Bùi Diễm - Trong Gọng Kềm Lịch Sử

<center><img src="http://tuvy.com/resource/books/i/injaw1.jpg" /></center>

<center><strong>TRONG GỌNG KỀM LỊCH SỬ</strong></center>

<strong>Lời Người Dịch</strong>

Đã có nhiều quyển sách viết về Việt Nam trong những năm
vừa qua, trong số này, không ít đã diễn tả tường tận
những cảnh tượng đồi bại của chế độ cũ, những cuộc
tranh chấp ngấm ngầm trong chánh phủ hay trên bàn đàm phán.
Tất cả đều viết về những việc thật gần, thật cận,
hoặc từ năm 1960–1975, hoặc từ những năm sau. Mỗi quyển
đều nói lên cương vị của người viết hay về một giai
đoạn đặc thù của lịch sử. Nhưng quyển Trong Gọng Kềm
Lịch Sử, nguyên tác In The Jaws Of History của ông Bùi Diễm và
David Chanoff có lẽ đã ám ảnh người đọc sâu xa hơn tất
cả.

Chỉ nói riêng về chiều dài, tác giả đã đi ngược suốt từ
thời Pháp Thuộc qua thời kỳ Bảo Đại, ông Diệm cho đến
những ngày chót khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ và đề cập
đến những nhân vật chìm, nổi trong chính trường từ lúc
phôi thai như những học sinh ở trường Thăng Long cùng Ban
Giảng Huấn cho đến những sảnh đường quyền lực ở Hoa
Thịnh Đốn. Trong suốt 343 trang sách, ông Bùi Diễm, nguyên
Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn, con ruột học giả Bùi
Ưu Thiên và cháu ruột sử gia Trần Trọng Kim đã thuật lại
cuộc đời của mình cũng như cuộc đời của những người
cùng lứa tuổi trong một thế khóa oái oăm của lịch sử. Từ
ngày biết nhận xét cho đến lúc đã thực sự bị cắt rời
khỏi đất nước, cuộc đời tác giả được mở ra gần như
trọn vẹn trong 36 chương sách: "Gọng Kềm, Hội Kín, Khủng
Bố, Lập Trường… Đảo Chánh…" Tất cả những danh từ
nói về những cảm quan cũng như các biến cố quá khứ đều
nằm gọn "trong gọng kềm lịch sử," một bầu không khí
khắc nghiệt, mang tính chất định mệnh (Historical Determinism)
chẳng khác nào bầu không khí của Chiến Tranh và Hòa Bình,
kiệt tác của Leo Tolstoy. Quyển sách dù nặng phần chính trị
nhưng mang đầy tính chất văn chương trong lời viết. Có lẽ
lối viết là do nỗ lực cố đem cảm quan của riêng người
kể (hoặc thế hệ người kể như đã minh xác trong lời mở
đầu) đến với người đọc nên mặc dù quyển sách được
viết từ lối nhìn chủ quan, chính cảm quan của người kể
đã mang lại tính chất văn chương trong lối diễn tả.

Trong cái thế xiết chặt của lịch sử thì một cá nhân dẫu
có vùng vẫy cách nào cũng không thể thoát ra khỏi bước kềm
tỏa. Một cá nhân dầu ở cương vị nào, dẫu phấn đấu thế
nào cũng không thể chuyển lay cả toàn cục diện.

Những cái buông, bắt ở một tư thế nào đó không còn thuộc
phạm trù của tầm với đã biến con người thành một con ốc
trong bộ máy to lớn của lịch sử. Có những lúc lịch sử đã
thoát thai, thành một quái vật khổng lồ đuổi bắt những
người trong cuộc một cách nghiệt ngã. Lịch sử đã không cho
phép những người trong cuộc giữ phần lèo lái. Khi bánh xe
lịch sử chuyển hướng những người trong cuộc thường phải
sững sỡ vì lịch sử không còn đứng về phía họ. Trong cơn
loạn đả, lịch sử đã trong một phút giây nào đó, bằng
cách này hay cách khác, trở nên một con vật khổng lồ dồn
họ về ngõ cụt. Dầu muốn, đầu không, bất thình lình những
mộng ước cao xa, tuyệt vời bỗng chuyển thành những tăm tối
bắt buộc. Những cơn phong ba của lịch sử đã dồn dần đám
người nghiệt ngã vào một hố thẳm không cùng của tuyệt
vọng. Trong cơn phẫn nộ điên cuồng, lịch sử đã dẫm nát
mọi chướng ngại vật. Danh dự hoặc lương tâm. Tâm hồn hay
thể xác. Tất cả đều bị nghiền nát vì gọng kềm lịch
sử. Giữa phút thăng hoa cuồng dại, lịch sử đã chẳng cần
nhớ đến luận lý. Lịch sử đã hoàn toàn thoát khỏi phạm vi
của lý trí. Những vết hằn của những con người bị nghiền
nát đôi khi tản mát dần đi qua những tiếng thở dài bi phẫn,
những cơn ủ dột triền miên, nhưng đôi khi những vết hằn
đó, ở những góc độ khốc liệt nhất bỗng cô đọng, phát
ra thành những tiếng kêu bi thảm. Tiếng kêu của lịch sử.
Những vết hằn đó đã điểm tô lịch sử, không phải bằng
những vương miện của chiến thắng, không phải bằng những
ân sủng không ngừng của danh dự, mà là điểm tô bằng những
giòng máu, những giọt nước mắt, những cực nhục của những
hòn đá xanh cục cằn không ai nhắc đến trong các đoạn
đường lịch sử.

Kể từ thời khi lịch sử phát sinh cho đến hiện tại, có lẽ
lúc nào người ta cũng chỉ nhìn về hào quang của những lúc
chiến thắng. Người ta thường quên số phận của những kẻ
kém may mắn hơn, số phận của những vết hằn.

Nhưng có một lúc nào đó, những vết hằn bỗng tỏa ra những
hấp lực lạ kỳ, bỗng nhiên óng ánh, thiêng liêng trong bản
chất chân thật cố hữu. Khi những tiếng ngợi ca chiến thắng
đã trở thành một thứ "Tiếng Trống" bập bùng vô nghĩa,
người ta bỗng phát hiện ra rằng những viên đá xanh đã góp
phần không kém vào việc tạo dựng lịch sử. Lịch sử đã
chối bỏ vinh quang đối với những vết hằn, nhưng những vết
hằn đã điểm tô cho lịch sử. Những vết hằn, những cái
nhìn từ những tư thế thảm khốc nhất, chẳng những chỉ
điểm tô mà hóa thân trong lịch sử. Chính những vết hằn là
âm hưởng rõ rệt nhất, là hình ảnh sinh động nhất của
lịch sử. Những vết hằn là… lịch sử.

Đã 13 năm qua, lịch sử vẫn tiếp tục bằng những kế hoạch
năm năm, bảy năm, bằng những trại học tập cùng khắp các
miền xa xôi hẻo lánh bên nhà, bằng những hàng người lũ
lượt theo nhau tản cư, bằng những đứa bé lớn lên hoàn toàn
ngơ ngác, bằng những người lớn quật quã kinh hoàng hằng
đêm. Còn, Mất, Xảo Trá, Bất Cận Nhân Tình, Mù Quáng, Hẹp
Hòi, U Mê…, tất cả chỉ là những tên gọi khác nhau của
những con người lỡ đứng về phía hố thẳm của trốn chạy.
Lịch sử đã theo sát họ để ám ảnh. Ở bất cứ tư thế
nào họ cũng nhìn thấy gọng kềm của lịch sử đang khép lại
và họ phải u buồn nhận chịu những kiếp sống của một
vết hằn. Ám ảnh của lịch sử là ám ảnh của đời sống.
Chẳng những về một mặt mà là về mọi mặt. Không phải
chỉ là một lúc mà là mọi phút, mọi giây. Tâm hồn, thể
xác, suy tư, nội tâm, ngoại cảnh. Số phận của những vết
hằn là số phận của những phẫn khích truyền kiếp luôn luôn
phải trốn tránh một sự thật hoàn toàn bất công.

Đã 13 năm qua lịch sử vẫn theo sát những kẻ sống sót, vẫn
toan tính nghiền nát số phận của những kẻ bất hạnh. Bên
nhà kẻ thắng cuộc nhất thời vẫn vẽ vời, tô son điểm
phấn cho "Cuộc Đại Thắng Mùa Xuân." Bên ngoài, từng loạt
hồi ký của Neil Sheehan, của Frank Snepp, của David Halberstam,
của… Khép giữa hai gọng kềm này là những vết hằn, những
người khốn khổ trong cuộc đã ngàn đời im lặng hoặc vẫn
thảm sầu trong im lặng của bất công. Hình như chẳng có gì
đáng nhớ. Hình như chẳng có gì cao đẹp. Hình như tất cả
chỉ là những thủ đoạn thần sầu của những người lãnh
đạo đã mù quáng vì uy quyền, đã mất hẳn nhân tâm. Hình
như… Chẳng có gì đáng cần biết thêm. Chẳng có gì cần
để học hỏi. Tất cả đều chỉ là lỗi lầm và tất cả
đều là những việc đã qua, sẽ qua hoặc nên cho qua. Đã có
lần người ta tin rằng sự thật chắc chắn phải nằm trong
những quyển sách viết dài dằng dặc, đổ hất trách nhiệm
về phía những vết hằn đang câm lặng. Nhưng người ta đã
quá hấp tấp, vì những vết hằn đã lên tiếng. Tiếng nói
thống khổ của những nạn nhân một đời đi tìm lý tưởng.
Tiếng nói của tủi cực phải ấm ức phát ra từ tiềm thức
vì tai nạn xảy ra chập chồng đã đẩy lui vào ký ức tầm
mức quan trọng của những tai ương lần trước.

Câu chuyện bắt đầu bằng một ngôi trường và người kể
vốn là một học sinh. Câu chuyện kéo dài, vô lý như những
cuộc chiến tranh dài đến gần như bất tận. Câu chuyện là
chuyện của một ông thày đi ruồng bố, tiêu diệt ngay chính
đám học trò của mình. Câu chuyện là chuyện của một nhóm
bạn bè, sát cánh bên nhau ở những bước thập tử nhất sinh
bỗng ra tay tàn sát lẫn nhau. Câu chuyện là chuyện của một
bầu không khí yên lặng thôi miên trong lớp học khi học sinh
ngồi lắng nghe những bài giảng ly kỳ dần dà biến chuyển
thành một bầu không khí đe dọa của những cuộc mất tích mà
trong đó mỗi học sinh đã quen với thói quen "đưa tay sờ
báng súng." Câu chuyện là câu chuyện lan man từ buổi giao
thời của chế độ phong kiến cho đến lúc bước sang chế
độ quốc gia dân chủ. Mọi vật đều xoay chuyển và xoay
chuyển với một tốc độ bàng hoàng, kinh dị. Tất cả những
quan niệm về cuộc đời, về chính trị, về luân lý và về
những điều cơ bản nhất đều biến đổi. Tiết tháo của
những nhà Nho bị quật ngã vì những sự lừa đảo của
Realpolitik. Những quan niệm Lão, Trang khách quan, trung dung bị
đẩy vẹt đi vì những tiếng vọng thôi thúc từ thế giới
bên ngoài. Những tiếng kêu gọi của luận lý bị xô ngã nhào
bởi những vận động khéo léo bạo động hóa tình cảm của
những kẻ đã quá lâu phải chịu bất công. Những cơn sóng
tạo thành do những sự xung đột kịch liệt của suy tư và
hiện trạng loan ra cùng khắp từ Hà Nội cho đến tận những
vùng rừng rú hoang sơ như Bái Thượng. Khung cảnh cứ biến
dần, biến dần từ những bài học lịch sử của Napoleon, từ
những nhì nhằng vớt vát của đế quốc Pháp khi chánh quyền
thực dân đang ngã nhào cho đến những ngờ nghệch khiếp hãi
của việc Hoa Kỳ can thiệp.

Câu chuyện thật dài là vì câu chuyện của một thế hệ,
nhưng câu chuyện không thể kể một lúc mà phải chuyển thành
hồi. Mỗi hồi mở ra và rồi từ từ khép lại. Không phải
không còn gì để kể mà là vì câu chuyện phải khép lại để
nhường chỗ cho những hồi kế tiếp. Thảm kịch to lớn nhất,
ám ảnh nhất được đưa lên đầu và rồi màn ảnh to tát
được khép dần, khép dần, đi sâu vào ký ức của người kể
và lại từ từ mở ra nối kết điểm đầu với điểm cuối,
từ thuở ấu thời cho đến những sự kiện sau cùng và rồi
hình ảnh được hoàn toàn hợp nhất, hoàn toàn quyện lại
với nhau như một bức tranh vĩ đại và bi thảm. Câu chuyện
từ nhịp, từ nhịp như nhịp điệu của tâm hồn, của con tim.
Câu chuyện vẽ qua vẽ lại như một đồ thị tuần hoàn của
đời sống. Chuyện kể như ám ảnh của một bức tranh truyền
thần khi đã ra khỏi tầm mắt thì để lại âm ba của một
cái gì đứt đoạn. Đọc xong có lẽ không thể nhớ được
chuyện được kể từ đoạn nào vì tất cả đều nối liền
như một vòng tròn khép kín.

Có lẽ nhịp điệu tuần hoàn của người kể chứng tỏ
người kể đã bị ám ảnh vì nhịp điệu tuần hoàn của sự
bất công. Có lẽ người kể đã mong mỏi tìm kiếm một sự
tuần hoàn của lịch sử trong suốt cuộc đời. Cuộc đời
người kể luôn luôn phải đứng vào nghịch cảnh, phải tìm
những gì không hiện hữu. Người kể đã đi tìm ảo ảnh trong
suốt cuộc đời và dĩ nhiên ảo ảnh đó, nếu hiện hữu cũng
không thực sự nằm trong tầm tay người kể. Có thể lịch sử
sẽ đến cùng người kể trong tương lai, nhưng lịch sử đã
không ở cùng người kể trong suốt cuộc đời. Có thể lịch
sử sẽ tuần hoàn, nhưng chu kỳ tuần hoàn đó dài quá, dài
hơn tầm với của thế hệ người kể. Câu chuyện của người
kể là câu chuyện của một kẻ đi tìm và đã tìm suốt một
cuộc đời. Mục tiêu của cuộc tìm kiếm có thể là ảo ảnh
nhưng chính sự đi tìm đã tạo nên ý nghĩa.

Trong suốt cuộc đời người kể, dường như mỗi bước đi là
mỗi bước gấp rút không thể trở về. Mỗi điều trông thấy
là mỗi điều ám ảnh không quên. Những chỗ đi qua bỗng thình
lình mất đi: "Phủ Lý không còn nữa… Nó đã bị chính dân
làng đốt cháy trong một cuộc chiến tranh tiêu thổ, dưới sự
chỉ huy của Võ Nguyên Giáp." Những người vừa mới trông
thấy đã tự nhiên vĩnh viễn chẳng bao giờ còn được gặp:
"Một khi chúng tôi đã ở hai bên làn ranh giới Pháp Việt thì
không ai có thể quả quyết được ngày gặp lại… Định
mệnh đã không bỏ qua cho gia đình chúng tôi cũng như đã không
hề bỏ qua cho bao nhiêu những gia đình người khác." Cuộc
đời người kể là một cuộc đời luôn bị xô đẩy, dồn
ép. Khi thì ngược mạn Lào Kay, lúc thì lênh đênh trên giòng
sông Đáy. "Lúc đò lướt qua các vùng làng xóm, tâm sự của
tôi cũng cay đắng như mùa đông bên ngoài… Mọi người đang
tham gia trong một cuộc chiến mà chính tôi cũng rất muốn
được góp phần. Nhưng 'họ' đã ép tôi… Je suis un Évadé…
Tôi là kẻ phản bội."

Trong khi vượt qua tất cả các đoạn đường tác giả đã
không quên mà vẫn nhớ. Nhớ để kể. Từ chiếc máy bay P–38
năm 1945 cho đến cuộc tuyên án tử hình Việt Nam ở Capitol
Hill. Từ thế giới tao nhã trừu tượng của những cơn đam mê
toán học cho đến những xác chết đói dọc theo hai bên vỉa
hè Hà Nội năm 44–45. Từ những mơ ước ngây thơ của những
thiếu niên bên lửa trại bập bùng mơ tưởng về những luân
lưu truyền thống lịch sử của dân tộc cho đến những cay
đắng khi hoài bão dân chủ cuối cùng sụp đổ.

Trong cuộc chia cắt cuối cùng , người kể không còn dính liền
được với đất nước. Đất nước trong cơn dãy chết đã xô
đổ tan tành hoài bão của cuộc đời người kể. Như những
vòng tuần hoàn bắt buộc, những giòng người lại đổ xô,
dày xéo lên nhau, chẳng khác nào những giòng người tản cư
đã xô đẩy nhau ra khỏi Hà Nội trong cuộc chiến tranh chống
Pháp, nhưng lần này người kể không còn là người trong cuộc.
Vẫn những quận lị nối tiếp theo nhau xóa tên trên bản đồ
nhưng người kể đã chuyển thành một kẻ bàng quan bất lực
ngồi lịm trước màn ảnh truyền hình. Người kể vẫn xem,
nhưng xem ở phương vị tách rời, xem sự thật đang lên khuôn
thành những màn bi kịch. Và lần này, cũng chẳng khác gì
những lần trước đây, người kể lại bị hất vào những tư
thế bàng quan bắt buộc.

Cả câu chuyện là câu chuyện của chết chóc. Cái chết của
từng người như cái chết của Phúc, của Đặng Vũ Chu, của
Trương Tử Anh. Cái chết của từng đoàn người như những
đợt bạn bè người kể thi nhau ngã gục ở dọc sông Hồng
Bắc Việt. Cái chết của các làng mạc, quận lị như Phủ Lý.
Cái chết của những ước mơ, hoài bão trong tâm hồn các chính
khách quốc gia như Bác Sĩ Quát. Cuộc đời của người kể
dường như cuộc đời của một chứng nhân nhìn quê hương qua
cơn hấp hối. Những giòng người xuôi Nam, những người cùng
thế hệ, dường như tất cả đều chết, chỉ còn lại một
nhân chứng khắc khoải với thời gian dài dằng dặc –Người
Kể.

Câu chuyện ấp ủ một nỗi buồn triền miên vì là câu chuyện
chết chóc của một thế hệ. Nhưng người kể luôn luôn tin
tưởng ở tương lai. Cũng như những vòng tuần hoàn hoán
chuyển trước mắt, người kể đã chờ, đã đỏ mắt tìm
trông nhưng khi biết rằng việc chờ không nằm trong tầm với
thì người người kể lại chấp nhận. Vì lẽ người kể tin
rằng việc chờ sẽ xảy ra trong tương lai. Cũng như người kể
không nắm rõ được những định mệnh trong quá khứ, người
kể không thể cầm chắc trong tay việc xảy ra trong tương lai.

Trong gọng kềm lịch sử, máu và nước mắt của một thế hệ
đã đổ ra thành một thiên bi kịch dài triền miên suốt một
giòng đời và người kể kể lại bằng tâm thức từng cuộc
sống của những vết hằn mà chính bản thân mình chứng kiến.
Qua câu chuyện của người kể, những vết hằn quằn quại, di
động trong khổ đau của hố thẳm im lặng, nhưng người kể
không hề quên họ. Tất cả những gì đã mất, đã qua, đã
khuất sâu trong âm ỉ của thời gian đều còn sống, mặc dầu
chỉ còn sống trong ký ức và người kể vạch dần ký ức
của mình để đưa ra những miểng đá hóa thạch cục cằn
trong tâm tưởng. Trong thế kẹp ác liệt của lịch sử những
vết hằn từ từ hiện rõ, chỗ đỏ ối, chỗ tím, chỗ thâm
quầng, chỗ đen đủi, nhưng tất cả đều hiện diện. Và
những vết hằn đứng đó mãi mãi điểm tô cho lịch sử.

Falls Church, Virginia, 1987.
Phan Lê Dũng

Liên kết đến sách, pdf: http://ebooks.neofob.org/JAWS/JAWS.pdf


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13497), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét