi ngờ về một hoặc các cơ sở nêu trên, chúng có ý
nghĩa tương đối cho việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ
liên hệ trong đó chúng cho thấy sự tồn tại của một sự
hiểu biết chung theo một nghĩa nào đó, như về cách giải
quyết đó là gì, hoặc, chúng mâu thuẫn ở đâu, sự thiếu
vắng của bất kỳ sự hiểu biết chung như vậy. [97]

Việc thiếu tính trung lập là rõ rành rành đối với đường 9
chấm. Như đã thảo luận trong phần II-A, lịch sử của
đường chữ U có thể được truy ngược về một ủy ban nội
bộ do chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thành lập để cập nhật
các bản đồ TQ và tái khẳng định vị thế của họ. Một cơ
quan chính phủ được thành lập và phân bổ nhân viên đơn
phương như thế khó có thể được coi là khách quan đối với
các nước có liên quan khác trong khu vực Biển Đông. Không nên
quên rằng các nhà vẽ bản đồ có lương tâm vẫn có thể bị
sử dụng cho các mục đích lừa đảo:

Một nhà làm bản đồ … có thể được sử dụng để biểu
lộ khẳng định của một nước cụ thể như nước của chính
ông ta về kích cỡ đầy đủ miền lãnh thổ của nước đó
là gì, bất kể tính đúng đắn của khẳng định này và không
có việc doạ dẫm rằng việc vẽ đó mô tả phạm vi của một
yêu sách chứ không phải là vị trí của một ranh giới được
chấp nhận. Qua việc sao chép tiếp theo và việc vẽ lại của
các nhà làm bản đồ thiếu phối kiểm không những các sai sót
tiếp tục tồn tại mà sự kiện về việc lặp lại có xu
hướng chuyển cho chúng sự thừa nhận pháp lý qua việc in ra
một số lượng lớn bản đồ thống nhất với lời khai của
họ. [98]

<strong>F. Không chính xác về kỹ thuật</strong>

Trong tiểu luận về giá trị chứng cứ của bản đồ, De
Visscher đưa ra các tiêu chuẩn sau đây: "những bảo đảm về
tính chính xác nội tại của bản đồ … sự chính xác liên
quan tới các điểm đang tranh chấp". [99] Theo Brownlie, "giá
trị chứng minh mà một bản đồ có tương ứng với chất
lượng kỹ thuật của nó".[100] Luật về án lệ cũng chỉ ra
đòi hỏi độ chính xác kỹ thuật trong bản đồ. [101] Trong
vụ đảo Palmas, trọng tài duy nhất Max Huber đã viết rằng:
"điều kiện đầu tiên đòi hỏi của các bản đồ phục vụ
với tư cách là bằng chứng đối với những điểm pháp lý là
độ chính xác địa lý của chúng." [102]

ICJ phát biểu rằng:

Trọng lượng thực tế được phân cho các bản đồ đem làm
bằng chứng phụ thuộc vào một loạt các cân nhắc. Một số
trong các cân nhắc này liên quan đến độ tin cậy kỹ thuật
của các bản đồ. Điều này đã nâng lên đáng kể, đặc
biệt là do những tiến bộ đạt được qua không ảnh và ảnh
vệ tinh từ những năm 1950. Nhưng kết quả chỉ mang tới tính
chất trung thực hơn cho bản đồ và sự ăn khớp ngày càng
chính xác giữa bản đồ và không ảnh. Thông tin xuất phát từ
sự can thiệp của con người, chẳng hạn như tên của các
địa điểm và các thể địa lý (địa danh học) và việc miêu
tả biên giới và ranh giới chính trị khác, do đó không khả
tín hơn. Tất nhiên, độ tin cậy của các thông tin địa danh
học cũng tăng lên nhở kiểm chứng thực địa, mặc dù ở
mức độ thấp hơn, nhưng theo ý kiến của các nhà vẽ bản
đồ, sai sót vẫn còn phổ biến trong biểu thị các đường
biên giới, nhất là khi thể hiện các địa danh này này ở các
khu vực biên giới khó tiếp cận. [103]

Dưới ánh sáng của những quan điểm này, sự ra đời của
công nghệ hiện đại có thể tăng truy đòi của các thẩm phán
đối với bằng chứng bản đồ. Một trường hợp nổi bật
về điểm này là ý kiến tư vấn của ICJ 2004 đối với bức
tường của Israel, trong đó họ dựa (một phần) vào một bản
đồ điện tử được đăng trên trang web Bộ Quốc phòng Israel
để xác định các tuyến đường hiện tại và tương lai của
các bức tường trong vùng lãnh thổ Palestine. [104] Ngược lại,
các bản đồ TQ không có vẻ có thể đáp ứng các tiêu chuẩn
kỹ thuật nghiêm ngặt. Mặc dù đường nhiều chấm của TQ
thường đi theo đường đẳng sâu 200 mét (đường nối các
điểm có độ sâu 200m với nhau), cho đến nay nó chưa bao giờ
được phân ranh giới chính xác, do đó thiếu các toạ độ
địa lý chính xác. [105] Ngoài ra, có vẻ có một số sự mâu
thuẫn nhỏ giữa các tài liệu bản đồ biển của TQ: các
điểm cuối của các vạch tạo nên đường chữ U thay đổi
(mức khác biệt chạy từ 1 đến 5nm). [106] Nhưng ngay cả vị
trí của chính các vạch đôi khi có sai biệt rõ ràng với
những vạch trên bản đồ ở Phụ lục I. [107] Hơn nữa, vì nó
liên quan các đường trên biển, ảnh vệ tinh cũng không thật
hữu ích.

Một yếu tố bổ sung góp phần vào tính không chính xác của
bản đồ TQ là tỉ lệ của nó nhỏ quá mức. ICJ đã than
phiền các bản đồ vẽ với tỉ lệ không đủ lớn. Một ví
dụ điển hình có thể tìm thấy trong Tranh chấp đất, đảo
và biên giới biển:

Honduras đã vẽ một bản đồ thứ hai, năm 1804, cho thấy vị
trí của các giáo xứ của tỉnh San Miguel trong Tổng Giáo Phận
Guatemala. Tuy nhiên, tỉ lệ của bản đồ này không đủ lớn
để có thể xác định xem đoạn cuối của sông Goascoran là
đoạn do El Salvador khẳng định, hoặc đoạn do Honduras khẳng
định. [108]

Các vấn đề tương tự cũng đã được trình bày trước tòa
trọng tài. Ví dụ, Uỷ ban ranh giới Eritrea-Ethiopia cho rằng:
"hơn nữa, nhiều bằng chứng về bản đồ theo một tỉ lệ
quá nhỏ, hoặc quá thiếu chi tiết đến nỗi nó chỉ có thể
được coi là mơ hồ trong lĩnh vực này." [109]

Cuối cùng, cần lưu ý rằng các bản đồ TQ không chứa bất
kỳ chỉ dấu nào về mốc quy chiếu (tức là một quy chiếu
sử dụng trong trắc địa để đo đạc) được sử dụng, đó
có vẻ là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá độ
chính xác kỹ thuật của bất kỳ ranh giới biển nào. [110]

<h2>IV. BẢN ĐỒ KHÔNG BỊ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC PHẢN
ĐỐI</h2>


Ngay cả khi ta chấp nhận rằng đường 9 chấm là một mô tả
sai lầm của hiện thực thì điều đó không có nghĩa là nó có
thể được gạt sang một bên ngay lập tức. Điều này đã
được làm sáng tỏ trong vụ kênh Beagle:

tầm quan trọng của bản đồ có thể không nằm ở chính bản
đồ mà trên lý thuyết nó có thể không chính xác mà ở thái
độ biểu lộ - hoặc hành động thực hiện - đối với bản
đồ đó của các bên liên quan hoặc của các đại diện chính
thức của họ. [111]

Các thẩm phán trong vụ Đền Preah Vihear đã rõ rệt hơn, gửi
một tín hiệu cảnh báo rõ ràng về những ảnh hưởng tiềm
năng của việc sơ suất trong khi đối mặt với sự quyết
đoán về bản đồ:

Rõ ràng rằng các trường hợp như vậy đòi hỏi một phản
ứng nào đó, về phía nhà chức trách Thái Lan trong một thời
hạn hợp lý, nếu họ muốn tỏ sự không đồng ý với bản
đồ hoặc nếu có bất kỳ câu hỏi nghiêm trọng nào phải nêu
ra liên quan đến nó. Họ đã không làm như vậy, hoặc là sau
đó hoặc trong nhiều năm, và do đó phải được xem là đã
mặc nhận. Qui tacet consentire videtur si loqui debuisset ac potuisset.
[112] (Ai im lặng thì dường như là đồng ý, nếu anh ta biết
nói đáng lẽ anh ta đã phải nói).

Một ví dụ của mối liên kết giữa bản đồ và sự mặc
nhận được Ủy ban Ranh giới Eritrea-Ethiopia nêu lại gần đây:
"một bản đồ có thể có chút trọng lượng pháp lý cho
từng cái (per se): nhưng nếu bản đồ là thỏa đáng về mặt
bản đồ học trong các khía cạnh có liên quan, nó có thể, có
vai trò là căn cứ thực tế , có ý nghĩa pháp lý cao, ví dụ
như cho hành vi mặc nhận."[113]

Tất nhiên, các kiểu cách thực tế của các vụ nêu trên là
hoàn toàn khác biệt với trường hợp mà chúng ta đang phải
đối mặt, tao ra tranh cãi về việc liệu các tiền lệ đó có
thể áp dụng được ở đây không. Trong trường hợp này,
chúng ta đang đối phó với một đường biên giới biển có
mục đích xấu, việc hình thành nó, theo lời của ICJ, là
"một vấn đề có tầm quan trọng lớn và việc thỏa thuận
không phải là dễ dàng giả định trước". [114] Hơn nữa,
theo quan sát của Strupp:

Yêu sách hình chữ U lạ lùng này là quá bất thường và quá
đáng vượt ngoài thực tế trong các thập niên từ 30 tới 60
đến nỗi không thể hiểu được theo cách có "sự mặc nhận
đối với yêu sách bản đồ" một công nhận (ngầm) của
cộng đồng nước ngoài về những tham vọng "cực kỳ bất
thường", bằng cách áp dụng quy tắc qui tacet consentire videtur
si loqui debuisset ac potuisset hoặc quy tắc khác, có thể nghiêm
ngặt đi đến xem xét. [115]

Strupp cũng nhận xét rằng:

Trong những trường hợp hoàn toàn quá đáng kiểu như "tuyên
bố chủ quyền mặt trăng" của "đường chữ U" ở Biển
Đông rõ ràng không tồn tại một cơ sở hợp lý nào cả cho
một độ "siêu nhạy cảm" to lớn về phía các nước phải
đối mặt với các yêu sách bản đồ đối địch về mặt
"mặc nhận". [116]

Tuy nhiên, cần thận trọng khi áp dụng một phương pháp tiếp
cận trung gian. Sau khi xem xét một bộ phận lớn về việc thực
hành nhà nước, trong công trình có ảnh hưởng của ông về
quyền sở hữu lịch sử, Blum đi đến kết luận sau đây:

Các trường hợp phản đối mới đây chống lại "yêu sách
bản đồ" dường như chỉ ra rằng các quốc gia, trên thực
tế, "luôn giữ một cái nhìn cảnh giác đối với các bản
đồ do các quốc gia văn minh xuất bản " … Nói chung, có vẻ
nổi lên rằng các nước sẽ bị đổ lỗi cho sự hiểu biết
về các hoạt động lập pháp trong nước của nhau cũng như các
hành vi khác được thực hiện theo thẩm quyền của họ, và
lời biện hộ về sự không biết sẽ chỉ được chấp nhận
trong những trường hợp đặc biệt nhất.Do đó những nước
mong muốn bảo toàn quyền của mình được khuyến cáo nên quan
tâm theo dõi sâu sát các hành vi chính thức của các nước khác
và đưa ra phản đối - thông qua các phương tiện hợp pháp
được luật quốc tế công nhận – nếu họ cảm thấy rằng
quyền của mình đã bị ảnh hưởng, hoặc có thể bị ảnh
hưởng bởi những hành vi đó. [117]

<strong>B. Phản đối / Thiếu sự mặc nhận</strong>

Giả sử rằng triển vọng thừa nhận ngầm lồ lộ hiện ra,
các nước ven biển được yêu cầu phải bày tỏ sự không
chấp nhận chính sách đường chữ U và ý đồ cơ bản của TQ.
Một số học giả TQ đã cáo buộc rằng buộc cộng đồng
quốc tế đã không lên tiếng về sự bất đồng của mình
để ngăn chặn việc củng cố tham vọng của TQ ở Biển Đông:

Khi tuyên bố đường 9 điểm, cộng đồng quốc tế không lúc
nào bày tỏ sự bất đồng ý kiến. Không nước lân cận nào
đã đưa ra một phản đối ngoại giao. Im lặng khi đối mặt
với một tuyên bố công khai có thể nói có nghĩa là mặc
nhận, và có thể khẳng định rằng các đường chấm chấm
đã được công nhận trong nửa thế kỷ. Tuy nhiên, trong những
năm gần đây một số nước Đông Nam Á, đã tham gia vào tranh
chấp chủ quyền Biển Đông, mới đặt ra câu hỏi về tình
trạng pháp lý của đường 9 chấm. [118]

Triệu Quốc Khải (Zhao Guocai) cho rằng:

"Từ lúc tuyên bố đường 9- chấm, cộng đồng quốc tế vào
thời điểm đó đã không đưa ra bất kỳ sự không bằng lòng
nào. Các nước liền kề cũng không đưa ra bất kỳ phản đối
ngoại giao nào đối với đường 9-chấm. Những điều này quy
thành một sự mặc nhận." [119]

Sự mặc nhận quốc tế này rất đáng ngờ. [120] Lấy Việt Nam
như một trường hợp về điều này, chúng ta có thể thấy
rằng hai phát biểu này là không thuyết phục. Các ví dụ bao
gồm:

1. Một phản đối đối với các đòi hỏi của TQ qua việc
tuyên bố rằng rằng họ sẽ "không công nhận bất kỳ cái
gọi là 'lợi ích lịch sử' nào, điều đó là không phù
hợp với luật pháp quốc tế và vi phạm chủ quyền và quyền
chủ quyền của Việt Nam và lợi ích hợp pháp của Việt Nam
trong các khu vực biển và thềm lục địa của họ trong Biển
Đông".[121]

2. Một tuyên bố đáp trả công hàm của TQ năm 2009:

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần của lãnh thổ
Việt Nam. Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với các
quần đảo này. Do đó, yêu sách của TQ đối với các đảo và
vùng biển lân cận ở Biển Đông như thể hiện trong bản đồ
kèm Công hàm CLM/17 / 2009 và CLM/18/2009 là không có cơ sở pháp
lý, lịch sử, thực tế, do đó là không có giá trị và vô
hiệu. [122]

3. Một yêu cầu loại bỏ dữ liệu khỏi dịch vụ bản đồ
trực tuyến của TQ mô tả đường chữ U (nêu trên) trong hai
dịp. [123]

4. Các phản kháng gần đây chống lại sự can thiệp của TQ
với tàu thuyền Việt Nam, trong đó tính hợp pháp của đường
9 chấm rõ ràng bị bác bỏ. [124]

5. Nhân dịp buổi họp cuối cùng của các nước thành viên
UNCLOS, Việt Nam đã nhắc lại phản đối của mình đối với
đường 9 chấm theo mục 14 của Chương trình nghị sự. [125]

Cách ứng xử như vậy phải tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý
quốc tế cần thiết để làm các hành vi phản đối thấm
đầy hiệu lực pháp lí khiến cho đường chữ U không thể
được sử dụng để chống lại nước phản đối. Tuy nhiên,
có vẻ như không khả thi khi áp dụng các tiêu chí này cho các
phản kháng trước đây đối với đường chữ U trong điều
kiện vị thế mơ hồ của TQ đối với bản đồ và những gì
nó thực sự muốn nói. Xét cho cùng, chỉ có thể hành động
bằng cách phản đối một khi nước đối lập đã thực hiện
một tuyên bố chính thức và dễ hiểu. Ý tưởng này được
phản ánh trong khái niệm về "tai tiếng"của hành động
hoặc sự kiện đang có vấn đề. [126] Chúng tôi đã bàn bạc
chi tiết các đặc điểm bí ẩn của đường 9 chấm và những
ảnh hưởng về ý định không rõ ràng về phía TQ. Vì vậy,
chỉ có thể phản đối đối với những khẳng định thấy
được và dễ hiểu về đường chữ U trong các trường hợp
hiếm hoi mà chúng xảy ra (ví dụ, công hàm TQ gửi cho Tổng Thư
ký LHQ năm 2009). Theo thời gian, các tiêu chí theo sau dựa trên
các tiêu chí trước trước đây. Theo lập luận, nếu tính rõ
ràng của dòng-9-chấm đã được xác lập thì bản chất của
sự mặc nhận như thế có xu hướng được chấp nhận chỉ sau
một thời gian dài thụ động.[127] Ví dụ dễ thấy là các vụ
tranh chấp về Đánh bắt cá và Quyền qua lại trên Lãnh thổ
Ấn Độ trong đó ICJ suy ra sự mặc nhận từ trên 60 và 125 năm
im lặng, tương ứng. [128] Đòi hỏi về ý định rõ ràng cũng
đã được hoàn thành trong các tuyên bố của Việt Nam rõ ràng
nhằm mục đích ngăn chặn cái đòi hỏi trở thành quyền lợi
pháp lý mới của TQ. Ngoài ra, tiêu chí rằng phản đối phải
nhất quán và không bị gián đoạn có thể nói là đã được
tuân thủ, như minh họa của nội dung của các ghi chú nói về
phản đối. [129]

<h2>KẾT LUẬN</h2>

Trong đóng góp này, chúng tôi đã cố gắng để khám phá một
số những điều không chắc chắn về pháp lý che đậy các
vạch trên bản đồ Biển Đông của TQ. Phân tích của chúng
tôi đã đưa đến kết luận rằng đường chữ U, cho dù
được giải thích như là một thể hiện lãnh thổ hoặc biển,
rõ ràng thiếu tính chính xác, và do đó đặt ra nhiều vấn
đề nếu vẫn giữ như là một phần của chính sách chính
thức của TQ cũng như của Đài Loan. Nếu bộ phận đáng kể
luật các án lệ là điều phải đi theo, bản đồ thể hiện
với đường 9 chấm sẽ không có giá trị như là tài liệu
chứng cứ trong một vụ xử giả thuyết. Trong khi có thể thấy
rằng một số người nhìn ra một xu hướng mới nổi lên tạo
ảnh hưởng cho sự dễ dãi đối với bản đồ, [130] chúng tôi
sẽ cho rằng các luận điệu như vậy là khá vội vã. Các bản
đồ không phải là các bản đồ kèm theo các hiệp ước quốc
tế sẽ được tiếp nhận một cách thận trọng dễ hiểu và
sẽ được đánh giá theo chức năng của chúng vẫn là điều
không thay đổi.

Nhưng có một vấn đề cơ bản hơn ở đây. Duy trì một tuyên
bố đơn phương trong một khoảng thời gian kéo dài mà không xem
xét tới quyền lợi của các bên quan tâm khác là đồng nghĩa
với việc áp đặt một việc đã rồi (fait accompli). Điều này
sẽ vuột mất đi khi đối mặt với luật quốc tế, luật này
ngăn không cho các nước mạnh yêu sách "giành phần trọn"
(lion's share) gây thiệt hại cho các nước láng giềng yếu
hơn. [131] Việc bám chặt vào đường 9 chấm cũng là lỡ nhịp
với chế độ chính phủ hiện tại, [132] bao gồm các hội
thảo[133] và (đề xuất) hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường và sự đa dạng sinh học. [134] Một giải pháp thực
dụng khá thịnh hành trong những năm qua là tìm cách đạt
được sự phát triển chung các tài nguyên. Điều này dính dáng
tới việc gác các tranh chấp lãnh thổ và biển sang một bên
và ký kết các thỏa thuận tạm thời "mà không làm ảnh
hưởng" đến kết quả phân định cuối cùng. [135] May mắn
thay, TQ, Đài Bắc, và các diễn viên khác trong khu vực đã sử
dụng các cơ chế đa phương này và tiếp tục làm như vậy
một cách hiệu quả. Chúng tôi hy vọng rằng các nước có tranh
chấp từ bỏ các khẳng định cực kỳ quyết đoán về mặt
bản đồ và lo tập trung năng lượng của họ vào các kết
quả các bên cùng có lợi liên quan đến Biển Đông trên cơ
sở UNCLOS.

<strong>Người dịch: Phan Văn Song</strong>

<strong>Hiệu đính: Lê Trung Tĩnh</strong>

--------------

<strong>Erik Franckx</strong>: Research Professor, President of the
Department of International and European Law and Director of the Centre for
International Law, Vrije Universiteit Brussel; Member of the Permanent Court
of Arbitration. The substance of this article was prepared for the Second
International Workshop organized by the Diplomatic Academy of Vietnam and the
Vietnam Lawyers Association, entitled ''The South China Sea: Cooperation
for Regional Security and Development'', 10–12 November 2010, Ho Chi
Minh, Vietnam. This article is a revised version of the paper—''Dotted
Lines in the South China Sea: Fishing for (Legal) Clarity''—presented
at the Workshop.

<strong>Marco Benatar</strong>: Doctoral Fellow, Research
Foundation—Flanders (FWO). Member of the Department of International and
European Law and the Centre for International Law, Vrije Universiteit
Brussel.

[1] LI Jinming and LI Dexia, ''The Dotted Line on the Chinese Map of the
South China Sea: A Note'' (2003) 34 Ocean Development and International
Law 287 at 289. Trong một công hàm gửi cho Tổng thư ký Liên Hiệp
Quốc, Trung Quốc tuyên bố rằng "kể từ [sic] năm 1930, chính
phủ Trung Quốc đã đưa ra công khai nhiều lần [sic] phạm vi
địa lý của quần đảo Nam Sa của Trung Quốc và tên các thành
phần của nó", nhưng họ không đề cập đến các hoạt
động bản đồ. Vì vậy, trong khi điều này có thể có nghĩa
là Trung Quốc chính thức chuẩn nhận các hoạt động đặt tên
của Ủy ban, không thể suy ra các bản đồ cũng được chuẩn
nhận. Xem People's Republic of China, ''Letter to the
Secretary-General of the United Nations—CML/8/2011'' (14 April 2011),
online: UN
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2011_re_phl_e.pdf.

[2] Zou Keyuan đề cập đến sự tồn tại của một đường ở
Biển Đông có sớm hơn được nhà vẽ bản đồ TQ Hu Jinjie
(Hồ Tấn Tiếp) vẽ vào năm 1914 và tiếp theo vào những năm
1920 và năm 1930. Đường như vậy cũng có thể tìm thấy trong
một số tập bản đồ từ thời kỳ này. Tuy nhiên, cần phải
nhấn mạnh rằng:

1. Những phiên bản sớm hơn này có trước bản đồ chính
thức đầu tiên mô tả "đường chữ U".

2. Các tập bản đồ nói trên đã được biên soạn bởi các
cá nhân, do đó hành động theo khả năng cá nhân của họ.
Xem ZOU Keyuan, ''The Chinese Traditional Maritime Boundary Line in the
South China Sea and its Legal Consequences for the Resolution of the Dispute
over the Spratly Islands'' (1999) 14 International Journal of Marine and
Coastal Law 27 at 32–33.

[3] In lại trong HU Nien-Tsu Alfred, ''South China Sea: Troubled Waters
or a Sea of Opportunity?'' (2010) 41 Ocean Development and International
Law 203 at 208.

[4] WANG Kuan-Hsiung, ''The ROC's Maritime Claims and Practices with
Special Reference to the South China Sea'' (2010) 41 Ocean Development
and International Law 237 at 248.

[5] SHEN Jianming, ''China's Sovereignty over the South China Sea
Islands: A Historical Perspective'' (2002) 1 Chinese Journal of
International Law 94 at 129, note 122.

[6] Li and Li, supra note 4 at 290. Quan điểm này mâu thuẫn với Zou
Keyuan, ông cho rằng hai vạch này bị xoá vào những năm 1960.
XemSee Zou, supra note 5 at 34–35.

[7] Malaysia-Socialist Republic of Viet Nam, ''Joint Submission to the
Commission on the Limits of the Continental Shelf Pursuant to Article 76,
paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 in
Respect of the Southern Part of the South China Sea, Executive Summary''
(May 2009), online: UN
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf.
Như chỉ ra trong thư của TTK LHQ, hồi đáp đã nhận, bản đệ
trình chung này đã nộp ngày 6/5/2009, xem trực tuyến: UN
http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mysvnm_clcs33_2009e.pdf.

[8] Socialist Republic of Vietnam, ''Submission to the Commission on the
Limits of the Continental Shelf Pursuant to Article 76, paragraph 8 of the
United Nations Convention on the Law of the Sea 1982, Partial Submission in
Respect of Vietnam's Extended Continental Shelf: North Area (VNM-N),
Executive Summary'' (April 2009), online: UN
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf.
Như chỉ ra trong thư của TTK LHQ, hồi đáp đã nhận, bản đệ
trình chung này đã nộp ngày 7/5/2009, xem trực tuyến: UN
http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm_clcs37_2009e.pdf.

[9] United Nations Convention on the Law of the Sea, 10 December 1982, 1833
U.N.T.S. 397 (entered into force 16 November 1994), online: UN
http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/unclos_e.pdf
[UNCLOS], art. 76(8).

[10] Do Malaysia và Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 14 tháng 10, 1996
và 25 tháng Bảy năm 1994, tương ứng, hạn chót nộp hồ sơ
của họ bình thường theo Phụ lục II của nó, Điều. 4, phải
là năm 2006 và 2004, tương ứng. Nhưng vì nhiều nước gặp
phải khó khăn trong việc đáp ứng hạn chót này của Phụ lục
II, vào năm 2001 các nước thành viên UNCLOS đã quyết định sử
dụng một điểm khởi đầu để xác định thời hạn này:
ngày thông qua CLCS Hướng dẫn Khoa học và Kỹ thuật đã trở
thành điểm khởi đầu của thời kỳ 10 năm thay vì ngày UNCLOS
bắt đầu có hiệu lực. Xem Decision Regarding the Date of
Commencement of the Ten-Year Period for Making Submissions to the Commission
on the Limits of the Continental Shelf Set Out in Article 4 of Annex II to
the United Nations Convention on the Law of the Sea, Meeting of State
Parties, UN Doc. SPLOS/72 (2001). Đối với tất cả các nước mà
UNCLOS đã có hiệu lực trước ngày 13/5/1999, gồm cả Malaysia
and Vietnam thì ngày 12 /5/2009 trở thành ngày hạn chót mới.

[11] Bản đồ này được in lại trong Phụ lục Iở cuối bài
viết này.

[12] Xem thêm NGUYEN Hong Thao, ''Vietnam and Maritime
Delimitation'' in Ramses AMER và ZOU Keyuan, eds., Conflict Management
and Dispute Settlement in East Asia (Farnham, Burlington: Ashgate, 2011), 171
at 184, ông lưu ý rằng đây là dịp đầu tiên CHNDTH bày tỏ
vị thế chính thức của họ về đường 9 chấm.

[13] People's Republic of China, ''Letter to the Secretary-General of
the United Nations—CML/17/2009'' (7 May 2009), online: UN
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf.;
People's Republic of China, ''Letter to the Secretary-General of the
United Nations—CML/18/2009'' (7 May 2009), online: UN
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf
. The map was attached to these letters. It was also reproduced in the
following Chinese sources: (2009) 9 China Oceans Law Review at 200 and 202
and ZHU Lijiang, ''Chinese Practice in Public International Law:
2009'' (2009) 9 Chinese Journal of International Law at 622.

[14] Paracel Islands (quẩn đảo Hoàng Sa).

[15] Spratly Islands (quẩn đảo Trường Sa).

[16] Macclesfield Bank (bãi cạn Macclesfiled).

[17] Pratas Islands (quẩn đảo Pratas).

[18] Hu, supra note 6 at 204–6.

[19] See Erik FRANCKX, ''American and Chinese Views on Navigational
Rights of Warships'' (2011) 10 Chinese Journal of International Law 187
at 196, với tài liệu tham khảo thêm ở chú thích 48 chỉ ra
rằng một số học giả phương Tây có khuynh hướng xem nó là
sự chuẩn nhận cho yêu sách về quyền sở hữu lịch sử, trong
khi các học giả khác nghĩ ngước lại căn cứ trên điều mà
việc làm rõ không có nêu lên, tức là bất kỳ quy chiếu cụ
thể nào tới vùng nước lịch sử.

[20] Republic of the Philippines, ''Letter to the Secretary-General of
the United Nations—No. 000228'' (5 April 2011), online: UN
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf.
Vietnam issued a response to both the Philippines and the PRC, yet refrained
from giving any interpretation to these terms. Vietnam, ''Letter to the
Secretary-General of the United Nations—77/HC-2011'' (3 May 2011),
online: UN
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/vnm_2011_re_phlchn.pdf.

[21] People's Republic of China, supra note 4.

[22] People's Republic of China, ''Foreign Ministry Spokesperson Hong
Lei's Regular Press Conference'' (7 July 2011), online: Ministry of
Foreign Affairs http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t838221.htm;
People's Republic of China, ''Foreign Ministry Spokesperson Hong
Lei's Regular Press Conference'' (28 June 2011), online: Ministry of
Foreign Affairs http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t835066.htm;
People's Republic of China, ''Foreign Ministry Spokesperson Hong
Lei's Regular Press Conference'' (21 June 2011), online: Ministry of
Foreign Affairs http:// www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t833157.htm; ZHU
Lijiang, ''Chinese Practice in Public International Law: 2010''
(2011) 10 Chinese Journal of International Law 427 at 438.

[23] . Trong nhiều dịp trước công hàm 2009,TQ tái khẳng định
chủ quền ''không thể tranh cãi (indisputable)'' or
''không thể chối cãi (undeniable)" của họ đối với quần
đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Xem ZHU Lijiang, ''Chinese Practice in
Public International Law: 2009'' (2010) 9 Chinese Journal of
International Law 607 at 612; ZHU Lijiang, ''Chinese Practice in Public
International Law: 2008'' (2009) 8 Chinese Journal of International Law
493 at 504–5; ZHU Lijiang, ''Chinese Practice in Public International
Law: 2007 (I)'' (2008) 7 Chinese Journal of International Law 485 at
498–9; ZHU Lijiang, ''Chinese Practice in Public International Law:
2006 (II)'' (2007) 6 Chinese Journal of International Law 711 at 760;
CHEN Qiang, ''Chinese Practice in Public International Law: 2004
(II)'' (2005) 4 Chinese Journal of International Law 607 at 630–1; CHEN
Qiang, ''Chinese Practice in Public International Law: 2003 (II)''
(2004) 3 Chinese Journal of International Law 591 at 598–9; PRC Ministry of
Foreign Affairs, ''China's Indisputable Sovereignty over the Xisha and
Nansha Islands'', (1980) 7 Beijing Review 15, discussed in Otani Yoshio,
''À qui appartient l'archipel des Spratley? Un point de vue sur les
revendications chinoises'' (1996) 1 Annuaire du droit de la mer 179.

[24] Charles C. Hyde, ''Maps as Evidence in International Boundary
Disputes'' (1933) 27 American Journal of International Law 311 at 315;
Hasjim DJALAL, ''South China Sea Island Disputes'' in Myron H.
NORDQUIST and John Norton MOORE, eds., Security Flashpoints: Oil, Islands,
Sea Access and Military Confrontation (The Hague: Nijhoff, 1998), 109 at 113;
F. MU¨ NCH, ''Maps'' in R. BERNHARDT, ed., Max Planck Encyclopedia
of Public International Law vol. III (Amsterdam: Elsevier Science, 1995), 287
at 288; T.S. MURTI, ''Boundaries and Maps'' (1964) 4 Indian Journal
of International Law 367 at 388; Daniel SCHAEFFER, ''L'interprétation
du droit de la mer par la Chine: ses effets majeurs en Extrême-Orient''
(2008) 13 Annuaire du droit de la mer 23 at 43; Georg RESS, ''The
Delimitation and Demarcation of Frontiers in International Treaties and
Maps'' (1985) 14 Thesaurus Acroasium 435 at 443.

[25] Dzurek, supra note 3 at 13.

[26] Policy Guidelines for the South China Sea, Point 1, 10 March 1993, in
SUN Kuan-Ming, ''Policy of the Republic of China Towards the South China
Sea: Recent Developments'' (1995) 19 Marine Policy 401 at 408 (Annex I).

[27] Dzurek, supra note 3 at 13.

[28] Republic of China (Taiwan), Statement (1 July 1999), online: Ministry of
Foreign Affairs
http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem52353&ctNode51902&mp56.

[29] PAN Shiying, ''South China Sea and the International Practice of the
Historic Title'', Conference on the South China Sea, American Enterprise
Institute, Washington, 7–9 September 1994, referenced in ZOU Keyuan,
''Historic Rights in International Law and in China's Practice''
(2001) 32 Ocean Development and International Law 149 at 161, note 97; SONG
Yann-huei and Peter Kien-hong YU, ''China's 'Historic Waters' in
the South China Sea: An Analysis from Taiwan, R.O.C.'' (1994) 12 American
Asian Review 83.

[30] ZHAO Guocai, ''Analysis of the Sovereign Dispute over the Spratlys
under the Present Law of Sea'' (1999) 9 Asian Review at 22 (in Chinese),
translated in Li and Li, supra note 4 at 293. Tuy nhiên, cần nêu rõ
rằng không phải mại chuyên gia pháp lý Đài Loan đều ủng hộ
các tiếp cận yêu sách vùng nước lịch sử dù có lập
trường chính thức của chính phủ của họ. Xem ZOU Keyuan,
''China and Maritime Boundary Delimitation: Past, Present and
Future'' in Amer and Zou, eds., supra note 15, at 160.

[31] . See Andrea GIOIA, ''Historic Titles'' in Rudiger WOLFRUM, ed.,
The Max Planck Encyclopedia of Public International Law (Oxford: Oxford
University Press, 2008), online: MPEPIL http:// www.mpepil.com.

[32] Zou, supra note 33 at 152.

[33] Juridical Regime of Historic Waters, Including Historic Bays, Study
Prepared by the Secretariat, UN Doc. A/CN.4/143 (1962), (1962) 2 Yearbook of
the International Law Commission 1 [Historic Waters Study].

[34] Ibid., at 13. Nghiên cứu này còn nêu khả năng về một đòi
hỏi thứ tư (biện minh "trên cơ sở nhu cầu kinh tế, an ninh
quốc gia, lợi ích sống còn hay một căn cứ tương tự")
nhưng chưa có sự đồng thuận cao về đòi hỏi này. Tuy nhiên,
ngưới ta cần phải hoàn thành danh sách này với một đòi hỏi
tổng quát hơn rằng quền sở hữu lịch sử phải thật rõ
ràng. Xem Ahmed ABOU-EL-WAFA, ''Les différends internationaux
concernant les frontières terrestres dans la jurisprudence de la Cour
internationale de justice'' (2010) 343 Collected Courses of the Hague
Academy of International Law 9 at 397.

[35] Zou, supra note 33 at 161 and references, supra note 25.

[36] For a treatment of both positions, xem Historic Waters Study, supra note
36 at 16–19.

[37] Xem, chẳng hạn,bằng tiếng Anh, Markus KOTZUR,
''Intertemporal Law'' in WOLFRUM, ed., supra note 24. Một phân
tích chi tiết hơn bằng tiếng Pháp, xem Paul TAVERNIER, Recherches
sur l'application dans le temps des actes et des règles en droit
international public (problèmes de droit intertemporel ou de droit
transitoire) (Paris: Librairie générale de droit et de jurisprudence).

[38] See Hasjim DJALAL, ''South China Sea Island Disputes'' (2000)
The Raffles Bulletin of Zoology

(Supplement No. 8) 9.

[39] Clive Ralph SYMMONS, Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern
Re-appraisal (Leiden: Nijhoff, 2008) at 17–37. Đưa ra một lập luận
tương tự trên cơ sở công trình của Uỷ ban Luật quốc tế
về dàn ý của công ước 1958 cũng như trên cơ sở UNCLOS, see
Franckx, supra note 22 at 197, and especially note 50.

[40] Lần duy nhất TQ được nêu liên quan tới yêu sách lịch
sử của Liên Xô cũ đối với Vịnh Peter the Great (Symmons, supra
note 42 at 144).

[41] Tullio SCOVAZZI, ''Book Review of 'Historic Waters in the Law of
the Sea: A Modern Re-appraisal by Clive Ralph Symmons, Leiden, Martinus
Nijhoff, 322 pp., 2008' '' (2010) 25 International Journal of Marine
and Coastal Law 637 at 642. See also ibid., at 639–40 and in the same sense
Symmons, supra note 42, at 242–5, 299–300. Continental Shelf
(Tunisia/Libyan Arab Jamahiriya), [1982] I.C.J. Rep. 18 at 73–4:
Không có định nghĩa về khái niệm lẫn nghiên cứu về chế
độ pháp lý của ''vùng nước lịch sử'' hay ''vịnh
lịch sử''. Tuy nhiên, có các quy chiếu về ''vịnh lịch
sử'' hay ''quyền sở hữu lịch sử'' hay các lí lẽ
lịch sử theo hướng tạo nên một bảo lưu cho các quy tắc xác
lập từ đó trở đi. Vấn đề này dường như rõ ràng tiếp
tục bị điều tiết bởi luật quốc tế chung, luật này không
đưa ra một" chế độ" đơn nhất cho ''các vùng nước
lịch sử'' hay ''vịnh lịch sử'', nhưng chỉ cho một
chế độ đặc biệt cho mỗi trường hợp cụ thể đã được
thừa nhận về "vùng nước lịch sử" hay "vịnh lịch
sử".

[42] Lập luận này được đưa ra trong WU Fengbing, ''Historical
Evidence of China's Ownership of the Sovereignty over the Spratly
Islands'' in China Institute for Marine Development Strategy, ed.,
Selected Papers of the Conference on the South China Sea Islands (Beijing:
Ocean Press, 1992) at 111 (in Chinese), referenced in Zou, supra note 33 at
161, note 98.

[43] Nói chung, xem Franckx, Benatar, Joe, and Van den Bossche, supra note
2. Nói cụ thể hơn về Biển Đông, xem NGUYEN Hong Thao, Le Vietnam
et ses différends maritimes dans la Mer de Bien Dong (Mer de Chine
méridionale) (Paris: Pedone, 2004) at 258.

[44] Như đã nêu ở supra note 2, Vietnam gọi khu vực này là
''Biển Đông'' (''East Sea''). Xem National Border
Committee under the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam, online: National
Border Committee www.biengioilanhtho.gov.vn/bbg-vie/home.aspx.

[45] International Hydrographic Organization, Limits of Oceans and Seas, 3rd
ed. (Monte-Carlo: Imp. Mone´gasque, 1953) at preface and 30, online: IHO
http://www.iho-ohi.net/iho_pubs/standard/S-23/S23_1953.pdf. Old maps also use
this denomination merely due to the fact that historically European
navigators encountered predominantly Chinese ships. See Y. LACOSTE, ''Mer
de Chine ou mer de l'Asie du Sud-Est'' (1981) 24 Hérodote at 13,
referenced in Nguyen, supra note 46 at 257

[46] Nguyen, supra note 46 at 257.

[47] Republic of China (Taiwan), ''Statement of the Ministry of Foreign
Affairs concerning the Declaration on the Conduct of Parties in the South
China Sea signed by the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) and
the People's Republic of China (PRC) in Cambodia on November 4, 2002''
(5 November 2002), online: Ministry of Foreign Affairs
http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem52357&ctNode51902&mp56:
Chính phủ THDQ tái khẳng định chủ quyền lãnh thổ trên quần
đảo Đông Sa (quần đảo Pratas), Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa),
Trung Sa (bãi cạn Macclesfield) và Nam Sa (Trường Sa) trong Biển
Đông, Đối với các quần đảo này THDQ có tất cảquyền hợp
pháp theo luật quốc tế;
Republic of China (Taiwan), ''The Position of the Ministry of Foreign
Affairs on Taiwan's Sovereignty over Islands in the South China Sea''
(20 November 2007), online: Ministry of Foreign Affairs
http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem527782&ctNode51903&mp56.
Quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi Macclesfield và
quần đảo Pratas luôn luôn là phần cố hữu của các vùng lãnh
thổ Đài Loan, dù nhìn từ quan điểm của lịch sử địa lý,
pháp luật quốc tế hay thực tế đơn giản. Theo các nguyên
tắc của luật pháp quốc tế, chủ quyền đối với các quần
đảo này của chính phủ Đài Loan là không thể nghi ngờ và
Đài Loan hưởng tất cả các quyền tương ứng;
Republic of China (Taiwan), ''The Government of the Republic of China
(Taiwan) Reiterates its Sovereignty over the Spratly Islands and has Proposed
a Spratly Initiative that Focuses on Environmental Protection Instead of
Sovereignty Disputes'' (15 August 2008), online: Ministry of Foreign
Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem532920&ctNode51903&mp56:
Quần đảo Trường Sa, bao gồm cả rạn san hô Swallow (đảo san
hô Layang-Layang), nằm trong vùng lãnh hải của Đài Loan. Dù theo
quan điểm pháp lý, lịch sử địa lý hoặc luật quốc tế,
quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo
Macclesfield, quần đảo Pratas và các vùng nước lân cận là
một phần của lãnh thổ và lãnh hải của Đài Loan;
Republic of China (Taiwan), ''Solemn Declaration of the Ministry of
Foreign Affairs of the Republic of China concerning the Philippine Senate
Bill 2699 and House Bill 3216'' (6 February 2009), online: Ministry of
Foreign Affairs
http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem536914&ctNode51902&mp56:
Dù từ góc độ lịch sử, địa lý, thực tế hay luật pháp
quốc tế, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần
đảo Macclesfield, quần đảo Pratas, cũng như các vùng biển xung
quanh, là các vùng lãnh thổ hiện hữu của THDQ. Sự kiện rằng
chủ quyền của các khu vực này thuộc về chính phủ của
chúng tôi là không thể phủ nhận, Đài Loan được hưởng và
xứng đáng với tất cả các quyền tương ứng. Bất kỳ yêu
sách chủ quyền nào đối với, hoặc sự chiếm cứ, các quần
đảo này và vùng nước xung quanh sẽ không được chính phủ
THDQ thừa nhận.

[48] Republic of China (Taiwan), ''Declaration of the Republic of China
on the Outer Limits of Its Continental Shelf, no 003'' (12 May 2009),
online: Ministry of Foreign Affairs
http://www.mofa.gov.tw/webapp/content.asp?cuItem538077&ctNode51036&mp56.

[49] Hasjim DJALAL, ''Conflicting Territorial and Jurisdictional Claims
in South China Sea'' (1979) 7(1) The Indonesian Quarterly 36 at 41–2.

[50] Robert W. SMITH, ''Maritime Delimitation in the South China Sea:
Potentiality and Challenges'' (2010) 41 Ocean Development and
International Law 214 at 224. Xem thêm GAO Zhiguo, ''The South China
Sea: From Conflict to Cooperation?'' (1994) 25 Ocean Development and
International Law 345 at 346: ''nghiên cứu tỉ mỉ các tài liệu
Trung Quốc cho thấy rằng Trung Quốc không bao giờ tuyên bố
chủ quyền toàn bộ cột nước của vùng biển Biển Đông mà
chỉ là các đảo và vùng biển xung quanh bên trọng đường
này.'' Xem thêm phát biểu của Wang Xiguang (Uông Hi Quang),
người đã giúp Cục Địa lý Bộ Nội Chính trong việc chế
tác các bản đồ trong những năm 1940 và dùng cùng một kỹ
thuật nhưng đi đến một kết quả khác: ''đường biên
giới quốc qia chấm chấm được vẽ như là trung tuyến giữa
TQ và các nước liền kề'', trong XU Sen'an, ''The
Connotation of the 9-Dotted Line on the Chinese Map of the South China
Sea'' trong ZHONG Tianxiang, ed., Paper Selections of the Seminar on
''The South China Sea in the 21st Century: Problems and Perspective''
(Hainan Research Center of the South China Sea, 2000) at 80 (in Chinese),
translated in Li and Li, supra note 4 at 290.

[51] Dzurek, supra note 3 at 11.

[52] Một quyển sách nói về cách giải quyết các vần đề này
, xem Monique CHEMILLIER-GENDREAU, Sovereignty over the Paracel and Spratly
Islands (The Hague: Kluwer Law International, 2000).

[53] Anna RIDDELL and Brendan PLANT, Evidence Before the International Court
of Justice (London: British Institute of International and Comparative Law,
2009) at 31.

[54] Frontier Dispute (Burkina Faso/Republic of Mali), [1986] I.C.J. Rep. 554
at 582, para. 54.

[55] Kasikili/Sedudu Island (Botswana/Namibia), [1999] I.C.J. Rep. 1045 at
1098, para. 84, nêu: "Tòa án sẽ bắt đầu bằng việc nhắc
lại những gì mà Ban thẩm phán (Chamber) xử vụ tranh chấp biên
giới (Burkina Faso / Cộng hòa Mali) phải nói về giá trị chứng
cứ của bản đồ"; Tranh chấp lãnh thổ và biển giữa
Nicaragua and Honduras trong biển Caribbean (Nicaragua v. Honduras), [2007]
I.C.J. Rep. 659 at 723, para. 215, nêu: "Toà án tái khẳng định
lập trường của họ trước đây liên quan đến phạm vi vô
cùng hạn chế của bản đồ như là một nguồn về quyền sở
hữu chủ quyền"; Tranh chấp biên giới (Benin/Niger), [2005]
I.C.J. Rep. 90 at 119–20, para. 44, nêu: "nguyên tắc này [như mô
tả trong tranh chấp biên giới (Burkina Faso / Cộng hòa Mali) cũng
sẽ hướng dẫn Ban Thẩm phán trong việc đánh giá các bản
đồ mà các Bên trong trường hợp hiện tại dựa vào";
Sovereignty over Pulau Ligitan and Pulau Sipadan (Indonesia/Malaysia), [2002]
I.C.J. Rep. 625 at 667, para. 88; Maritime Delimitation and Territorial
Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v. Bahrain), Separate Opinion of
Judge Kooijmans, [2001] I.C.J. Rep. 225 at 242, para. 68.

[56] Patrick DAILLIER, Mathias FORTEAU, and Alain PELLET, Droit international
public, 8th ed. (Paris: L.G.D.J., 2009) at 524, para. 301.

[57] Một bàn luận về khả năng hạn chế này, xem Maurice KAMTO,
''Le matériau cartographique dans les contentieux frontaliers et
territoriaux internationaux'' in Emile YAKPO and Tahar BOUMEDRA, eds.,
Liber Amicorum Judge Mohammed Bedjaoui (The Hague: Kluwer, 1999) at 371–98.

[58] Riddell and Plant, supra note 56 at 266.

[59] ZHAO Lihai, Studies on the Law of Sea (Beijing: Beijing University
Press, 1996) at 37 (in Chinese), translated in Li and Li, supra note 4 at
291.

[60] JIAO Yongke, ''There Exists No Question of Redelimiting Boundaries
in the Southern Sea'' (2000) 17 Ocean Development and Management at 52
(in Chinese), translated in Michael STRUPP, ''Maritime and Insular Claims
of the PRC in the South China Sea under International Law'' (2004) 11
Zeitschrift fu¨ r chinesisches Recht 1 at 16.

[61] Zou, supra note 33 at 160.

[62] Grisbadarna Case (Norway v. Sweden), Decision of 23 October 1909, [1910]
4 American Journal of International Law 226 at 231, nêu rằng: ''lãnh
hải là thứ phụ thuộc chính yếu của lãnh thổ đất
liền'' (translation from the original French, [2006] XI Reports of
International Arbitral Awards 159); North Sea Continental Shelf (Federal
Republic of Germany/Denmark; Federal Republic of Germany/Netherlands), [1969]
I.C.J. Rep. 3 at 51, para. 96: ''Trong cả hai trường hợp [vùng
tiếp giáp lãnh hải và thềm lục địa] nguyên tắc được áp
dụng là đất thống trị biển''. Nghiên cứu sâu hơn và
các trường hợp của nguyên tắc này, xem Abou-el-Wafa, supra note
37 at 88–90.

[63] Fisheries Case (United Kingdom v. Norway), [1951] I.C.J. Rep. 116 at
132.

[64] UNCLOS, supra note 12, has been ratified by all interested parties in
the South China Sea dispute with the exception of Taiwan (Vietnam: 25 July
1994, PRC: 7 June 1996, Philippines: 8 May 1984,Malaysia: 14 October 1996,
Brunei: 5 November 1996, Myanmar: 21 May 1996, and Thailand: 15 May 2011),
online: UN
http://www.un.org/Depts/los/reference_files/chronological_lists_of_ratifications.htm.

[65] Ibid.

[66] Một cách tiếp cận mới giới hạn đáng kể khả năng áp
dụng ngoại lệ củaĐiều 121(3) đối với việc phân giới
trên biển, xem Bernard H. OXMAN, ''On Rocks and Maritime
Delimitation'' in Mahnoush H. ARSANJANI, Jacob Katz COGAN, Robert D.
SLOANE, and Siegfried WIESSNER, eds., Looking to the Future: Essays on
International Law in Honor of W. Michael Reisman (Leiden/Boston: Martinus
Nijhoff, 2011), 893. Theo lý luận của tác giả, những tranh cãi
liên quan đến ý nghĩa chính xác của việc cư trú của con
người và đời sống kinh tế sẽ ít quan trọng hơn, bởi vì
trong giai đoạn phân giới các đảo nhỏ thường chỉ đóng
một vai trò nhỏ.

[67] Alex G. Oude ELFERINK, ''The Islands in the South China Sea: How
Does Their Presence Limit the Extent of the High Seas and the Area and the
Maritime Zones of the Mainland Coasts?'' (2001) 32 Ocean Development and
International Law 169 at 182. See also Marius GJETNES, ''The Spratlys:
Are They Rocks or Islands?'' (2001) 32 Ocean Development and
International Law 191 at 199–201; Barry Hart DUBNER, ''The Spratly
'Rocks' Dispute: A 'Rockapelago' Defies Norms of International
Law'' (1995) 9 Temple International and Comparative Law Journal 291 at
299–306.

[68] Nó liên quan đến những hành động do TQ thực hiện bởi
để đưa vào các mục bổ sung cho chương trình nghị sự tại
cuộc họp năm 2009 của các nước thành viên UNCLOS và kỳ họp
lần thứ 15 của Cơ quan đáy biển quốc tế (ISA) một năm sau
đó. Xem Erik FRANCKX, ''The International Seabed Authority and the
Common Heritage of Mankind: The Need for States to Establish the Outer Limits
of Their Continental Shelf'' (2010) 25 International Journal of Marine
and Coastal Law 543 at 563–4. Những nỗ lực như vậy được lặp
vào thời điểm Hội nghị của các nước thành viên UNCLOS năm
2011 nhưng không lặp lại tại cuộc họp lần của ISA khoảng
một tháng sau đó.

[69] Như chỉ rõ qua danh nghĩa đại diện của giáo sư Jia Yu,
đưa ra trong một buổi báo cáo tóm tắt của ISA năm 2009. Mặc
dù đóng góp này có tiêu đề là ''Safeguarding the Common
Heritage of Mankind''(Bảo vể di sản chung của loài người)
trong công bố cho báo chí của ISA (ISA, ''Press Release
SB/15/10'' (June 2009) at 3, online: ISA
http://www.isa.org.jm/files/documents/EN/Press/Press09/SB-15–10.pdf), các
phim chiếu slides phân phát vào lúc đó tại buổi báo cáo tóm
tắt lại có một tiêu đề cụ thể hơn, đó là ''The Rock of
Oki-no-Tori Shall Have No EEZ and Continental Shelf'' (Mỏm đá
Okinotori sẽ có EEZ và thềm lục địa mở rộng). Xem thêm Ted
McDORMAN, ''The South China Sea after 2009: Clarity of Claims and
Enhanced Prospects for Regional Cooperation?'' (2010) 24 Ocean Yearbook
507 at 514–15. Về chi tiết và các hành động sau này của các
bên về mặt này, xem Yann-Huei SONG, ''The Application of Article
121 of the Law of the Sea Convention to the Selected Geographical Features
Situated in the Pacific Ocean'' (2010) 9 Chinese Journal of International
Law 663 at 671–4.

[70] Indonesia, ''Letter to the Secretary-General of the United
Nations—480/POL-703/VII/10'' (8 July 2010), online: UN
http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/idn_2010re_mys_
vnm_e.pdf. Sự liên kết giữa các hành động can thiệp này với
Biển Đông được trình bày trong công hàm này như sau:
Về mặt này, các phát biểu của các đại diện ưu tú của
CHNDTH cũng liên quan đến tình hình ở Biển Đông và do đó
thật đúng khi nêu rằng những thể địa lý rất nhỏhoặc ở
xa xôi ở Biển Đông không xứng đáng được hưởng vùng đặc
quyền kinh tế hay thềm lục địa của riêng mình. Cho phép sử
dụng các mỏm đá, các rạn san hô và đảo san hô vòng không
có người ở cô lập với đất liền và ở giữa biển khơi
như một điểm cơ sở để tạo ra các khu vực biển gây quan
ngại tới các nguyên tắc cơ bản của Công ước [1982] và xâm
phạm lợi ích chính đáng của cộng đồng toàn cầu. Vì
thế,như được chứng thực bởi những phát biểu trên, cái
gọi là "bản đồ đường 9 chấm" rõ ràng thiếu cơ sở
pháp lý quốc tế và đồng nghĩa với việc đảo lộn… Công
ước 1982.

[71] Xem bộ phận luật án lệ rộng hơn và ý kiến các học
giả nêu trong Gérard NIYUNGEKO, La preuve devant les juridictions
internationales (Brussels: Bruylant, 2005) at 322–35, and more recently
Case concerning Pulp Mills on the River Uruguay (Argentina v. Uruguay),
[2010] I.C.J. Rep. 1 at 52, para. 168.

[72] Raphae¨le RIVIER, ''La preuve devant les juridictions
interetatiques à vocation universelles (CIJ et TIDM)'' in Hélène Ruiz
FABRI and Jean-Marc SOREL, eds., La preuve devant les juridictions
internationales (Paris: Pedone, 2007), 9 at 38–48. More generally, judicial
bodies select the facts they deem pertinent in a discretionary manner. Xem
Jean SALMON, ''Le fait dans l'application du droit international''
(1982) 175 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 261 at
300. For a critical approach to the freedom of judges with respect to
weighing evidence, see Rudiger WOLFRUM, ''Taking and Assessing Evidence
in International Adjudication'' in Tafsir Malick NDIAYE and Rudiger
WOLFRUM, eds., Law of the Sea, Environmental Law and Settlement of Disputes:
Liber Amicorum Judge Thomas A. Mensah (Leiden: Martinus Nijhoff, 2007), 341
at 342; Patrick KINSCH, ''On the Uncertainties Surrounding the Standard
of Proof in Proceedings before International Courts and Tribunals'' in
Gabriella VENTURINE and Stafania BARIATTI, eds., Liber Fausto Pocar—Diritti
individuali e giustizia internazionale, vol. 1 (Milan: Giuffre`, 2009), 427
at 438–9; Chittharanjan F. AMERASINGHE, Evidence in International
Litigation (Leiden: Martinus Nijhoff, 2005) at 232–61.

[73] Mặc dù không có học thuyết về việc dựa vào tiền lệ
(stare decisis) trong luật quốc tế, tòa và tòa án quốc tế
thường trích dẫn luật án lệ. Điều này đặc biệt đúng
đối với ICJ, là toà có tính tự tham chiếu cao độ và sẽ
chỉ đi chệch khỏi án lệ trong quá khứ khi có các lý do đáng
kể. Xem Alan BOYLE and Christine CHINKIN, The Making of International Law
(Oxford: Oxford University Press, 2007) at 293–9; Gilbert GUILLAUME,
''The Use of Precedent by International Judges and Arbitrators''
(2011) 2 Journal of International Dispute Settlement 5 at 12.

[74] Frontier Dispute, supra note 57 at 582, para. 55, nêu: ''trọng
lượng phân cho các bản đồ với tư cách bằng chứng phụ
thuộc vào một số lớn các cân nhắc"; Qatar v. Bahrain, supra
note 58, Dissenting Opinion of Judge Torres Berna´rdez at 274, para. 37,
stating: ''[t]he weight of maps as evidence depends on a range of
considerations.''

[75] Xem Case concerning the Delimitation of Maritime Boundary between
Guinea-Bissau and Senegal (Guinea- Bissau/Senegal), Decision of 31 July 1989,
Dissenting Opinion of Mr. Mohammed Bedjaoui, [2006] XX Reports of
International Arbitral Awards 119 at 166–9, paras. 32–7 (lập luận
chống lại một chuyển vị tự động các nguyên tắc lãnh
thổ sang phân định biển cho các khác biệt "hiển nhiên" và
"không thể giảm hơn" về mặt địa lý, mối quan hệ của
chúng với các quyền của các dân tộc và các quốc gia quyền
đối với các vùng này); Lea BRILMAYER and Natalie KLEIN, ''Land
and Sea: Two Common Sovereignty Regimes in Search of a Common
Denominator'' (2001) 33 New York University Journal of International Law
and Politics 703 at 703–4 (noting 15

[76] Xem các ví dụ về các vụ liên quan một phần đến các
tranh chấp trên biển, supra note 58 citing a passage from Frontier
Dispute (Burkina Faso/Republic of Mali) (which is a territorial case).

80. Island of Palmas Case (Netherlands v. U.S.A.), Award of 4 April 1928,
[2006] II Reports of International Arbitral Awards 829 at 852–3 stating:
''only with the greatest caution can account be taken of maps in deciding
a question of sovereignty'', reaffirmed in Nicaragua v. Honduras, supra
note 58 at 58, para.

[77] Island of Palmas Case (Netherlands v. U.S.A.), Award of 4 April 1928,
[2006] II Reports of International Arbitral Awards 829 at 852–3 nêu:
"Chỉ với sự thận trọng lớn nhất các bản đồ có thể
được xét tới trong việc quyết định vấn đề chủ
quyền", reaffirmed in Nicaragua v. Honduras, supra note 58 at 58, para.
214; Territorial Sovereignty and Scope of the Dispute (Eritrea/Yemen),
Decision of 9 October 1998, [2006] XXII Reports of International Arbitral
Awards 209 at 296, para. 388, nêu: "như trong tất cả các trường
hợp về bản đồ, bằng chứng phải được xử lý thât tinh
tế". For an opposing view calling into question the reluctant approach of
international adjudicators vis-à-vis cartographic evidence, see Romulo R.
UBAY Jr, ''Evidence in International Adjudication: Map Evidence in
Territorial Sovereignty Dispute Cases'' (2011) 1 Aegean Review of the Law
of the Sea and Maritime Law 287.

[78] Arbitration Between Great Britain and Portugal as Regards Questions
Relative to the Delimitation of their Spheres of Influence in East Africa
(Manica plateau) (United Kingdom/Portugal), Decision of 30 January 1897,
[2007] XXVIII Reports of International Arbitral Awards 283 at 298.

[79] Indo-Pakistan Western Boundary (Rann of Kutch) between India and
Pakistan (India v. Pakistan), Award of 19 February 1968, Proposal of Mr.
Nasrollah Entezam, [2006] XVII Reports of International Arbitral Awards 1 at
505, nêu: "bản đồ chỉ bằng chứng phụ. Chỉ có bản đồ
được chuẩn bị bởi người giám định ngay tại chỗ bằng
cách quan sát mới là bằng chứng chính. Thầm chí chúng là
bằng chứng chính chỉ cho những điều mà người giám định
có thể tự mình quan sát"; Qatar v. Bahrain, supra note 58,
Dissenting Opinion of Judge Torres Bernardez at 274, para. 37, nêu: " nói
chung, giá trị như là bằng chứng do toà và toà án quốc tế
gắn cho chúng là có tính củng cố hay xác nhận cho các kết
luận đã được rút ra từ các phương cách khác không dính
dáng tới các bản đồ, vì các bản đồ như thế không có danh
nghĩa pháp lý"; Island of Palmas, supra note 80 at 853–4, nêu: "dù
sao đi nữa, bản đồ chỉ có khả năng đưa ra một chỉ định
- và đó là một chỉ định rất gián tiếp - và trừ khi
được kèm theo một công cụ pháp lý, không có giá trị của
một công cụ như vậy, liên quan đến công nhận hoặc từ bỏ
quyền"; ibid., at 853: Nếu trọng tài hài lòng về sự tồn
tại của các sự kiện pháp lý có liên quan nhưng các sự kiện
này lại mâu thuẫn với lời khai của những người vẽ bản
đồ có nguồn thông tin không biết rõ, ông ta có thể sẽ không
gán trọng lượng nào cho các bản đồ, tuy các bản đồ này
rất nhiều và thường có thể được đánh giá cao.

[80] Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para. 56. Xem thêm The
Government of Sudan/The Sudan People's Liberation Movement/Army (Abyei
Arbitration), Final Award of 22 July 2009, online: PCA http://www.pca-cpa.org
at 256, para. 741:
Toà án tương tự như vậy rất miễn cưỡng để cân bằng
biên giới Đông và Tây của khu vực do Ngok Dinka chiếm đóng
chuyển giao vào năm 1905 với mô tả bằng bút chì năm 1933 về
khu vực chăn thả gia súc mùa khô của Ngok Dinka trên một bản
đồ vẽ phác, đặc biệt là khi toà đã có bằng chứng toàn
diện và cụ thể hơn.

[81] Sakeus AKWEENDA, ''The Legal Significance of Maps in Boundary
Questions: A Reappraisal with Particular Emphasis on Namibia'' (1990) 60
British Yearbook of International Law 205 at 212; A.O. CUKWURAH, The
Settlement of Boundary Disputes in International Law (Manchester: Manchester
University Press, 1967) at 224–5; Hyde, supra note 27 at 313–15; Victor
PRESCOTT and Gillian D. TRIGGS, International Frontiers and Boundaries: Law,
Politics and Geography (Leiden: Nijhoff, 2008) at 194–5; Durward V.
SANDIFER, Evidence before International Tribunals, 2nd ed. (Charlottesville:
University Press of Virginia, 1975) at 235; Guenter WEISSBERG, ''Maps as
Evidence in International Boundary Disputes: A Reappraisal'', (1963) 57
American Journal of International Law 781 at 781.

[82] E.g., Ian BROWNLIE, The Rule of Law in International Affairs:
International Law at the Fiftieth Anniversary of the United Nations (The
Hague: Martinus Nijhoff, 1998) at 156.

[83] Manfred LACHS, ''La preuve et la Cour internationale de
Justice'' in Chaı¨m PERELMAN and Paul FORIERS, eds., La preuve en droit
(Brussels: Bruylant, 1981), 109 at 109.

[84] Mức phù hợp trong bản đồ không cần phải luôn luôn là
tuyệt đối, nhưng nó phải phù hợp trên tổng quát.. Abouel-
Wafa, supra note 37 at 432–4.

[85] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58 at 1100, para. 87; see also
Dubai/Sharjah Border Arbitration (Dubai v. Sharjah), Award of 19 October
1981, [1993] 91 International Law Reports 543 at 630, para. 168:

Theo quan điểm của Toà án cần phải dẹp sang một bên cả hai
bản đồ do ông Walker chuẩn bị, xét về vị trí của Hadlib
Azana, vì, mặc dù được chuẩn bị bởi cùng một người,
chúng lại mâu thuẫn lẫn nhau về đường ranh giới chung trong
khu vực này. Suy đoán thêm về các lý do có thể có cho một
mâu thuẫn như vậy là chuyện vô ích.

Eritrea/Yemen Arbitration, supra note 80 at 296, para. 388:

Các bằng chứng cho thời kỳ này bị vây bủa với các mâu
thuẫn và sự không chắc chắn. Mỗi bên đã thể hiện sự
không thống nhất trong các bản đồ chính thức của mình. Tuy
nhiên, xu hướng chung là bằng chứng bản đồ củaYemen là
vượt trội về phạm vi và khối lượng so với Eritrea. Tuy
nhiên, trọng lượng như vậy có thể được gắn vào bản đồ
bằng chứng ủng hộ của một bên được cân bằng bởi thực
tế là mỗi bên đã công bố những bản đồ có vẻ đi ngược
với khẳng định của mình trong các thủ tục tố tụng.

Delimitation of the Border Between the State of Eritrea and the Federal
Democratic Republic of Ethiopia (Eritrea-Ethiopia Boundary Commission),
Decision of 1 January 2002, [2002] 41 International Legal Materials 1057 at
1089, para. 4.67:
Bằng chứng bản đồ là không đồng nhất và nhất quán. Phần
lớn hỗ trợ sự tồn tại của một phóng chiếu của Belesa và
gán lãnh thổ bên trong nó cho Eritrea. Tuy nhiên, có nhiều bản
đồ không làm như vậy, hoặc chỉ làm như vậy một phần

[86] Tuy nhiên xem Separate World's Geography (Chinese Ya Guang Geographic
Publisher, 1951) at 18 (Bản dồ nước Cộng hoà), trong đó chỉ có
khoảng nửa số vạch được thể hiện [bản đồ TQ 1951].

[87] Xem Chinese State Bureau of Surveying and Mapping, Map World, online:
Map World http://www.chinaonmap.cn. Bản đồ này được in lại một
phần trong Phụ lục II ở cuối bài viết này.

[88] Vì vậy, về mặt kỹ thuật hình như chính xác hơn khi nói
đường chấm chấm với số vạch thay đổi, chẳng hạn như là
đường 11/9/10-chấm. Tuy nhiên, vì cho tới nay đường 9 chấm
là đường mà TQ dựa vào trên bình diện quốc tế để minh
định lập trường của họ trong tranh chấp của quốc gia đối
với quốc gia nên bài đóng góp này thường sẽ dùng khái niệm
"đường 9 chấm", trừ khi các đường với số chấm khác
có ý nghĩa pháp lý.

[89] Eritrea/Yemen Arbitration, supra note 80 at 295, para. 382.

[90] Các vạch được TQ sử dụng để vẽ đường chữ U không
phù hợp với các quy định kỹ thuật biểu đồ do Tổ chức
Thủy văn Quốc tế đề ra dùng để chỉ ranh giới biển quốc
tế, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh
tế, thềm lục địa, khu thủy sản, vv. Xem International
Hydrographic Organization, Regulations of the IHO for International (INT)
Charts and Chart Specifications of the IHO, 4th ed. (Monaco: International
Hydrographic Bureau, 2010) at B-440, C-407 (International Boundaries and
National Limits), online: IHO
http://www.iho-ohi.net/iho_pubs/standard/S-4/S4_v4.000_Sep10.pdf . Kiểu
lập luận này đã được Ukraina đưa ra chống lại Romania trong
vụ ở Biển Đen (Romania v. Ukraine), Counter-memorial of Ukraine, 19
May 2006 at 123–5.

[91] International Hydrographic Organization Membership, online: IHO
http://www.iho-ohi.net/english/home/about-the-iho/about-iho-member-states/ms-information.html.

[92] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Separate Opinion of Judge Oda at
1133–4, para. 40. Xem thêm Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para.
57, nêu: "bây giờ Ban thẩm phán (Chamber) quay sang các bản đồ
được in trong trường hợp này. Đối với Ban Thẩm phán không
có một bản đồ đơn lẻ có sẵn nào có thể nói một cách
đáng tin cậy là phản ánh được những ý định của chính
quyền thực dân được thể hiện trong các các văn bản liên
quan đến biên giới đang có tranh chấp." Xem thêm Abou-el-Wafa,
supra note 37 at 425–6.

[93] Smith, supra note 53 at 224.

[94] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Separate Opinion of Judge Oda at
1133–4, para. 40.

[95] Cũng phải nói rõ rằng dù ngay cả trong tình huống như
thế, việc chế tác bản đồ cũng không phải là một công
việc có "giá trị trung lập" về khoa học. Những bóp mép
không chủ ý cũng có thể len vào trong quá trình này do những
thiên lệch của nhà vẽ bản đồ và bối cảnh xã hội. Jordan
BRANCH, ''Mapping the Sovereign State: Technology, Authority, and
Systemic Change'' (2011) 65 International Organization 1 at 7.

[96] Trừ khi một bản đồ như vậy đi ngược vị thế của
họ. Xem chẳng hạn, Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh,
Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), [2008] I.C.J. Rep. 12 at
95, para. 272. Abou-el-Wafa, supra note 37 at 460–2.

[97] Beagle Channel Arbitration (Argentina v. Chile), Decision of 18 February
1977, [2006] XXI Reports of International Arbitral Awards 53 at 167, para.
142. Xem thêm Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para. 56, nêu rằng:
''những cân nhắc khác để xác định trọng lượng của
các bản đồ như là bằng chứng liên quan tới tính trung lập
của các nguồn của chúng đối với tranh chấp đang xem xét và
với các bên đối với tranh chấp đó.''

[98] Cukwurah, supra note 84 at 224. Xem thêm Hyde, supra note 27 at 315:
Các nguyện vọng hung hăng về lãnh thổ của một nước, qua
thời gian nhiều năm có thể phản ánh trong một loạt các bản
đồ liên tiếp mô tả rõ rệt sự lấn tới dần và thực sự,
và những mô tả sau này có thể khác biệt rõ rệt với các mô
tả trước đó;dù trên thự tế không có hiệp ước nào mở
rộng ranh giới hay điều chỉnh biên giới.

[99] Charles DE VISSCHER, Problèmes de confins en droit international public
(Paris: Pedone, 1969) at 46. Xem thêm Joseph Charles WITENBERG, ''La
théorie des preuves devant les juridictions internationales'' (1936) 56
Collected Courses of the Hague Academy of International Law 1 at 66: ''la
valeur scientifique de la méthode ayant présidé´à leur
établissement''; Abou-el-Wafa, supra note 37 at 431.

[100] Ian BROWNLIE, African Boundaries: A Legal and Diplomatic Encyclopaedia
(London: Royal Institute of International Affairs, 1979) at 5.

[101] Cukwurah, supra note 84 at 217–20.

[102] Island of Palmas, supra note 80 at 853. Cited in Dubai/Sharjah Border
Arbitration, supra note 88 at 630, para. 168. Xem thêm Delimitation Between
Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1075, para. 3.19, nêu: Ủy ban cũng
lưu ý rằng các bản đồ, dù thông tin nó cung cấp nhiều như
thế nào, không nhất thiết thể hiện chính xác, khách quan
thực tế trên mặt đất'

[103] Frontier Dispute, supra note 57 at 582–3, para. 55. Xem thêm Beagle
Channel, supra note 100 at 174, para. 154, nêu: "Vì thếTòa án bắt
buộc đi đến kết luận rằng bản đồ củaPelliza có tính
chất quá không chắc chắn để có giá trị chứng minh đòi
hỏi"; Request for Interpretation of the Judgment of 15 June 1962 in the
Case concerning the Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Order of
18 July 2011, Dissenting Opinion of Judge ad hoc Cot, [2011] I.C.J. Rep. 1 at
4, para. 21–2 (tuyên bố quyết định của Toà xác định một
khu vực phi quân sự tạm thời là "thiếu thận trọng"dưới
ánh sáng của tài liệu bản đồ mà ông cho là hạn chế và
không đủ đáng tin cậy theo quan điểm kỹ thuật).

[104] Legal Consequences of the Construction of a Wall in the Occupied
Palestinian Territory, Advisory Opinion, [2004] I.C.J. Rep. 136 at 168, para.
80. Về việc ICJ chấp nhận ảnh vệ tinh trong các vụ tranh
chấp, xem Jana K. HETTLING, ''The Use of Remote Sensing Satellites for
Verification in International Law'' (2003) 19 Space Policy 33 at 38,
nghiên cứu sâu hơn của cùng tác giả trong Satellite Imagery for
Verification and Enforcement of Public International Law (Cologne: Heymann,
2008) at 157–65.

[105] Dzurek, supra note 3 at 12; Zou, supra note 5 at 51.

[106] Dzurek, supra note 3 at 11.

[107] Xem chẳng hạn bản đồ TQ 1951, supra note 89. Không những
một số lượng các vạch chỉ biến đi (ibid.) mà vị trí của
những vạch biểu hiện trên rằng bản đồ đó với tỉ lệ
1:23.500.000 rõ ràng là sai biệt với những vạch thấy trong Phụ
lục I: ba vạch đầu tiên rõ ràng là thấy được, nhưng vạch
đầu tiên nằm theo hướng tây bắc nhiều hơn, vạch thứ hai
ở hướng tây nam, và vạch thứ ba theo hướng phía bắc khi so
sánh với bản đồ Phụ lục I.

[108] Land, Island and Maritime Frontier Dispute (El Salvador/Honduras:
Nicaragua Intervening), [1992] I.C.J. Rep. 350 at 550, para. 315. Xem thêm
Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Dissenting Opinion of Vice-President
Weeramantry at 1176, para. 73:
Bản đồ dĩ nhiên có thể mang các mức độ trọng lượng khác
nhau tùy thuộc vào tác giả và hoàn cảnh trong đó chúng được
làm ra. Hơn nữa, tỉ lệ của các bản đồ thường là quá
nhỏ không hiển thị rõ ràng các khu vực cụ thể đang là chủ
đề của tranh chấp, trong khi các bản đồ khác đủ lớn có
thể chỉ ra các khu vực tranh chấp đầy đủ chi tiết.

[109] Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1089, para.
4.67. Earlier on in that case (at 1076, para. 3.21), Ủy ban cũng nêu:
"một bản đồ ... với tỉ lệ quá nhỏ đến nỗi việc
nhập vào sẽ trở thành một vấn đề phải suy xét hơn là sự
quan sát chính xác, khó có thể có giá trị pháp lý hay bằng
chứng cao." Xem thêm Case Concerning the Location of Boundary Markers in
Taba (Egypt/Israel), Decision of 29 September 1988, [2006] XX Reports of
International Arbitral Awards 1 at 48, para. 184:
Tòa án không xem xét các chỉ dẫn dựa trên bản đồ là
thuyết phục vì tỉ lệ của bản đồ (1:100,000) là quá nhỏ
để thể hiện một vị trí trên mặt đất chính xác theo yêu
cầu trong những trường hợp này, trong đó khoảng cách giữa
các vị trí trụ cột tranh chấp đôi khichỉ một vài mét.
Dispute Concerning the Course of the Frontier Between BP 62 and Mount Fitzroy
(''Laguna del Desierto'') (Argentina/Chile), Resolution of 13 October
1995, [1999] 113 International Law Reports 1 at 224:
Ngay từ đầu, một số quan sát được lưu ý đến về các
bản đồ tỉ lệ 1/10.000 do Chile đệ trình. Những bản đồ
này được vẽ với một tỉ lệ lớn hơn đáng kể hơn so với
bản đồ của Ủy ban Ranh giới hỗn hợp hoặc những bản đồ
kèm theo đệ trình yêu sách chủ quyền của Chile ngày 31 tháng
năm 1995, cung cấp một biểu diễn chính xác về địa hình
thực sự của mặt đất

[110] Maurice KAMTO, ''Sur quelques questions techniques liées à la
détermination du tracé d'une frontière maritime de´limitée'' in
Rafael CASADO RAIGON and Giuseppe CATALDI, eds., L'évolution et l'état
actuel du droit international de la mer. Mélanges de droit de la mer offerts
à Daniel Vignes (Brussels: Bruylant, 2009), 481 at 493–6, tác giả đưa
ra một tường trình chi tiết về những khó khăn nghiêm trọng
mà Cameroon và Nigeria gặp phải sau đó do sự kiện rằng trong
đánh giá của mình ICJ đã dựa trên một biểu đồ Hải quân
Anh không chứa bất kỳ chỉ dẫn của mốc đo lường được
dùng.

[111] Beagle Channel, supra note 100 at 164, para. 137. See also John G.
MERRILLS, ''The International Court of Justice and the Adjudication of
Territorial and Boundary Disputes'' (2000) 13 Leiden Journal of
International Law 873 at 875, nêu: "về các vấn đề ranh giới và
lãnh thổ các bản đồ có khả năng cung cấp bằng chứng về
tình hình trên mặt đất và thái độ của các nước có liên
quan đối với nó''; Henry DARWIN, ''Judicial Settlement'' in
Evan LUARD, ed., The International Regulation of Frontier Disputes (London:
Thames & Hudson, 1970), 198 at 207–8.

[112] Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), [1962] I.C.J. Reports 6
at 23.

[113] Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1075–6,
para. 3.22. Một cách tượng tự Uỷ ban nhận thấy rằng (at 1076,
para. 3.21):
Tuy nhiên, một bản đồ do một cơ quan chính phủ của một bên
vẽ ra, trên một tỉ lệ đủ để cho phép miêu tả của khu
vực biên giới tranh chấp là nhận biết được, thường có
sẵn để mua hoặc kiểm tra, dù tại nước xuất xứ hoặc ở
nơi khác, và bên bị ảnh hưởng bất lợi hành động dựa
trên nó, hoặc không phản ứng đối với nó, có thể được
dự kiến là sẽ có hậu quả pháp lý quan trọng.

[114] Nicaragua v. Honduras, supra note 58 at 735, para. 253.

[115] Strupp, supra note 63 at 17.

[116] Ibid., at 17, note 98.

[117] Yehuda Z. BLUM, Historic Titles in International Law (The Hague:
Nijhoff, 1965) at 150.

[118] Li and Li, supra note 4 at 290. See also ''Carps Among the
Spratlys'' The Economist (10 March 2011), online: The Economist
http://www.economist.com/node/18332702?story_id518332702, stating: ''TQ
chỉ vào một bản đồ dùng từ thời THDQ công bố trong cuộc
nội chiến những năm 1940 và nói rằng cho tới gần đây không
ai quan tâm (mided)."

[119] Zhao, supra note 33 at 22, được dịch lại trong Li and Li, supra
note 4 at 292.

[120] Như lập luận trong bài viết do Nguyễn Hồng Thao trình bày
tại Hội thảo quốc tế lần hai, nhan đề là ''The South
China Sea: Cooperation for Regional Security and Development'', tổ
chức vào 10–12 /12/ 2010 tại tp Ho Chi Minh, Vietnam: ''South
China Sea—Three Stages, Four Challenges, Two Regional Approaches and One
Confidence'' at 12–13. On file with the authors.

[121] UN, ''Vietnam: Dispute Regarding the Law on the Exclusive Economic
Zone and the Continental Shelf of the People's Republic of China which was
Passed on 26 June 1998'' (1998) 38 Law of the Sea Bulletin 54 at 55.

[122] Vietnam, ''Letter to the Secretary-General of the United
Nations—86/HC-2009'' (8 May 2009), online: UN
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm_re_chn_2009re_vnm.pdf.

[123] Vietnam, ''Viet Nam Request the Chinese Side to Remove from SBSM
Map Service All Data and Information that Violate Viet Nam's
Sovereignty'' (5 November 2010), online: Ministry of Foreign Affairs
http://www.mofa.gov.vn; Vietnam, ''Viet Nam Asks China to Remove Wrongful
Data in Its SBSM Map Service'' (26 January 2011), online: Ministry of
Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn.

[124] Vietnam, ''Foreign Ministry Spokesperson Nguyen Phuong Nga Answers
Question from the Media at the Press Conference on June 9th 2011 Concerning
the Viking II Incident'' (9 June 2011), online: Ministry of Foreign
Affairs http://www.mofa.gov.vn, nêu '"những hành vi có hệ thống
của phía TQ nhằm tranh chấp một khu vực không có tranh chấp
với mục tiêu hiện thực hoá yêu sách 'đường 9 chấm'
[sic], một mục tiêu không thể chấp nhận đối với Việt
Nam"; Vietnam, ''Press Conference on Chinese Maritime Surveillance
Vessel's cutting exploration cable of PetroViet Nam Seismic Vessel'' (1
June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn, nêu
"Đường chín vạch của TQ ở Biển Đông, còn gọi là
'đường lưỡi bò' là hoàn toàn không có căn cứ hợp pháp
và trái với Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển
mà Trung Quốc là một thành viên. Yêu sách chủ quyền này xâm
phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nhiều
nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, và do đó nhiều
quốc gia bác bỏ. TQ cố gắng để thực hiện tuyên bố này
thực tế làm căng thẳng tăng lên trong khu vực."

[125] Meeting of States Parties to the 1982 United Nations Convention on the
Law of the Sea, ''Twenty-First Meeting'' (13–17 June 2011), online:
UN Office of Legal Affairs, Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea
http://www.un.org/Depts/los/meeting_states_parties/twentyfirstmeetingstates
parties.htm (as further substantiated by participants in that meeting).

[126] . Pensions of Officials of the Saar Territory (Germany, Governing
Commission of the Saar Territory), Award of 4 September 1934, [2006] III
Reports of International Arbitral Awards 1553 at 1567, nêu: "quyền
phản đối của Chính phủ đó chỉ có được vào lúc này khi
họ biết về các sự kiện đó"; Fisheries Case, supra note 66 at
139; Nuno Sérgio MARQUES ANTUNES, ''Acquiescence'' in Wolfrum, ed.,
supra note 34, 4, para. 21; D.H.N. JOHNSON, ''Acquisitive Prescription in
International Law'' (1950) 27 British Yearbook of International Law 332
at 347, nêu: "nếu không biết thì không thể có sực mặc nhận
nào cả"; Jean BARALE, ''L'acquiescement dans la jurisprudence
internationale'' (1965) 11 Annuaire franc¸ais de droit international 389
at 400: ''việc mặc nhận chỉ có thể liên quan đến một
tình huống đã được biết đến với nước mặc nhận', and
401–4; I.C. MACGIBBON, ''The Scope of Acquiescence in International
Law'' (1954) 31 British Yearbook of International Law 143 at 173, nêu:
"mệnh đề cho rằng việc sở hữu trên đó quyền sở hữu
bằng cách dựa vào thời hiệu (prescription) phải thoả yêu cầu
của trạng thái rõ ràng (notoriety) là hiếm khi đáng ngờ", and
174–6.

[127] Barale, supra note 129 at 404–6.

[128] Martti KOSKENNIEMI, ''L'affaire du passage par le
Grand-Belt'' (1992) 38 Annuaire français de droit international 905 at
931; Fisheries Case, supra note 66 at 138; Right of Passage over Indian
Territory (Portugal v. India), [1960] I.C.J. Rep. 6 at 40. Xem thêm Land,
Island and Maritime Frontier Dispute, supra note 111 at 577, para. 364.

[129] Fisheries Case, supra note 66 at 138; Chamizal Case (Mexico v. United
States), Award of 15 June 1911, [2006] XI Reports of International Arbitral
Awards 309 at 329.

[130] E.g. Hyung K. LEE, ''Mapping the Law of Legalizing Maps: The
Implications of the Emerging Rule on Map Evidence in International Law''
(2005) 14 Pacific Rim Law and Policy Journal 159 at 159–75, 188;
Abou-el-Wafa, supra note 37 at 438–9.

[131] Abou-el-Wafa, supra note 37 at 128–9.

[132] Xem generally Sam BATEMAN and Ralf EMMERS, eds., Security and
International Politics in the South China Sea: Towards a Cooperative
Management Regime (Abingdon: Routledge, 2009).

[133] . Đối với một tổng quan về các phương pháp hội thảo
và thành công của nó, xem SONG Yann-Huei, ''The South China Sea
Workshop Process and Taiwan's Participation'' (2010) 41 Ocean
Development and International Law 253 at 256–60.

[134] Xem chẳng hạn. Aldo CHIRCOP, ''Regional Cooperation in Marine
Environmental Protection in the South China Sea: A Reflection on New
Directions for Marine Conservation'' (2010) 41 Ocean Development and
International Law 334; John W. MCMANUS, SHAO Kwang-Tsao, and LIN Szu-Yin,
''Toward Establishing a Spratly Islands International Marine Peace Park:
Ecological Importance and Supportive Collaborative Activities with an
Emphasis on the Role of Taiwan'' (2010) 41 Ocean Development and
International Law 270; TUAN Vo Si and John PERNETTA, ''The UNEP/GEF South
China Sea Project: Lessons Learnt in Regional Cooperation'' (2010) 53
Ocean and Coastal Management 589 SONG Yann-Huei, ''AMarine Biodiversity
Project in the South China Sea: Joint Efforts Made in the SCS Workshop
Process'' (2011) 26 International Journal of Marine and Coastal Law 119.

[135] Robert C. BECKMAN, ''Joint Development of Hydrocarbon Resources in
the South China Sea: International Legal Framework'' (16–17 June 2011),
online: National University of Singapore—Centre for International Law
http://cil.nus.edu.sg/wp/wp-content/uploads/2011/06/Session-2-Beckman-
Session-2-CIL-JD-SCS-pdf.pdf. Xem chẳng hạn. Memorandum of Understanding
between Malaysia and the Socialist Republic of Vietnam for the Exploration
and Exploitation of Petroleum in a Defined Area of the Continental Shelf
Involving the Two Countries, 5 June 1992 (entered into force 4 June 1993),
online: NUS-CIL
http://cil.nus.edu.sg/1992/1992-memorandum-of-understanding-between-malaysia-and-thesocialist-
republic-of-vietnam-for-the-exploration-and-exploitation-of-petroleum-in-a-defined-area-of-thecontinental-
shelf-involving-the-two-c/.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13382), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét