<h2>II. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN</h2>
- Khủng hoảng thừa CTCK;
- Thị trường mất cân đối lớn khi các công ty niêm yết chủ
yếu có quy mô nhỏ, chất lượng hàng hóa chưa cao;
- TPDN phần lớn do các CTCK, công ty BĐS phát hành, rủi ro cao;
- Quá nửa số cổ phiếu trên cả 2 sàn có giá dưới mệnh giá
và giá trị sổ sách. Thanh khoản trên cả 2 sàn giao dịch
chứng khoán giảm mạnh;
- Thị trường kém minh bạch
- Phương thức T+3 là rào cản đối với thanh khoản của thị
trường;
- Các khoản tín dụng đối với khách hàng đầu tư chứng
khoán rất lớn, rủi ro cao;
- Phần lớn CTCK thua lỗ, cần tái cấu trúc sớm và quyết
liệt.
- Rủi ro chéo giữa ngân hàng và thị trường chứng khoán đòi
hỏi nâng cao vai trò và thẩm quyền của cơ quan giám sát hợp
nhất - UBGSTCQG
<h3>1. Đánh giá cấu trúc và sự phát triển của thị trường
chứng khoán</h3>
<h4> 1.1. Số lượng công ty chứng khoán, công ty quản lý
quỹ</h4>
<i>(i) Thị trường chứng khoán đối mặt với nguy cơ khủng
hoảng thừa CTCK, mất cân đối về thị phần, vốn điều
lệ.</i>
Đến cuối tháng 12/2011, thị trường chứng khoán có 105 CTCK,
trong đó có 27 công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng
khoán. 10 CTCK hàng đầu đã chiếm tới 54,39% thị phần môi
giới tại HSX và 51,12% thị phần môi giới tại HNX. Một nửa
thị trường còn lại, 94 CTCK phải cạnh tranh gay gắt. Trong khi
đó các thị trường chứng khoán Thái Lan có quy mô vốn hóa
gấp 8 lần Việt Nam nhưng chỉ có 41 CTCK[1] thì rõ ràng Việt
Nam đang khủng hoảng thừa CTCK.
Quy mô vốn của các CTCK cũng mất cân đối lớn. Vốn điều
lệ của 20 công ty lớn nhất chiếm 58,96% tổng vốn điều lệ
của các CTCK, 27/105 công ty có vốn điều lệ dưới 100 tỷ
đồng, công ty lớn nhất có vốn điều lệ là 3.526 tỷ đồng,
bằng 176 lần vốn điều lệ của công ty nhỏ nhất. Các CTCK
có quy mô nhỏ khó huy động vốn từ nhà đầu tư cũng như
ngân hàng, tiềm lực tài chính hạn chế, thị phần rất nhỏ,
nguồn nhân lực hạn chế, ít có khả năng đổi mới hạ tầng
công nghệ.
<i>(ii)Các công ty quản lý quỹ có quy mô nhỏ, khó khăn trong
việc huy động nguồn vốn. </i>
Đến 31/12/2011, thị trường chứng khoán có 47 công ty quản lý
quỹ. Phần lớn (80%) các công ty quản lý quỹ có vốn điều
lệ chỉ từ 25 đến 50 tỷ đồng, chỉ có 6 công ty có vốn
điều lệ trên 100 tỷ đồng, công ty có vốn điều lệ lớn
nhất chỉ là 500 tỷ đồng. Trong 3 năm gần đây, các công ty
quản lý quỹ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động
vốn từ cả nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài.
Phần lớn các quỹ (64%) đã giải ngân gần hết vốn huy
động. Các chứng chỉ quỹ bị chiết khấu từ 29% đến 45%
trên cả thị trường quốc tế và thị trường trong nước
cũng làm nhà đầu tư chùn bước khi quyết định góp thêm vốn
vào công ty quản lý quỹ.
Hoạt động kinh doanh của các công ty quản lý quỹ đang có
sự phân hóa rõ rệt. Những công ty nhỏ do các công ty phi tài
chính thành lập chỉ hoạt động cầm chừng. Những công ty do
các định chế tài chính lớn thành lập được sự hỗ trợ
vốn của công ty mẹ nên có lãi hoặc thua lỗ không đáng kể
nên có thể trụ lại. Xu hướng hình thành quỹ mở là tất
yếu và phần lớn quỹ đại chúng sẵn sàng chuyển đổi mô
hình từ quỹ đóng sang quỹ mở Do thị trường chứng khoán đi
xuống nên việc huy động vốn thành lập quỹ càng khó khăn.
<h4> 1.2. Số lượng công ty niêm yết</h4>
<i>Thị trường mất cân đối lớn khi phần lớn công ty niêm
yết có quy mô nhỏ, chất lượng hàng hóa kém.</i>
Đến 31/12/2011, có 699 mã cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm
yết trên hai sàn HSX và HNX. Thị trường mất cân đối lớn khi
có ít công ty có quy mô lớn (vốn hóa thị trường trên 1.000
tỷ đồng), trong khi có có quá nhiều công ty có quy mô nhỏ
(vốn điều lệ và vốn hóa < 100 tỷ đồng), tổng vốn hóa
thị trường của 20 doanh nghiệp hàng đầu chiếm hơn 69% vốn
hóa thị trường của mỗi sàn giao dịch. Đến cuối năm 2011,
chỉ có 16 công ty có vốn hóa thị trường trên 5.000 tỷ
đồng, trong đó 4 công ty mà tỷ lệ sở hữu đối với nhà
đầu tư nước ngoài đã chạm ngưỡng tối đa. Sự mất cân
đối này tạo điều kiện cho việc thao túng, làm giá cổ
phiếu và làm thị trường chứng khoán Việt Nam kém hấp dẫn
nhà đầu tư nước ngoài.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_10.52.45_am.png"
width="531" height="214" alt="screen_shot_2012-07-09_at_10.52.45_am.png"
/></center>
Một hiện tượng đáng báo động của năm 2011 là việc một
số công ty niêm yết dự kiến hủy niêm yết hoặc tạm ngừng
kế hoạch niêm yết. Giá hàng loạt cổ phiếu xuống dưới
mệnh giá đã ảnh hưởng xấu đến uy tín doanh nghiệp. Việc
thị trường chứng khoán có xu hướng đi xuống kéo dài và giá
nhiều cổ phiếu sụt giảm mạnh đã tác động xấu tới quá
trình thúc đẩy các doanh nghiệp niêm yết.
Chất lượng cổ phiếu niêm yết đi xuống khi có 16% công ty
niêm yết bị thua lỗ năm 2011, khoảng 60% công ty niêm yết có
lợi nhuận sụt giảm so với năm trước. Theo HSX, kết quả kinh
doanh của các công ty niêm yết tại đây giảm đáng kể với
lợi nhuận giảm 13,22%, ROE năm 2011 giảm xuống 14,82% từ mức
20,09% trong năm 2010. 62% công ty niêm yết có thị giá cổ phiếu
thấp hơn mệnh giá, 81% công ty niêm yết có thị giá cổ phiếu
dưới giá trị sổ sách.
<h4>1.4. Mức vốn hóa thị trường</h4>
<em>Thị trường chứng khoán Việt Nam có mức vốn hóa thị
trường/GDP và chỉ số P/E gần như thấp nhất trong khu
vực.</em>
Mặc dù có thêm 55 công ty niêm yết trong năm 2011 nhưng do thị
trường suy giảm kéo dài nên mức vốn hóa thị trường tại
thời điểm 31/12/2011 giảm đáng kể, chỉ đạt 539.000 tỷ
đồng, giảm 187.000 tỷ đồng (26%) so với mức 726.000 tỷ
đồng cuối năm 2010. Mức vốn hóa thị trường/GDP giảm từ
mức 36,6% cuối năm 2010 xuống 21,3% vào cuối năm 2011. So với
các nước trong khu vực, mức vốn hóa thị trường/GDP của
thị trường chứng khoán Việt Nam vào loại thấp nhất. Thị
trường chứng khoán vẫn chỉ đóng vai trò nhỏ bé trong việc
huy động vốn trong nền kinh tế.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_10.55.10_am.png"
width="491" height="191" alt="screen_shot_2012-07-09_at_10.55.10_am.png"
/></center>
Tại thời điểm 31/12/2011, P/E tính chung cho các cổ phiếu niêm
yết tại HSX là 7,19, tại HNX là 6,78. Với mức giá cổ phiếu
ở vùng hấp dẫn, chỉ số P/E gần thấp nhất trong các thị
trường mới nổi thì thị trường chứng khoán Việt Nam hứa
hẹn sẽ là một trong những thị trường hấp dẫn đối với
nhà đầu tư trong thời gian tới.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_10.55.56_am.png"
width="530" height="196" alt="screen_shot_2012-07-09_at_10.55.56_am.png"
/></center>
<h4>1.5. Thị trường trái phiếu</h4>
<em>Thị trường trái phiếu chưa phát triển với tỷ lệ dư
nợ trái phiếu/GDP thấp hơn nhiều so với các nước trong khu
vực. Thị trường TPCP phân mảnh còn thị trường TPDN thanh
khoản thấp</em>
Tại thời điểm 31/12/2011, tổng dư nợ trái phiếu khoảng
500.000 tỷ đồng [1], trong đó dư nợ TPDN chiếm tỷ lệ 31%, dư
nợ TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu
chính quyền địa phương chiếm tỷ lệ 69%. Tỷ lệ dư nợ
trái phiếu/GDP cuối năm 2011 là 19,8% vẫn thấp hơn nhiều so
với các nước trong khu vực (phần lớn trên 34%).
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_10.57.21_am.png"
width="320" height="109" alt="screen_shot_2012-07-09_at_10.57.21_am.png"
/></center>
Phần lớn TPCP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh đã
được niêm yết trên thị trường TPCP chuyên biệt tại HNX (502
mã trái phiếu tại thời điểm 31/12/2011) với tổng giá trị
theo mệnh giá là 279.000 tỷ đồng. Trong đó, 105 mã trái phiếu
(21%) có khối lượng niêm yết dưới 100 tỷ đồng. Việc có
quá nhiều mã trái phiếu niêm yết và khối lượng niêm yết
nhỏ dẫn đến tình trạng phân mảnh trên thị trường với
rất nhiều mã thanh khoản thấp và thậm chí không có giao
dịch. Điều này cũng gây khó khăn cho việc xây dựng đường
cong lãi suất chuẩn.
Phần lớn TPDN được phát hành riêng lẻ cho người mua thường
là các ngân hàng và công ty tài chính, chưa được niêm yết và
rất ít giao dịch trên thị trường thứ cấp vì người mua
trái phiếu thường nắm giữ đến khi đáo hạn.
<h3>2. Đánh giá sự lành mạnh tài chính của thị trường
chứng khoán</h3>
<h4> 2.1. Thực trạng thị trường chứng khoán</h4>
<h5>2.1.1. Thị trường trái phiếu </h5>
<h6>2.1.1.1. Thị trường trái phiếu Chính phủ</h6>
<i>(i) Thị trường sơ cấp và thứ cấp đều giảm nhẹ trong
năm 2011.</i>
Đối với thị trường sơ cấp, huy động vốn thông qua TPCP
và TPCP bảo lãnh trong năm 2011 đạt khoảng 115.500 tỷ đồng,
xấp xỉ mức phát hành năm 2010. Mặc dù chịu tác động của
chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng giá trị TPCP huy động
hầu như không suy giảm do các ngân hàng vẫn ưu tiên đầu tư
TPCP vì có độ an toàn cao và thanh khoản tốt hơn hẳn so với
hoạt động tín dụng hay cho vay liên ngân hàng.
Đối với thị trường thứ cấp, trong năm 2011, giá trị giao
dịch TPCP tại HNX đạt khoảng 90.379 tỷ đồng, giảm 3,6% so
với cùng kỳ năm trước. Giá trị giao dịch TPCP suy giảm không
đáng kể do TPCP có độ an toàn cao và thanh khoản tốt như đã
đề cập.
<i>(ii) Một số nguy cơ đối với thị trường TPCP.</i>
- Mặc dù năm 2011 Chính phủ chủ trương thực hiện chính sách
tài khóa thắt chặt nhưng giá trị phát hành TPCP và TPCP bảo
lãnh chỉ giảm không đáng kể nên ảnh hưởng đến việc cắt
giảm nợ công.
- Nguồn vốn từ TPCP bị sử dụng kém hiệu quả và không
được giám sát chặt chẽ dẫn đến thất thoát, thâm hụt NSNN
và kết quả là khả năng trả nợ của Chính phủ ngày càng
khó khăn.
- Nhà đầu tư ít quan tâm đến TPCP kỳ hạn trên 5 năm do lo
ngại về sự bất ổn của tiền đồng nên khó huy động vốn
dài hạn.
<h6> 2.1.1.2. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp</h6>
<i> (i) Trái phiếu doanh nghiệp phát hành sụt giảm mạnh, tiềm
ẩn nhiều rủi ro. </i>
Các doanh nghiệp đã huy động được khoảng 17.350 tỷ đồng
từ TPDN trong năm 2011, bằng 30% năm 2010. Nguyên nhân của sự
giảm sút này là trong năm 2011 lạm phát cao, nhiều ngân hàng
gặp khó khăn về thanh khoản, kết quả kinh doanh của nhiều
doanh nghiệp giảm sút, nợ xấu gia tăng nên TPDN trở thành một
tài sản có độ rủi ro cao. Thực chất phần lớn TPDN phát
hành trong năm 2011 là các khoản tín dụng của ngân hàng cho
doanh nghiệp để tránh quy định về hạn mức cho vay phi sản
xuất dưới 16% tổng dư nợ hoặc được sử dụng để đảo
nợ cho doanh nghiệp.
Phần lớn trái phiếu này là trái phiếu do công ty BĐS hay CTCK
phát hành nên tiềm ẩn rủi ro cao. <b><i>Ước tính có đến 51%
giá trị TPDN do công ty BĐS phát hành và 40% trái phiếu do các
CTCK phát hành trong khi chỉ có 9% do doanh nghiệp sản xuất phát
hành</i></b>. Mặc dù trái phiếu do các CTCK và BĐS phát hành có
rủi ro cao nhưng nhiều trái phiếu loại này vẫn có lãi suất
thấp chỉ tương đương với lãi suất tiền gửi từ 13,5%/năm
đến 18,0%/năm. Điều này cho thấy sự hỗ trợ phi thị
trường của ngân hàng đối với TPDN. Nhằm tránh sự kiểm
soát của cơ quan quản lý, ngân hàng thường ủy thác cho một
ngân hàng bạn hoặc TCKT khác mua TPDN.
Từ sau ngày 20/10/2011 khi Thông tư 28 của NHNN quy định đầu
tư TPDN được tính vào tổng mức dư nợ tín dụng thì việc
phát hành TPDN gần như chấm dứt.
TPDN có rủi ro cao hơn khoản cho vay của ngân hàng do khó kiểm
soát các doanh nghiệp sử dụng vốn có đúng mục đích hay
không. Vốn huy động từ trái phiếu phần lớn được chuyển
thẳng cho tổ chức phát hành để đơn vị chủ động sử
dụng mà không bị giám sát bởi bên thứ ba. Toàn bộ nợ gốc
chỉ phải thanh toán một lần khi trái phiếu đáo hạn nên thay
vì trả nợ định kỳ như các khoản vay ngân hàng, doanh nghiệp
có thể quay vòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực có nguy cơ
rủi ro cao.
Lạm phát cao, môi trường kinh doanh đầy khó khăn thì nguy cơ
TPDN trở thành các khoản nợ quá hạn hoặc mất khả năng thanh
toán càng trở nên rõ nét khi hàng loạt công ty bị thua lỗ,
phá sản. Các tập đoàn quốc doanh lớn như Vinashin, EVN,
Vinalines đã bị thua lỗ hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng năm
2011 trong khi các đơn vị này đã phát hành hàng chục nghìn tỷ
đồng trái phiếu trong những năm gần đây (EVN: 5.000 tỷ đồng
(2009), 5.000 tỷ đồng (2010); Vinashin: 7.500 tỷ đồng (2007), 650
tỷ đồng (2009); Vinalines: 1.000 tỷ đồng (2010)) là tín hiệu
báo động về rủi ro đối với TPDN. Trong khi các doanh nghiệp
nhà nước này có thể được nhà nước hỗ trợ để trả nợ
thì trái chủ của trái phiếu do công ty cổ phần phát hành
đối mặt với rủi ro mất vốn rất lớn. Năm 2011, CTCK
Sacombank bị lỗ 788 tỷ đồng trong khi giá trị trái phiếu phát
hành là 1.490 tỷ đồng, CTCK Sài Gòn - Hà Nội lỗ 381 tỷ
đồng với giá trị trái phiếu phát hành là 250 tỷ đồng,
Công ty thép Vạn Lợi phát hành trái phiếu trị giá 500 tỷ
đồng năm 2010 và đang phải bán tài sản để trả nợ.
<i>(ii) Chưa có cơ quan đánh giá tín nhiệm tổ chức phát hành
trái phiếu cũng như xếp hạng trái phiếu.</i>
Việc chưa có cơ quan đánh giá tín nhiệm tổ chức phát hành
trái phiếu cũng như xếp hạng trái phiếu làm tăng rủi ro cho
người mua TPDN trên cả thị trường thứ cấp cũng như thị
trường sơ cấp khi thiếu khả năng đánh giá rủi ro của trái
phiếu cũng như tổ chức phát hành, lệ thuộc vào tổ chức tư
vấn phát hành hay tổ chức môi giới giao dịch trái phiếu.
<h5>2.1.2. Thị trường cổ phiếu</h5>
<h6>2.1.2.1. Diễn biến thị trường</h6>
Thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những thị
trường sụt giảm mạnh nhất trên thế giới trong năm 2011.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chịu ảnh hưởng và phản
ánh những khó khăn, bất ổn vĩ mô như lạm phát cao, hệ
thống ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, phần lớn doanh
nghiệp không đạt được kế hoạch doanh thu và lợi nhuận
đặt ra. Xu hướng suy giảm chiếm ưu thế rõ rệt với HNX-Index
giảm 48,6%, VN Index giảm 27,5%. 62% số cổ phiếu trên cả 2 sàn
có thị giá dưới mệnh giá. Đặc biệt trong 2 tháng cuối năm
khi các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản và phải tuân
thủ quy định về hạn mức cho vay phi sản xuất dưới 16%
tổng dư nợ nên đã bán giải chấp hàng chứng khoán trong khi
nhà đầu tư cá nhân ngừng giao dịch để chuẩn bị Tết âm
lịch thì mức độ sụt giảm càng mạnh mẽ. [1].
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.00.44_am.png"
width="537" height="258" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.00.44_am.png"
/></center>
<h6>2.1.2.2. Những nguy cơ đối với thị trường cổ phiếu niêm
yết</h6>
<em>(i) Thanh khoản sụt giảm nghiêm trọng với tổng giá trị
giao dịch của cả 2 sàn trong nhiều phiên dưới mức 1.000 tỷ
đồng.</em> Thị trường chứng khoán sụt giảm và khả năng
hồi phục yếu nên phần lớn nhà đầu tư không giao dịch và
rút tiền khỏi thị trường. Giá trị và khối lượng giao
dịch bình quân 1 phiên tính chung cả HNX và HSX (theo phương
thức khớp lệnh) trong năm 2011 là 790,72 tỷ đồng và 53,25
triệu cổ phiếu giảm 65% và 30% so với năm trước. Rất nhiều
cổ phiếu có khối lượng giao dịch chỉ ở mức vài trăm, vài
nghìn đơn vị trong cả phiên giao dịch, thậm chí có phiên
không có giao dịch.
<em>(ii) Việc lạm dụng đòn bẩy tài chính để đầu
tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân dẫn đến những biến
động mạnh về giá cổ phiếu cũng như khối lượng, giá trị
giao dịch và đặc biệt nguy hiểm khi thị trường đi
xuống.</em> Khi thị trường tăng trưởng thì giá cổ phiếu
tăng trần nhiều phiên liên tiếp nhưng khi thị trường đi
xuống giá giảm sàn nhiều phiên làm nhà đầu tư sử dụng
đòn bẩy tài chính bị thua lỗ, thậm chí mất hết toàn bộ
vốn đầu tư. Khi chính sách thắt chặt tiền tệ được thực
thi và một loạt ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản thì các
ngân hàng bán giải chấp cổ phiếu gây nên làn sóng bán tháo
cổ phiếu để trả nợ làm cho thị trường đi xuống và mất
thanh khoản.
<em>(iii) Tiêu chuẩn niêm yết bị buông lỏng, các Sở giao
dịch lại không được chủ động trong việc nâng cao tiêu
chuẩn niêm yết.</em>
Việc buông lỏng tiêu chuẩn niêm yết cũng như xác định giá
cổ phiếu trong phiên giao dịch đầu tiên là một trong những
nguyên nhân đẩy thị trường đi xuống. Nhiều cổ phiếu niêm
yết mới trong năm 2011 giảm giá tới 50% kể từ khi niêm yết
tới cuối năm 2011. Ước tính có 16% số công ty niêm yết bị
thua lỗ trong năm 2011. Theo HSX có đến 60% công ty niêm yết
không đạt được kế hoạch doanh thu và lợi nhuận đặt ra.
Một số doanh nghiệp bị thua lỗ trong nhiều năm, không trích
lập dự phòng đầy đủ, định giá tài sản quá cao. Các cổ
phiếu này vẫn được đầu cơ, thao túng giá cả và lôi kéo
nhiều nhà đầu tư tham gia nhằm mục đích giúp cổ đông lớn
thoái vốn.
Các Sở giao dịch không được linh hoạt quyết định tiêu
chuẩn duy trì niêm yết. Những quy định về hủy niêm yết
đối với công ty niêm yết trên sàn còn đóng, chưa có sự linh
hoạt, chưa đủ bao trùm các tình huống có thể xảy ra[1].
<i>(iv) Vai trò tạo lập thị trường của nhà đầu tư tổ
chức còn hết sức nhỏ bé nên thị trường thiếu ổn định,
dễ biến động mạnh theo tâm lý đám đông.</i> Luồng vốn
đổ vào thị trường chủ yếu là ngắn hạn và nhà đầu tư
cá nhân. Theo báo cáo của HSX, đối với giao dịch của nhà
đầu tư trong nước, giao dịch tự doanh của CTCK chiếm 5,62%,
nhà đầu tư tổ chức trong nước giao dịch chiếm 14% còn nhà
đầu tư cá nhân trong nước chiếm tới 67% giá trị giao dịch
toàn thị trường. Mặc dù chiếm tỷ trọng chi phối song các
nhà đầu tư cá nhân thường giao dịch theo kiểu lướt sóng
kiếm lời nhanh làm thị trường có thể hứng chịu những cú
"shock" với biến động rất lớn về giá cổ phiếu cũng
như giá trị và khối lượng giao dịch khi nhà đầu tư tranh mua
hoặc tranh bán cổ phiếu.
<i>(v) Vai trò huy động vốn trong nền kinh tế của thị trường
chứng khoán bị giám sút nghiêm trọng.</i> Ngân hàng vẫn là
ngành huy động vốn chủ yếu cho nền kinh tế còn chứng khoán
vẫn chỉ là một kênh huy động vốn thứ yếu. Theo báo cáo
của UBCKNN thì vốn huy động qua phát hành thêm cổ phiếu,
đấu giá cổ phần hóa trong năm 2011 đạt 17.500 tỷ đồng
bằng 22% so với năm 2010.
<i>(vi) Báo cáo tài chính sai lệch, báo cáo kiểm toán không
phản ánh đủ những rủi ro trọng yếu.</i>
Báo cáo tài chính của một số doanh nghiệp trước và sau soát
xét của kiểm toán có sự chênh lệch lớn (tăng, giảm hàng
trăm tỷ đồng lợi nhuận). Doanh nghiệp công bố lợi nhuận
thấp hơn thực tế để gìm giá cổ phiếu và mua lại với giá
rẻ hoặc công bố lợi nhuận cao hơn thực tế để đẩy giá
cổ phiếu. Báo cáo tài chính quý của doanh nghiệp niêm yết
không cần phải được kiểm toán, do vậy một số doanh nghiệp
đã lợi dụng để kết chuyển phần lớn chi phí vào sau đó,
làm tăng lợi nhuận các quý trước nhằm mục đích đẩy giá
cổ phiếu, do đó nhiều doanh nghiệp sau khi có mức lãi lớn
trong quý 3/2011 thì có những khoản lỗ hay tụt giảm lợi
nhuận đáng kể vào quý 4/2011.
Chất lượng kiểm toán yếu kém càng thể hiện rõ trong thời
gian gần đây, báo cáo tài chính được kiểm toán vẫn không
phản ánh đầy đủ những rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Trên báo cáo kiểm toán xuất hiện những khoản mục như phải
thu khác, phải trả khác, đầu tư có giá trị rất lớn nhưng
không được liệt kê chi tiết. Đạo đức của công ty kiểm
toán đi xuống khi mà các công ty này cạnh tranh để có hợp
đồng kiểm toán nên phải dễ dãi với doanh nghiệp, tỷ lệ
hoa hồng chi thưởng cho kế toán trưởng của các công ty kiểm
toán nhỏ lên đến 10% giá trị hợp đồng kiểm toán. Thậm
chí những công ty kiểm toán có điểm số cao theo kết quả
kiểm tra định kỳ năm 2011 của Hội kiểm toán viên hành nghề
Việt Nam như Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam (E&Y) và
Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C) cũng đang phải làm
rõ trách nhiệm khi kiểm toán cho Dược Viễn Đông (DVD). Trên
cơ sở báo cáo tài chính được kiểm toán đến 30/6/2010 của
DVD đã được 2 công ty này kiểm toán nhà đầu tư rất khó có
thể nhận định DVD là công ty có vấn đề về tài chính.
<i>(vii) Cổ đông nhỏ ít được bảo vệ và cũng kém quan tâm
đến quyền lợi của chính mình.</i>
Tại một số công ty, nhóm cổ đông lớn liên kết có đủ
số phiếu biểu quyết cần thiết (tối thiểu cần 51%-65% tổng
số cổ phiếu) và đưa ra các quyết định gây bất lợi cho
cổ đông nhỏ lẻ như phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển
đổi riêng lẻ, hủy niêm yết hay thay đổi ngành nghề kinh
doanh[2].
Bên cạnh đó, nhiều cổ đông nhỏ cũng chưa nhận thức và
quan tâm đến quyền lợi của mình với tư cách là cổ đông
mà chỉ là nhà đầu cơ ngắn hạn. Một số cuộc họp đại
hội cổ đông không thể thực hiện do thiếu cổ phiếu đủ
quyền biểu quyết vì nhà đầu tư không tham dự. Nhiều cổ
đông nhỏ không quan tâm đến quyền lợi của mình với tư
cách là cổ đông nên đã tỏ ra qua dễ dãi, không thực hiện
các quyền của minh khi biểu quyết đối với các quyết định
lớn tại tại đại hội cổ đông, tạo ra kẽ hở để một
số cổ đông lớn, hội đồng quản trị lạm dụng, đặc
biệt khi doanh nghiệp tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu, trái
phiếu chuyển đổi.
<i>(viii) </i>Việc chưa tách bạch tiền gửi của nhà đầu tư ra
khỏi CTCK để nhà đầu tư mở tài khoản tài khoản trực
tiếp tại NHTM tạo điều kiện cho việc chiếm dụng và sử
dụng tiền của nhà đầu tư nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong
thời gian gần đây đã có tình trạng một số CTCK không có
khả năng thanh toán một số giao dịch chỉ vài tỷ đồng và
bị Trung tâm lưu ký chứng khoán nhắc nhở công khai. Trong mấy
năm qua đã xuất hiện tình trạng nhiều nhân viên của CTCK,
thậm chí là chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc chiếm dụng vốn
của nhà đầu tư, của ngân hàng rồi kinh doanh thua lỗ, không
có khả năng trả nợ.
<i>(ix) </i>Vi phạm về công bố thông tin vẫn tiếp diễn khi mà
có tới 215 công ty (chiếm 69,6% số công ty và quỹ niêm yết
tại HSX) vi phạm quy định này. Vi phạm về công bố thông tin
báo cáo tài chính đứng thứ nhất (49,79%), vi phạm về báo cáo
thường niên đúng thứ 2 (12,62%), vi phạm về báo cáo tình hình
quản trị công ty đứng thứ 3 (26,78%),vi phạm về công bố
thông tin bất thường (nghị quyết ĐHCĐ, nghị quyết HĐQT, thay
đổi nhân sự..) đứng thứ 4 (11,4%). Doanh nghiệp không chủ
động công bố thông tin hoặc công bố thông tin chậm làm cho
nhà đầu tư không nắm được thực trạng tình hình hoạt
động của doanh nghiệp để có quyết định đầu tư đúng
đắn.
<i>(x) </i>Phương thức giao dịch T+4 là rào cản lớn nhất đối
với thanh khoản, gây rủi ro cho các nhà đầu tư khi không thể
bán cổ phiếu sớm để cắt lỗ, hạn chế rủi ro. Tuy
nhiên<i>, </i>đến nay giao dịch T+2 vẫn chưa được triển khai
mặc dù theo lộ trình cần triển khai phương thức này từ năm
2009. Không chỉ các nhà đầu tư cá nhân mà ngay cả các quỹ
đầu tư, các CTCK cũng đòi hỏi được bán sớm cổ phiếu,
thậm chí là giao dịch trong ngày để hạn chế rủi ro giảm
giá. Việc cơ quan quản lý đưa ra những khó khăn về kỹ
thuật để trì hoãn việc áp dụng T+2 là không thỏa đáng khi
mà theo các quỹ đầu tư, CTCK thì phần lớn các thị trường
chứng khoán trên thế giới cho phép mua bán cổ phiếu trong cùng
ngày. Đồng thời theo các nhà đầu tư tổ chức thì việc cho
phép mua bán cổ phiếu trong cùng ngày là một trong những điều
kiện cần thiết để triển khai các sản phẩm phái sinh.
Thị trường chứng khoán ra đời đã trên 10 năm nhưng nhà
đầu tư không được sử dụng các sản phẩm phái sinh như
quyền chọn mua, quyền chọn bán, bán khống, hợp đồng tương
lai, đầu tư chỉ số. Những trở ngại này làm giảm đáng kể
tính thanh khoản của thị trường chứng khoán do nhà đầu tư
không được sử dụng các công cụ để phòng ngừa rủi ro
biến động giá chứng khoán.
<h6>2.1.2.3. Những nguy cơ đối với thị trường UPCOM và
OTC</h6>
<i>(i) Năm 2011 tiếp tục là năm mất thanh khoản đối với thị
trường OTC và UPCOM. </i>Thị trường OTC vẫn ảm đạm khi ngày
càng bị thu hẹp cả về thanh khoản và giá trị. Hàng loạt
cổ phiếu bị thị trường lãng quên và mất thanh khoản.
Thị trường UPCOM cũng hầu như mất thanh khoản do nhà đầu
tư hầu như không quan tâm đến thị trường này. Khối lượng
và giá trị giao dịch của toàn bộ sàn UPCOM nhiều khi thấp
hơn khối lượng và giá trị giao dịch của chỉ 1 cổ phiếu
niêm yết trên HSX hay HNX và chỉ ở mức vài trăm nghìn cổ
phiếu/phiên. Nhiều cổ phiếu không có giao dịch trong một
thời gian dài. Hàng hóa nghèo nàn, kém hấp dẫn, thông tin không
minh bạch là lý do mà phần lớn nhà đầu tư ít quan tâm đến
UPCOM.
<i>(ii) Doanh nghiệp chậm công bố hoặc công bố thông tin không
đầy đủ</i>. Do không có chế tài xử phạt nên phần lớn
doanh nghiệp không chủ động công bố các thông tin cơ bản như
báo cáo tài chính, giao dịch cổ phiếu của các cổ đông lớn,
thành viên ban giám đốc,… Thậm chí cả đối với doanh
nghiệp niêm yết trên UPCOM cũng không công bố đầy đủ báo
cáo tài chính theo quý mà chỉ công bố báo cáo tài chính năm.
<h4> 2.2. Đánh giá về các hành vi trên thị trường chứng
khoán</h4>
<h5> 2.2.1. Các hành vi trục lợi phổ biến</h5>
Theo HSX, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán ngày
càng nhiều và phức tạp hơn. Trong năm 2011, số vụ việc vi
phạm có xu hướng tăng so với năm trước, đáng chú ý là các
vi phạm về giao dịch cổ đông nội bộ và người có liên
quan.
<i> (i) Thao túng chỉ số VN Index. </i>
Chỉ số VN Index không phản ánh đúng thực chất thị trường.
Trong khi HNX Index giảm mạnh tới 48,6% thì VN Index chỉ giảm
27,5% do sự can thiệp của các nhà đầu tư lớn bằng cách tác
động đến giá của các cổ phiếu có vốn hóa lớn trên thị
trường nhưng có khối lượng cổ phiếu lưu hành tự do thấp.
Trong phiên giao dịch khi phần lớn các cổ phiếu giảm giá thì
chỉ nhờ việc tác động vào giá các cổ phiếu lớn như BVH,
MSN, VIC (chiếm 25% vốn hóa thị trường của HSX) cũng làm chỉ
số VN Index tăng điểm nên phản ánh sai lệch diễn biến thị
trường và tạo ra hiện tượng "xanh vỏ, đỏ lòng" khi VN Index
biến động ngược chiều với giá phần lớn cổ phiếu. Chính
vì vậy, nhiều nhà đầu tư cũng như CTCK từ Q4/2010 đến nay
thường sử dụng chỉ số HNX Index để phân tích, đánh giá
diễn biến thị trường thay vì sử dụng chỉ số VN Index. Mặc
dù chỉ số VN 30 đã ra đời nhưng chưa thu hút được sự chú
ý của giới phân tích cũng như đầu tư.
<i> (ii) Làm giá cổ phiếu.</i>
Việc thao túng, làm giá cổ phiếu vẫn tiếp diễn và lôi kéo
nhiều nhà đầu tư tham gia. Một số công ty kinh doanh thua lỗ,
tình hình tài chính nguy cập nhưng cổ phiếu vẫn tăng trần
nhiều phiên liên tiếp do bị làm giá. Kết cục cuối cùng là
cổ đông lớn của các công ty này âm thầm thoái phần lớn
vốn khỏi công ty thua lỗ còn nhà đầu tư nhỏ lẻ theo phong
trào trở thành các nhà đầu tư bất đắc dĩ của các công ty
yếu kém này. Điển hình tiêu biểu như cổ phiếu CTCK SME tăng
nhiều phiên liên tiếp trong 1 tháng trước khi những khó khăn
về thanh khoản của CTCK này bị phát hiện. Thậm chí cổ
phiếu Công ty vận tải biển và BĐS Việt Hải - VSP, được
mệnh danh là con tàu ma của sàn HNX, là một trong những quán
quân tăng giá của thị trường từ tháng 8/2011 đến tháng
9/2011 mặc dù công ty bị thua lỗ liên tiếp từ năm 2009 đến
nay (mức lợi nhuận trong năm 2010 chỉ là tượng trưng 2,32 tỷ
đồng).
Quy định công ty phải giải trình về việc cổ phiếu tăng
trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp chỉ là hình thức khi
phần lớn doanh nghiệp chỉ giải trình là biến động giá cổ
phiếu do thị trường còn tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
diễn biến bình thường. Hơn thế nữa, để tránh bị phát
hiện và giải trình giới đầu cơ đẩy giá bằng cách chỉ
đẩy giá tăng trần trong 4 phiên liên tiếp rồi làm giá tăng
trong phiên thứ 5, sau đó lại tiếp tục chu trình đẩy giá.
Một số cổ phiếu mặc dù vẫn có giao dịch hàng ngày bình
thường với khối lượng giao dịch nhỏ nhưng thực chất chỉ
là những giao dịch giữa các tài khoản cùng thuộc về nhóm
cổ đông lớn của công ty. Cổ đông lớn của các công ty này
đã cầm cố phần lớn cổ phiếu cho ngân hàng và thực hiện
các giao dịch kiểu này nhằm giữ giá cổ phiếu ổn định
không bị giảm giá như phần lớn thị trường và tránh được
phải giải chấp bán cổ phiếu trả nợ cho ngân hàng.
<i> (iii) Giao dịch nội gián.</i>
Lãnh đạo, cổ đông lớn các công ty sử dụng thông tin nội
bộ để mua bán chứng khoán, tiết lộ thông tin nội bộ cho
người thân mua bán chứng khoán. Có những trường hợp giao
dịch nội gián mua, bán hàng trăm nghìn cổ phiếu hay thay đổi
tỷ lệ lớn sở hữu cổ phiếu tuy nhiên mức phạt lại quá
thấp so với lợi nhuận mà các giao dịch này mang lại và không
đủ mạnh để ngăn chặn, răn đe các hành vi này. Liên minh
giữa thành viên hội đồng quản trị của công ty niêm yết,
các môi giới chứng khoán và một số "đội lái" giúp tạo
nên những con sóng lớn trên thị trường.
<i> (iv) Đăng ký vừa mua, vừa bán cùng một lượng cổ
phiếu.</i>
Một số nhà đầu tư, tổ chức lớn đã lách luật bằng
việc đăng ký vừa mua vừa bán cùng một lượng cổ phiếu
trong cùng một giai đoạn nhất định. Điều này giúp họ đối
phó được với việc phải công bố thông tin mà các nhà đầu
tư khác không thể dự đoán được thực chất họ sẽ mua hay
bán cổ phiếu trong thời gian này.
<h5>2.2.2. Đánh giá việc giám sát của cơ quan quản lý</h5>
Theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, UBCKNN chưa
chủ động trong việc giám sát các hành vi thao túng chứng khoán
và lệ thuộc vào báo cáo của các sở giao dịch, không có sự
hỗ trợ của công nghệ thông tin giám sát tự động. UBCKNN
mới chỉ phát hiện được những vi phạm giản đơn, dễ thấy
như vi phạm về CTCK, quy chế giao dịch mà chưa phát hiện có
hiệu quả và kịp thời những vi phạm tinh vi như giao dịch
nội gián, thao túng giá. Theo Hiệp hội các nhà đầu tư tài
chính (VAFI), thanh tra của UBCKNN đã trải qua hơn 11 năm hoạt
động nhưng vai trò còn hạn chế, chỉ chủ động phát hiện
và xử lý một số vi phạm nhỏ. Những vụ án lớn đều do
thông tin nội bộ cung cấp buộc phải xử lý hoặc do cơ quan an
ninh phát hiện. UBCKNN cũng mới chỉ có thẩm quyền thu thập
thông tin trong lĩnh vực chứng khoán, phương tiện thực hiện
giám sát, kiểm tra còn hạn chế.
Chế tài xử phạt chưa đủ mạnh để răn đe các vi phạm,
văn bản hướng dẫn việc xử lý hình sự chưa được ban
hành, việc tính toán thu lời bất chính còn gặp nhiều khó
khăn. Trong năm 2011 UBCKNN đã ban hành 164 quyết định xử phạt
vi phạm hành chính với tổng số tiền xử phạt lên đến 11
tỷ đồng, mức xử phạt lớn nhất theo quy định cũng chỉ là
500 triệu đồng. Mức xử phạt này vẫn không đáng kể so với
thu nhập từ các hành vi vi phạm. Trong khi đó tại các thị
trường chứng khoán phát triển, hàng loạt nhà đầu tư lớn
cũng như tổ chức đầu tư, doanh nghiệp lớn đã bị phạt tù
hay phạt tiền rất nặng, thậm chí bị ngừng kinh doanh trong
một thời gian do các hành vi trục lợi.
<h5> 2.3. Đánh giá sự lành mạnh tài chính của các công ty
chứng khoán </h5>
<h6>2.3.1. Mức đủ vốn</h6>
<i> Mức đủ vốn của các CTCK giảm sút mạnh trong năm 2011,
nhiều công ty thua lỗ trên 30% vốn chủ sở hữu.</i>
Thị trường chứng khoán đi xuống từ cuối năm 2009 nên hàng
loạt CTCK (CTCK) bị thua lỗ dẫn tới lỗ lũy kế cũng như lỗ
lũy kế/vốn chủ sở hữu của toàn ngành tăng dần qua từng
năm.
<center><b>Bảng 2.18: Mức đủ vốn lĩnh vực chứng khoán từ
2009 đến 2011</b></center>
<table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0"> <tbody>
<tr> <td><br></td> <td>
<b>Năm 2009</b>
</td> <td>
<b>Năm 2010</b>
</td> <td>
<b>Năm 2011</b>
</td> <td>
<b>Năm 2011 (đánh giá lại)</b>
</td> </tr>
<tr> <td> Lợi nhuận(Lỗ) lũy kế/ Vốn chủ sở hữu
</td> <td> 3,36%
</td> <td> 2,88%
</td> <td>
-6,71%
</td> <td>
-24,56%
</td> </tr>
<tr> <td> Lợi nhuận(Lỗ) lũy kế (tỷ đồng)
</td> <td> 1.072
</td> <td> 1.098
</td> <td>
-2.705
</td> <td>
-9.901
</td> </tr>
</tbody></table>
<div class="rightalign">Nguồn: UBGSTCQG</div>
Mức đủ vốn của hệ thống các CTCK giảm sút nghiêm
trọng khi số công ty có lợi nhuận lũy kế giảm còn số công
ty bị lỗ lũy kế đang tăng dần, đặc biệt nhiều công ty thua
lỗ trên 30% vốn chủ sở hữu (VCSH). Theo phương pháp đánh giá
lại của, trên 50% CTCK bị lỗ lũy kế trên 30% vốn chủ sở
hữu.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.02.40_am.png"
width="508" height="227" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.02.40_am.png"
/></center>
<h5>2.3.2. Đòn bẩy tài chính</h5>
Một số CTCK cho phép khách hàng sử dụng mức đòn bẩy tài
chính lớn mặc dù chứng khoán là lĩnh vực có rủi ro cao,
đặc biệt trong bối cảnh năm 2011, thị trường chứng khoán
sụt giảm mạnh (về cả giá và tính thanh khoản).
Trên góc độ tổng hợp toàn ngành thì mức độ sử dụng đòn
bẩy tài chính của các CTCK vẫn ở mức an toàn khi tỷ lệ
nợ/vốn chủ sở hữu ở mức dưới 2 lần trong 3 năm qua.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.02.47_am.png"
width="526" height="168" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.02.47_am.png"
/></center>
Tuy nhiên, tại thời điểm 31/12/2011, theo số liệu báo cáo có
đến 16% số CTCK có tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu trên 3 lần,
thậm chí có công ty có Nợ/Vốn chủ sở hữu trên 6 lần [1].
Theo đánh giá lại của UBGSTCQG thì mức sử dụng đòn bẩy tài
chính thực tế (1,47 lần) của các CTCK cao hơn số liệu báo
cáo (1,19 lần). Đáng chú ý khi phần lớn CTCK có tỷ lệ
Nợ/Vốn chủ sở hữu trên 3 lần lại không nằm trong nhóm 10
công ty có thị phần môi giới hàng đầu trên thị trường cổ
phiếu và trái phiếu niêm yết tại HSX và HNX. Các CTCK này chủ
yếu thực hiện chức năng trung gian cung cấp vốn từ NHTM đến
cổ đông lớn của các ngân hàng cũng như giúp các ngân hàng
này đảo nợ hoặc cho vay các lĩnh vực bị hạn chế (chi tiết
xem phần Rủi ro chéo giữa thị trường chứng khoán và ngân
hàng).
<img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.06.19_am.png"
width="533" height="175" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.06.19_am.png" />
<h5>2.3.4. Chất lượng tài sản</h5>
<h6>2.3.4.1. Cơ cấu tài sản</h6>
(ii) Cơ cấu tài sản của toàn ngành tập trung chủ yếu
vào các tài sản thanh khoản cao. Tuy nhiên, các khoản phải thu,
đầu tư vào cổ phiếu OTC và TPDN vẫn chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng tài sản.
(iii) Đầu tư tài chính ngắn hạn và các khoản phải thu
ngắn hạn được cắt giảm mạnh nhưng đầu tư tài chính dài
hạn lại gia tăng, tiềm ẩn rủi ro cao.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.07.09_am.png"
width="492" height="193" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.07.09_am.png"
/></center>
Đến cuối năm 2011, các tài sản có tính thanh khoản cao như
tiền và đầu tư cổ phiếu niêm yết cùng chiếm tỷ lệ 27%.
Tuy nhiên các tài sản có độ rủi ro cao, khó định giá và kém
thanh khoản vẫn chiếm tỷ trọng lớn: các khoản phải thu
(27%); đầu tư và repo cổ phiếu OTC, TPDN (17%).
<center><strong>Bảng 2.19: Cơ cấu đầu tư các CTCK từ 2009 đến
2011</strong>
Đơn vị: tỷ đồng</center>
<center><table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td><br></td>
<td>
<b>Năm 2009</b>
</td>
<td>
<b>Năm 2010</b>
</td>
<td>
<b>Năm 2011</b>
</td>
<td>
<b>Năm 2011 (đánh giá lại)</b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<b>TS Ngắn hạn</b>
</td>
<td>
<b>65.022</b>
</td>
<td>
<b>91.108</b>
</td>
<td>
<b>65.173</b>
</td>
<td>
<b>59.427</b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<b><i> TS Ngắn hạn/Tổng TS</i></b>
</td>
<td>
<b><i>81,44%</i></b>
</td>
<td>
<b><i>84,61%</i></b>
</td>
<td>
<b><i>78,98%</i></b>
</td>
<td>
<b><i>79,00%</i></b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Tiền
</td>
<td>
20.767
</td>
<td>
21.425
</td>
<td>
24.215
</td>
<td>
24.215
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Đầu tư TC Ngắn hạn
</td>
<td>
16.247
</td>
<td>
24.426
</td>
<td>
13.658
</td>
<td>
11.944
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Phải thu ngắn hạn
</td>
<td>
27.260
</td>
<td>
44.740
</td>
<td>
26.658
</td>
<td>
22.698
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<b>TS Dài hạn</b>
</td>
<td>
<b>14.817</b>
</td>
<td>
<b>16.577</b>
</td>
<td>
<b>17.342</b>
</td>
<td>
<b>15.796</b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<b><i> TS Dài
hạn/Tổng TS</i></b>
</td>
<td>
<b><i>18,56%</i></b>
</td>
<td>
<b><i>15,39%</i></b>
</td>
<td>
<b><i>21,02%</i></b>
</td>
<td>
<b><i>21,00%</i></b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
`TSCĐ & BĐS
</td>
<td>
1.593
</td>
<td>
1.634
</td>
<td>
1.799
</td>
<td>
1.799
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Đầu tư TC Dài hạn
</td>
<td>
12.552
</td>
<td>
14.049
</td>
<td>
14.439
</td>
<td>
13.013
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<b>Tổng tài sản</b>
</td>
<td>
<b>79.839</b>
</td>
<td>
<b>107.685</b>
</td>
<td>
<b>82.515</b>
</td>
<td>
<b>75.223</b>
</td>
</tr>
</tbody></table></center>
<div class="rightalign">Nguồn: UBGSTCQG</div>
Các CTCK đã đẩy mạnh cắt giảm đầu tư tài chính ngắn hạn
và thu hồi các khoản phải thu từ khách hàng nhằm đáp ứng
quy định về an toàn tài chính của cơ quan quản lý và sức ép
của các ngân hàng tài trợ vốn. Tuy nhiên các khoản đầu tư
tài chính dài hạn không giảm mà thậm chí còn tăng nhẹ, trong
đó có đến 35% là đầu tư vào cổ phiếu OTC và TPDN là những
tài sản rủi ro cao, kém thanh khoản và khó định giá.
<h5>2.3.4.2. Chất lượng tài sản Có</h5>
<h6>a) Các khoản phải thu</h6>
Đến cuối tháng 12/2011, giá trị các khoản phải thu
(trước trích lập dự phòng nợ khó đòi) đối với khách hàng
là 27.618 tỷ đồng. Theo đánh giá lại của UBGSTCQG, giá trị
các khoản phải thu đối với khách hàng tăng thêm 23,5% ( 6.502
tỷ đồng) so với số liệu báo cáo, lên tới 34.120 tỷ đồng
do một số CTCK tìm các che giấu bằng cách hạch toán vào
khoản mục đầu tư tài chính để tránh việc xác định thời
hạn cho vay. Theo đánh giá lại của UBGSTCQG, nợ xấu đối với
các khoản phải thu lên tới 18.638 tỷ đồng, chiếm 51% tổng
giá trị các khoản phải thu.
Các khoản phải thu đối với khách hàng thông thường
dưới hình thức margin hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh để
đầu tư cổ phiếu niêm yết bluechip có tính thanh khoản cao và
ứng trước tiền bán chứng khoán có rủi ro thấp vì đây là
các tài sản thanh khoản tốt. Các khoản phải thu có
vấn đề thường dưới những hình thức sau:
(ii) Phải thu do repo cổ phiếu OTC, trong đó phần lớn
là các cổ phiếu của các NHTM từ nhóm 3 đến nhóm 5 với mức
giá không hợp lý;
(iii) Phải thu từ hợp đồng hợp tác đầu tư trước
khi có quy định về giao dịch ký quỹ margin (tháng 8/2011) đối
với các cổ phiếu niêm yết penny, kém thanh khoản hoặc cổ
phiếu OTC, một số hợp đồng không xác định thời điểm
đáo hạn hoặc có thời hạn đầu tư trên 1 năm hoặc liên
tục được gia hạn;
(iv) Phải thu từ các hoạt động UTĐT vốn cho bên thứ
ba mua trái phiếu, cổ phiếu OTC nhưng không xác định thời
hạn thu hồi vốn;
(v) Phải thu từ các khách hàng lớn dưới hình thức
CTCK đặt cọc hoặc tạm ứng tiền mua cổ phiếu, trái phiếu
(vi) Phải thu từ thành viên hội đồng quản trị, công
ty con của thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân
viên môi giới của chính CTCK.
Nguồn vốn CTCK sử dụng để tài trợ cho khách hàng thực
chất phần lớn là từ vốn vay ngân hàng. Mặc dù NHNN đã có
những quy định hạn chế tín dụng đối với đầu tư chứng
khoán nhưng các ngân hàng vẫn phối hợp với CTCK để tài trợ
cho khách hàng.
Tại thời điểm 31/12/2011 có đến 8 công ty có số dư
phải thu của khách hàng và phải thu khác lên đến trên 1.000
tỷ đồng, trong đó có những công ty có số dư này rất lớn,
gấp 2 đến 6 lần vốn chủ sở hữu. Thậm chí một số công
ty có thị phần môi giới nhỏ nhưng vẫn có số dư phải thu
hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng, lớn hơn cả những công ty có
thị phần môi giới hàng đầu trên thị trường.
Việc quản trị rủi ro bị buông lỏng khi CTCK tài trợ cho
khách hàng, nhóm khách hàng những khoản tín dụng vượt quá 25%
và 50% vốn tự có của CTCK. Một số trường hợp khoản phải
thu từ 1 khách hàng lớn hơn cả vốn tự có của CTCK.
Các khoản phải thu chưa được trích lập dự phòng đầy đủ
và còn bị che giấu bằng cách đảo nợ. Mức trích lập dự
phòng của toàn ngành chỉ là 999 tỷ đồng tương đương 3,6%
số dư phải thu. Phần lớn công ty có mức trích lập dự
phòng phải thu khó đòi dưới 20%, không tương xứng với rủi
ro. Theo đánh giá lại của UBGSTCQG mức trích lập dự phòng
đối với nợ xấu là 4.935 tỷ đồng, tương ứng với 17% số
dư phải thu. Điều này làm sụt giảm kết quả kinh doanh cũng
như mức đủ vốn của các CTCK.
<h6>b) Các khoản đầu tư</h6>
(ii) Các khoản đầu tư vào tài sản kém thanh khoản như
cổ phiếu OTC, TPDN chiếm hơn 1/3 tổng giá trị các khoản đầu
tư.
(iii) Các cổ phiếu niêm yết được trích lập dự phòng
đầy đủ nhưng các khoản đầu tư vào cổ phiếu OTC và TPDN
không được trích lập dự phòng tương ứng với rủi ro giảm
giá chứng khoán.
Trong khi phần lớn các nhà đầu tư tránh các tài
sản kém thanh khoản như cổ phiếu OTC và TPDN thì các tài sản
này vẫn chiếm đến 38% tổng giá trị các khoản đầu tư của
các CTCK. Hơn thế nữa, mặc dù một số CTCK hàng đầu chấp
nhận cắt lỗ thanh lý phần lớn danh mục đầu tư cổ phiếu
OTC và TPDN thì một số công ty vẫn bất chấp rủi ro không
cắt giảm hoặc thậm chí gia tăng đầu tư vào các tài sản
này. Một số công ty còn đầu tư vào BĐS, lĩnh vực rủi ro cao
không kém chứng khoán, với tổng giá trị đầu tư là 485,5 tỷ
đồng.
Mức trích lập dự phòng giảm giá đối với các khoản mục
đầu tư là rất thấp và không đầy đủ mặc dù giá nhiều
cổ phiếu niêm yết giảm đến 50% chỉ trong vòng 1 năm. Tại
thời điểm cuối năm 2011 có quá nửa cổ phiếu niêm yết trên
2 sàn HSX và HNX có giá dưới mệnh giá nhưng hàng loạt cổ
phiếu OTC kém thanh khoản vẫn được các công ty xác định giá
trên mệnh giá và không phải trích lập dự phòng. Mức trích
lập đối với đầu tư ngắn hạn là 3.676 tỷ đồng (21%) và
đầu tư dài hạn chỉ là 773 tỷ đồng (5%). Đáng báo động
là rất nhiều công ty có mức trích lập dự phòng đầu tư tài
chính dài hạn chỉ dưới 5% và viện dẫn là do không xác
định được giá tham chiếu của cổ phiếu OTC để trích lập
dự phòng.
Theo đánh giá lại của UBGSTCQG, mức trích lập dự
phòng đối với đầu tư tài chính ngắn hạn phải là 5.361 tỷ
đồng (31%) và đầu tư tài chính dài hạn phải là 2.209 tỷ
đồng (15%).
<h5>2.3.5. Hiệu quả sinh lời</H5>
<em>Phần lớn các CTCK bị thua lỗ trong năm 2011, số lỗ
công bố thấp hơn thực tế nhiều lần. Một số CTCK chạy theo
lợi nhuận làm trung gian tài chính mà không tính đến rủi
ro.</em>
Năm 2011, chứng khoán tiếp tục là ngành có tỷ lệ sinh
lời thấp và rủi ro cao. Hiệu quả sinh lời của toàn bộ các
CTCK giảm sút mạnh từ năm 2009. Năm 2011 là năm khó khăn nhất
của thị trường chứng khoán Việt Nam nên phần lớn CTCK bị
thua lỗ là không tránh khỏi do sự đi xuống của thị truờng
cả về giá chứng khoán và thanh khoản dẫn tới phí môi giới
sụt giảm mạnh, trong khi trích lập dự phòng cho các khoản
đầu tư tài chính và các khoản phải thu tăng.
Thu nhập chủ yếu của các CTCK trong năm 2011 (chiếm 52% tổng
doanh thu) đến từ các nghiệp vụ: (i) Lãi tiền gửi ngân hàng;
(ii) Lãi do cung cấp tín dụng cho khách hàng đầu tư cổ phiếu
niêm yết; (iii) Lãi từ đầu tư TPCP.
Đáng lưu ý một số công ty chạy theo lợi nhuận đánh đổi
rủi ro bằng cách làm trung gian cung cấp vốn từ NHTM đến cổ
đông lớn, cũng như giúp các ngân hàng này đảo nợ hoặc cho
vay các lĩnh vực bị hạn chế. Đây là một hoạt động rất
rủi ro vì các ngân hàng không cam kết chịu mọi trách nhiệm
nếu các khoản tín dụng này không thể thu hồi.
Bên cạnh đó một số công ty cố tình tạo ra khoản thu nhập
giả tạo và hạch toán vào các khoản phải thu để che giấu
thực trạng thua lỗ. Theo số liệu do các công ty báo cáo thì
toàn ngành có 61 CTCK thua lỗ với tổng mức lỗ là 3.572 tỷ
đồng. Theo phương pháp đánh giá lại của UBGSTCQG, sau khi loại
trừ các khoản thu nhập ảo và trích lập dự phòng bổ sung
đối với các khoản phải thu và đầu tư tài chính thì số
thua lỗ tăng 2,78 lần; có đến 86 công ty thua lỗ với tổng
mức lỗ là 9.999 tỷ đồng, trong đó có 4 công ty có thể bị
thua lỗ hết vốn.
<center><b>Bảng 2.20: Mức sinh lời của các CTCK từ năm 2009
đến 2011</b></center>
<center><table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td><br></td>
<td>
<b>Năm 2009</b>
</td>
<td>
<b>Năm 2010</b>
</td>
<td>
<b>Năm 2011</b>
</td>
<td>
<b>Năm 2011 (đánh giá lại)</b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
ROE
</td>
<td>
14,70%
</td>
<td>
4,65%
</td>
<td>
-5,86%
</td>
<td>
-29,91%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Lợi nhuận (lỗ) sau
thuế (tỷ đồng)
</td>
<td>
4.850
</td>
<td>
1.827
</td>
<td>
- 2.203
</td>
<td>
- 9.098
</td>
</tr>
</tbody></table></center>
<div class="rightalign">Nguồn: UBGSTCQG</div>
<h5>2.3.6. Khả năng thanh toán</h5>
<i>Khả năng thanh toán của các CTCK có dấu hiệu xấu đi, báo
cáo của các CTCK không phản ánh đúng thực trạng. </i>
<center><b>Bảng 2.21: Phân loại CTCK theo tỷ lệ an toàn vốn khả
dụng</b></center>
<center><table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td><br></td>
<td>
<b>Mức độ</b>
</td>
<td>
<b>31/12/2011</b>
</td>
<td>
<b>31/3/2012</b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty có tỷ lệ an
toàn vốn khả dụng từ 180% trở lên
</td>
<td>
mức an toàn
</td>
<td>
92
</td>
<td>
81
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty có tỷ lệ an
toàn vốn khả dụng từ 150% đến 180%
</td>
<td>
phải báo cáo bất thường
</td>
<td>
7
</td>
<td>
11
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty có tỷ lệ an
toàn vốn khả dụng từ 120% đến 150%
</td>
<td>
bị kiểm soát
</td>
<td>
1
</td>
<td>
4
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty có tỷ lệ an
toàn vốn khả dụng dưới 120%
</td>
<td>
bị kiểm soát đặc biệt
</td>
<td>
5
</td>
<td>
6
</td>
</tr>
</tbody></table></center>
<div class="rightalign">Nguồn: UBGSTCQG</div>
Tại thời điểm 31/12/2011, theo báo cáo của các CTCK về tỷ
lệ an toàn vốn khả dụng [2] thì có 92/105 công ty có mức thanh
khoản ở an toàn (≥ 180%) và 13 công ty dưới mức an toàn. Tuy
nhiên số liệu này do CTCK tự tính toán và báo cáo mà không có
bên thứ 3 soát xét lại nên không phản ánh đúng khả năng
thanh toán của các công ty này, đặc biệt ở thời điểm cuối
năm (do đó đến cuối tháng 3/2012 mặc dù thị trường chứng
khoán hồi phục và thanh khoản của toàn thị trường cải
thiện đáng kể thì khả năng thanh toán theo số liệu báo cáo
lại tiêu cực hơn, điều này chứng tỏ có hiện tượng báo
cáo sai lệch). Trong năm 2011 có 5 công ty bị ngừng hoặc xin rút
nghiệp vụ môi giới do mất khả năng thanh toán và 1 công ty xin
hủy niêm yết.
<h5>2.3.7. Phân loại các công ty chứng khoán</h5>
<b><i>Nhóm 1 - nhóm bình thường:</i></b> gồm 49 công ty có tỷ
lệ vốn khả dụng/tổng giá trị rủi ro trên 180%, có lãi
hoặc có lỗ lũy kế dưới 30% vốn chủ sở hữu;.
<b><i>Nhóm 2- nhóm cần kiểm soát:</i></b> gồm 27 công ty có có
lỗ lũy kế từ 30% đến 50% vốn chủ sở hữu hoặc tỷ lệ
vốn khả dụng/tổng giá trị rủi ro từ 150% đến 180%;
<b><i>Nhóm 3 - nhóm cần kiểm soát đặc biệt:</i></b> gồm 29
công ty có lỗ lũy kế trên 50% vốn chủ sở hữu hoặc tỷ lệ
vốn khả dụng/tổng giá trị rủi ro dưới 150%.
<h3>3. Tác động chéo của thị trường chứng khoán đối với
các khu vực khác trong nền kinh tế </h3>
<b><i>3.1. Tác động chéo của thị trường chứng khoán đối
với lĩnh vực ngân hàng</i></b>
<i> (i) Ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu của thị
trường chứng khoán.</i> Từ năm 2009 đến năm 2011, bên cạnh
nguồn vốn chủ sở hữu, vốn tài trợ từ NHTM là kênh cung
cấp vốn chủ yếu cho thị trường chứng khoán.
<center><b>Bảng 2.22: Nguồn vốn của CTCK từ năm 2009 đến
2011</b></center>
<center><table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0"> <tbody>
<tr> <td>
<br>
</td> <td>
<b>31/12/2009</b>
</td> <td>
<b>31/12/2010</b>
</td> <td>
<b>31/12/2011</b>
</td> </tr>
<tr> <td>
<b><i>Nguồn vốn từ ngân hàng (tỷ đồng)</i></b>
</td> <td>
<b><i>37.475</i></b>
</td> <td>
<b><i>54.662</i></b>
</td> <td>
<b><i>34.311</i></b>
</td> </tr>
<tr> <td> Nguồn vốn từ ngân hàng/Tổng nguồn vốn
</td> <td> 46,94%
</td> <td> 50,76%
</td> <td> 41,58%
</td> </tr>
<tr> <td> Nguồn vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn
</td> <td> 41,33%
</td> <td> 36,48%
</td> <td> 45,58%
</td> </tr>
</tbody></table></center>
<div class="rightalign">Nguồn: UBGSTCQG</div>
Ngành ngân hàng còn cung cấp vốn thông qua các hợp đồng UTĐT
đối với các công ty quản lý quỹ (CT QLQ). Tại thời điểm
31/12/2011, vốn UTĐT của NHTM đối với các công ty quản lý
quỹ là 17.861 tỷ đồng.
<b><i>Tại thời điểm 31/12/2011, tổng nguồn vốn tài trợ
thương mại của hệ thống ngân hàng cho thị trường chứng
khoán thông qua các CKCK và CT QLQ lên tới 52.172 tỷ đồng.
</i></b>
Ngân hàng cũng là cổ đông lớn của 33 CTCK và 12 CT QLQ, đến
cuối năm 2011, vốn góp của NHTM vào các công ty này lên đến
9.119 tỷ đồng.
<center><b>Bảng 2.23: Vốn góp của NHTM vào CTCK và QLQ tại thời
điểm 31/12/2011</b></center>
<center><table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0"> <tbody>
<tr> <td> Vốn góp của NHTM tại các CTCK
</td> <td> 8.407 tỷ đồng
</td> </tr>
<tr> <td> Vốn góp của NHTM tại CTCK/Tổng vốn điều lệ CTCK
</td> <td> 23,38%
</td> </tr>
<tr> <td> Vốn góp của NHTM tại các CT QLQ
</td> <td> 712 tỷ đồng
</td> </tr>
<tr> <td> Vốn góp của NHTM tại các CT QLQ/Tổng vốn điều lệ
CTQLQ
</td> <td> 27,19%
</td> </tr>
</tbody></table></center>
<div class="rightalign">Nguồn: UBGSTCQG</div>
<i>CTCK và CT QLQ là các trung gian tài chính giúp NHTM giải ngân
vào các lĩnh vực bị hạn chế cho vay, đầu tư. Do NHNN không
quản lý CTCK và CT QLQ trong khi UBCKNN và Bộ Tài chính không
quản lý NHTM nên việc cho vay của NHTM đối với CTCK và QLQ
không được giám sát chặt chẽ và tiềm ẩn nhiều rủi ro hệ
thống.</i>
Ngoài việc sử dụng vốn từ NHTM để tài trợ các khoản
phải thu khách hàng cũng như đầu tư ngắn hạn của bản thân
các CTCK, một số CTCK và QLQ còn là trung gian tài chính giúp cho
NHTM giải ngân vào các lĩnh vực rủi ro cao và tránh bị cơ quan
quản lý giám sát phát hiện. Mặc dù theo Thông tư 13/2010 thì
NHTM không được cấp tín dụng cho các CTCK thành viên nhưng
tại thời điểm 31/12/2011 có đến 14 CTCK được các ngân hàng
mẹ tài trợ khoản tín dụng lên đến 9.772 tỷ đồng.
NHTM sử dụng CTCK và CTQLQ làm trung gian tài chính để cấp tín
dụng cho các đối tượng sau: (i) Khách hàng thông thường của
CTCK; (ii) Cổ đông lớn của ngân hàng, đặc biệt là các ngân
hàng cần phải tái cơ cấu; (iii) Các khoản tín dụng đối
với lĩnh vực phi sản xuất, bị hạn chế cho vay; (iv) Các
khoản vay cần đảo nợ; (v) Các khoản đầu tư tài chính của
CTCK
Khảo sát của UBGSTCQG cho thấy, các NHTM chuyển vốn cho các
CTCK và QLQ nhằm tránh sự giám sát của cơ quan quản lý thông
qua các hình thức sau: (i) Đặt cọc, tạm ứng tiền để CTCK
môi giới mua trái phiếu và cổ phiếu; (ii) Ủy thác đầu tư
cho CT QLQ và CTCK; (iii) Hợp đồng hợp tác đầu tư với CTCK
để đầu tư cổ phiếu, trái phiếu; (iv) Mua trái phiếu do CTCK
phát hành.
Việc các CTCK và QLQ chạy theo lợi nhuận khi hỗ trợ các NHTM
giải ngân vào các lĩnh vực bị hạn chế sẽ đem lại những
rủi ro rất lớn, đặc biệt là đối với các CTCK nếu bên vay
không trả được nợ hoặc giá cổ phiếu repo quá xa với thị
giá. Tuy nhiên xét tổng thể thì NHTM vẫn là người gánh chịu
rủi ro cuối cùng khi cả người vay và CTCK không trả được
nợ.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.09.21_am.png"
width="600" height="408" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.09.21_am.png"
/></center>
<em><strong>Theo đánh giá của UBGSTCCQ, trong tổng số 34.311 tỷ
đồng mà NHTM cung cấp vốn cho thị trường chứng khoán thông
qua các CTCK thì nợ xấu lên đến 16.362 tỷ đồng, chiếm
48%.</strong></em>
Do cả NHNN và UBCKNN đều không thể giám sát chặt
chẽ việc cho vay của NHTM đối với CTCK và phối kết hợp
thiếu chặt chẽ nên cần có một cơ quan đảm nhận việc giám
sát lĩnh vực này. Đồng thời theo nghiên cứu của Viện nghiên
cứu quản lý kinh tế trung ương, cần củng cố và nâng cao
địa vị pháp lý cho UBGSTCQG theo hướng có nhiều quyền lực
hơn trong giám sát vĩ mô, xử lý vi phạm tại chỗ với tất
cả các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm.
<em>(i) Việc cắt giảm dư nợ tín dụng đối với
chứng khoán và nâng lãi suất làm thị trường chứng khoán đi
xuống</em>
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.10.27_am.png"
width="555" height="273" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.10.27_am.png"
/></center>
Thực hiện chủ trương quy định cụ thể tỷ lệ dư nợ phi
sản xuất trên tổng dư nợ của NHNN đã tác động mạnh đến
tâm lý các nhà đầu tư làm dòng tiền đầu tư vào thị
trường chứng khoán giảm xuống. Hơn thế nữa với mức lãi
suất tiền gửi hấp dẫn lên đến trên 17%-20%/năm đã làm
phần lớn nhà đầu tư quyết định gửi tiết kiệm ngân hàng
thay vì đầu tư chứng khoán. Khi luồng vốn tài trợ từ ngân
hàng cũng như nhà đầu tư rút khỏi thị trường chứng khoán
thì việc thị trường đi xuống là khó tránh khỏi.
<h4>3.2 Tác động chéo giữa thị trường BĐS, khu vực doanh
nghiệp và TTCK</h4>
Bắt nguồn từ sự suy giảm và đóng băng kéo dài của thị
trường BĐS trong khi nguồn vốn cho các doanh nghiệp hoạt động
của thị trường này bị cắt giảm đột ngột khiến các doanh
nghiệp BĐS rơi vào tình trạng đình đốn, mất thanh khoản và
nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản. Tình trạng
này nhanh chóng lan tỏa sang các ngành nằm trong chuỗi sản xuất
như xây dựng, vật liệu xây dựng, công nghiệp, chế tạo, …
Kết quả là, hàng tồn kho tăng mạnh, tình trạng chiếm dụng
vốn diễn ra phổ biến tại hầu hết các ngành, nghề; nhiều
doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, đứng trước nguy cơ phá
sản.
Điều này tác động xấu tới TTCK Việt Nam khi chất lượng
hàng hóa niêm yết trên thị trường này ngày một suy giảm theo
xu hướng chung. Số lượng công ty niêm yết bị thua lỗ trong
năm 2011 lên tới 79 doanh nghiệp [1]. Kết quả kinh doanh của các
doanh nghiệp niêm yết sụt giảm mạnh (ROE bình quân năm 2011
chỉ đạt 14,9%, giảm mạnh so với năm 2010 (22,1%)) đã tác
động xấu tới TTCK.
Ngược lại, TTCK đi xuống khiến khu vực doanh nghiệp vốn khó
huy động vốn vay từ ngân hàng (do lãi suất cao, thắt chặt
tiền tệ,…) cũng khó huy động vốn trung và dài hạn từ TTCK.
Trong năm 2011, vốn huy động qua phát hành thêm cổ phiếu và
đấu giá cổ phần hóa đạt 17.500 tỷ đồng, chỉ bằng 22% so
với cùng kỳ năm 2010. Bên cạnh đó, TTCK suy giảm cũng làm cho
các khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp bị thua lỗ.
Nhiều công ty niêm yết bị thua lỗ từ hoạt động kinh doanh
khác mà trong đó chủ yếu là do phải tăng trích lập dự phòng
đối với các khoản đầu tư tài chính.
<h2>III. KHU VỰC BẢO HIỂM</h2>
- Thị trường BH đối mặt với nguy cơ mất cân đối thị
phần;
- Mức đủ vốn của khu vực BH PNT giảm sút, khu vực BH NT vẫn
được đảm bảo;
- Chất lượng tài sản toàn thị trường BH có dấu hiệu suy
giảm;
- Các doanh nghiệp BH PNT trong nước bắt buộc tái BH lẫn nhau,
trong khi năng lực tài chính yếu kém, không tuân theo quy trình
đánh giá rủi ro gây nguy cơ mất khả năng thanh toán khi phải
đền bù;
- 23% doanh nghiệp lỗ trong 9 tháng đầu năm 2011 chủ yếu do lỗ
từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc;
- Hiệu quả sử dụng vốn thấp;
- Hành vi trục lợi và cạnh tranh không lành mạnh có xu hướng
gia tăng.
<h3> 1. Đánh giá cấu trúc và sự phát triển khu vực bảo
hiểm</h3>
<h4> 1.1 Số lượng công ty bảo hiểm</h4>
Năm 2011, thị trường BH có 29 công ty BH PNT, 14 công ty BH NT. Có
thêm 2 công ty BH NT: Vietinbank – Aviva và Generali được thành
lập mới trong năm nay. Số lượng các công ty bảo hiểm tăng
không đáng kể trong 3 năm trở lại đây. Trong đó, BH PNT có 17
công ty trong nước, 9 công ty 100% vốn nước ngoài, 3 công ty
liên doanh. Ngược lại, BH NT công ty 100% vốn nước ngoài chiếm
đa số: 12/14 công ty; có 1 công ty trong nước và 1 công ty liên
doanh.
Chiếm thị phần chủ yếu ở cả 2 lĩnh vực BH PNT và BH NT
vẫn là một số ít các công ty hàng đầu. Điều này cho thấy
tình trạng cạnh tranh gay gắt để tồn tại trên thị trường
BH. Cần dừng thành lập mới và tái cấu trúc các doanh nghiệp
BH đảm bảo thị trường BH hoạt động lành mạnh bền vững.
<h5>1.2. Quy mô và cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm</h5>
Tổng doanh thu phí BH năm 2011 đạt 36.336 tỷ đồng, tăng 18% so
với năm 2010. Trong đó, doanh thu phí BH PNT là 20.723 tỷ đồng,
tăng 20,7%; doanh thu phí BH NT 15.613 tỷ đồng, tăng 13,6% so với
cùng kỳ năm 2010. Tuy nhiên tốc độ tăng doanh thu phí ở cả
hai khu vực này đều giảm so với năm 2010 do ảnh hưởng từ
bất ổn kinh tế vĩ mô.
<center><b>Bảng 2.24: Phí BH/GDP</b>
Đơn vị: %</center>
<center><table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0"> <tbody>
<tr> <td>
<b>Chỉ tiêu</b>
</td> <td>
<b>31/12/2009</b>
</td> <td>
<b>31/12/2010</b>
</td> <td>
<b>31/12/2011</b>
</td> </tr>
<tr> <td> Tổng mức phí BH/GDP
</td> <td> 1.47
</td> <td> 1.55
</td> <td> 1.48
</td> </tr>
<tr> <td> Tổng mức phí BH NT/GDP
</td> <td> 0.68
</td> <td> 0.69
</td> <td> 0.63
</td> </tr>
<tr> <td> Tổng mức phí BH PNT/GDP
</td> <td> 0.79
</td> <td> 0.86
</td> <td> 0.85
</td> </tr>
</tbody></table></center>
<div class="rightalign">Nguồn: UBGSTCQG</div>
Tổng doanh thu phí BH/GDP năm 2011 là 1,48%, giảm 4,5% so với năm
2010. Do doanh thu phí BH/GDP của hai khu vực BH NT và BH PNT đều
giảm. Tỷ lệ này còn rất nhỏ so với các nước trong khu
vực, đặc biệt là khu vực BH NT (Malaysia: 3,47%; Philippines:
1,89%; Thailand: 2,19%; Singapore: 5,52%[1]). Cho thấy quy mô thị
trường BH còn nhỏ bé, đồng thời tiềm ẩn cơ hội phát
triển lớn.
<i>Thị trường BH đang đối mặt với nguy cơ mất cân đối
thị phần.</i> 4 doanh nghiệp BH NT, BH PNT hàng đầu tương ứng
chiếm tới 86% và 66% thị phần doanh thu phí. Trong bối cảnh
cạnh tranh gay gắt, thị trường BH tất yếu diễn ra hoạt
động sáp nhập, mua bán, tái cơ cấu hoặc giải thể các doanh
nghiệp BH kinh doanh không hiệu quả.
Khu vực BH PNT có tốc độ tăng trưởng doanh thu phí giảm 3% so
với năm trước. Trong đó, nghiệp vụ BH hàng hóa vận chuyển,
BH sức khỏe và tai nạn con người, BH hàng không có tốc độ
tăng trưởng tương ứng cao hơn 22%, 35% và 56% so với cùng kỳ
2010. Các nghiệp vụ BH còn lại tốc độ tăng trưởng đều
giảm, đặc biệt có BH nông nghiệp, BH trách nhiệm, BH tín
dụng, BH thân tàu và TNDS chủ tàu giảm mạnh (trung bình giảm 5
lần) so với 2010.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.12.31_am.png"
width="531" height="272" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.12.31_am.png"
/></center>
9 tháng 2011, cơ cấu phí BH PNT về cơ bản không có nhiều thay
đổi so với cùng kỳ 2010. Nghiệp vụ BH xe cơ giới, BH tài
sản và thiệt hại kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất tương
ứng 30% và 23%. Khó khăn trong việc triển khai BH nông nghiệp, BH
tín dụng , BH trách nhiệm thể hiện rất rõ qua tỷ trọng
không đáng kể (2%) của những nghiệp vụ BH này trên tổng phí
BH. Nguyên nhân là do nhu cầu về nghiệp vụ này còn thấp,
khách hàng chưa thực sự thấy được sự cần thiết của
những nghiệp vụ BH này.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.12.53_am.png"
width="536" height="264" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.12.53_am.png"
/></center>
BH NT 2011 có tổng doanh thu phí BH 15.613 tỷ đồng, tăng 13,6% so
với cùng kỳ năm 2010. Số lượng hợp đồng khai thác mới 9
tháng 2011 chỉ tăng 8,95%, trong khi tốc độ tăng trưởng doanh
thu khai thác mới là 29%. Cho thấy tăng trưởng doanh thu phí 9
tháng 2011 do tập trung khai thác những hợp đồng có giá trị
lớn, đối tượng là khách hàng có thu nhập cao. Đây là yếu
tố khiến tăng trưởng khu vực BH NT kém bền vững.
Tính đến 30/9/2011, nghiệp vụ BH hỗn hợp và BH liên kết
đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng phí. Các sản
phẩm BH còn lại có tỷ trọng rất nhỏ và tương đối ổn
định so với cùng kỳ năm trước. Sản phẩm BH liên kết đầu
tư mới triển khai từ 2008 nhưng đã đạt tốc độ tăng
trưởng nhanh (61% ), dần thay thế cho sản phẩm BH hỗn hợp
truyền thống. Nguyên nhân là do nghiệp vụ BH liên kết đầu
tư có nhiều tiện ích, đáp ứng được nhu cầu của thị
trường, khách hàng vừa được bảo hiểm rủi ro vừa được
thực hiện mục tiêu đầu tư tài chính của mình với số phí
BH rất nhỏ.
<center><b>Bảng 2.25: Phí BH/Tổng phí BH của các doanh nghiệp BH
nội ngành </b></center>
<center><table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td rowspan="2">
<b>Tên đơn vị</b>
</td>
<td colspan="3">
<b>Phí bảo hiểm/Tổng phí BH toàn ngành</b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<b>30/9/2010</b>
</td>
<td>
<b>31/12/2010</b>
</td>
<td>
<b>30/9/2011</b>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Tổng công ty CP Bảo Minh
</td>
<td>
12,01%
</td>
<td>
12,1%
</td>
<td>
11,4%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Tổng công ty CP BH Bưu điện
</td>
<td>
3,11%
</td>
<td>
4,2%
</td>
<td>
4,77%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Tổng công ty CP BH Dầu khí Việt
Nam
</td>
<td>
20,5%
</td>
<td>
21,3%
</td>
<td>
19,92%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty cổ phần BH Petrolimex
</td>
<td>
7,19%
</td>
<td>
9,7%
</td>
<td>
8,57%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty cổ phần BH Quân đội
</td>
<td>
1,41%
</td>
<td>
2,5%
</td>
<td>
1,86%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty cổ phần BH SHB- Vinacomin
</td>
<td>
1,4%
</td>
<td>
0,0%
</td>
<td>
1,52%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty CP BH Toàn cầu
</td>
<td>
2,09%
</td>
<td>
1,3%
</td>
<td>
2,28%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Công ty CP BH Hàng không
</td>
<td>
4,64%
</td>
<td>
2,9%
</td>
<td>
4,68%
</td>
</tr>
<tr>
<td>
Tổng nội ngành
</td>
<td>
<b>56,75%</b>
</td>
<td>
<b>54,0%</b>
</td>
<td>
<b>59,10%</b>
</td>
</tr>
</tbody></table></center>
<div class="rightalign">Nguồn: UBGSTCQG</div>
Doanh thu phí BH của các doanh nghiệp BH nội ngành khối
tập đoàn kinh tế chiếm quá nửa thị phần tổng phí BH toàn
ngành và có xu hướng tăng (59,1% 9 tháng đầu năm 2011); 54%
(2010); 56,75% (9 tháng đầu năm 2010). Điều này cho thấy hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp BH nội ngành khối tập
đoàn sẽ đối mặt với việc không phân tán được rủi ro.
<h3>2. Đánh giá sự lành mạnh tài chính khu vực bảo hiểm</h3>
<h4> 2.1. Mức đủ vốn:</h4>
<i>Mức đủ vốn khu vực BH PNT có dấu hiệu giảm sút, trong khi
khu vực BH NT vẫn được đảm bảo.</i>
Phí BH thuần/Vốn chủ sở hữu khu vực BH PNT 2011 tăng mạnh
lên đến 93%, nguyên nhân là do phí BH thuần tăng 25% trong khi
vốn chủ sở hữu chỉ tăng 0,42% so với cùng kỳ năm 2010. 7/29
doanh nghiệp có tỷ lệ này cao trên 100%, cho thấy các DN này
trú trọng tăng trưởng doanh số trong khi vốn chủ sở hữu
tăng trưởng không tương
ứng làm tăng rủi ro chi trả.
Các doanh nghiệp BH PNT khó tăng vốn. Do thị trường chứng
khoán sụt giảm trong năm 2011, cổ phiếu ngành BH kém hấp dẫn
và kém thanh khoản. Trong khi đó, hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp này vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn bên ngoài, tỷ
lệ Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản là 47,2% giảm so với cùng
kỳ năm 2010 (49,7%). Điều này tiềm ẩn nguy cơ rủi ro chi trả
bồi thường cho những tổn thất lớn ngoài dự tính, làm suy
giảm mức đủ vốn.
Khu vực BH NT đảm bảo được mức đủ vốn, do tỷ lệ Vốn
chủ sở hữu/Dự phòng nghiệp vụ tính đến 31/12/2011 đạt 31%
tăng so với cùng kỳ năm 2010 (28%) và 2009 (29%). Các doanh nghiệp
BH NT đều đáp ứng quy định về biên khả năng thanh toán[1].
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_11.16.05_am.png"
width="553" height="188" alt="screen_shot_2012-07-09_at_11.16.05_am.png"
/></center>
<h4>2.2. Chất lượng tài sản: </h4>
<em>Đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro gia tăng (chiếm 22 -25%
tổng tài sản đầu tư), nợ đọng phí vẫn ở mức cao và
chưa có dấu hiệu cải thiện.</em>
9 tháng đầu năm 2011, các doanh nghiệp BH tập trung đầu tư
vào TPCP và gửi tiền tại các TCTD là 73% đối với BH NT và 76%
đối với BH PNT. Cổ phiếu, TPDN không có bảo lãnh và đầu tư
BĐS của cả hai khu vực này từ 7 – 9%, còn lại là góp vốn,
cho vay và ủy thác đầu tư từ 14 – 19%.
Do bất ổn vĩ mô, thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh
năm 2011, thị trường BĐS đóng băng. Các khoản đầu tư vào
chứng khoán, BĐS đều tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao. Trong khi đó
rất nhiều các doanh nghiệp BH không trích lập dự phòng đầu
tư tài chính, không đánh giá lại tài sản tương ứng với giá
trị thị trường.
Các kênh đầu tư đều khó khăn, các doanh nghiệp BH đã lựa
chọn gửi tiền vào các TCTD để hưởng lãi suất cao. Song năm
2011, nhiều TCTD rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
tạm thời, phải thực hiện sáp nhập. Một số công ty BH là
công ty con của các Tập đoàn tài chính, các ngân hàng lớn đã
thực hiện đầu tư trở lại công ty mẹ [2] thông qua gửi
tiền, quan hệ vay mượn, ủy thác đầu tư. Điều này dễ xảy
ra hiện tượng thiếu minh bạch trong các giao dịch nội bộ,
từ đó dễ dẫn đến các rủi ro lan truyền và rủi ro hệ
thống.
Uỷ thác đầu tư chiếm tỷ trọng 9% ở cả hai khu vực, trong
khi hiện nay chưa có hành lang pháp lý đầy đủ điều chỉnh
hoạt động này. Không có cơ chế kiểm soát vốn của bên ủy
thác đối với bên nhận ủy thác, tiềm ẩn rủi ro của hoạt
động ủy thác đầu tư là bị chiếm dụng vốn, lạm dụng
tín nhiệm gây thất thoát vốn.
Tỷ lệ các khoản phải thu/Tổng phí BH nhóm BH PNT 9 tháng 2011
giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước (23%). Nguyên nhân
chủ yếu là do tổng phí BH tăng 22%, các khoản phải thu chỉ
giảm 1,3% so với năm ngoái. Tình hình nợ đọng phí nhóm BH PNT
chưa được cải thiện nhiều và vẫn đang ở trong tình trạng
báo động vì chiếm tới 50,68% tổng phí BH. Năm 2011, mặc dù
tỷ lệ các khoản phải thu/Tổng phí BH của nhóm BH NT tăng
không đáng kể, song nợ đọng phí của nhóm này vẫn tăng cao
so với cùng kỳ năm trước (các khoản phải thu tăng 14%).
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_12.09.28_pm.png"
width="507" height="221" alt="screen_shot_2012-07-09_at_12.09.28_pm.png"
/></center>
Cơ cấu các khoản phải thu: phải thu khác/các khoản phải thu
BH NT và BH PNT tương ứng là 16% và 23%. Trong đó, có 8/43 doanh
nghiệp có tỷ lệ này cao trên 43%, cho thấy các khoản phải thu
khó đòi đáng báo động ở các doanh nghiệp này.
<h4>2.3. Tái bảo hiểm:</h4> <em>Các doanh nghiệp BH PNT trong nước
bắt buộc tái BH lẫn nhau, trong khi năng lực tài chính yếu
kém, không tuân theo quy trình đánh giá rủi ro gây nguy cơ mất
khả năng thanh toán khi phải đền bù</em>.
Trong 9 tháng 2011, tỷ lệ giữ lại rủi ro của các
doanh nghiệp BH PNT giảm so với cùng kỳ 2010, và giảm nhẹ so
cuối năm 2010. Tỷ lệ giữ lại rủi ro 69%, tương ứng với
mức phí thuần mà các doanh nghiệp BH PNT giữ lại là 10.927 tỷ
đồng. Giá trị nhượng tái BH ra nước ngoài là 4.021 tỷ
đồng, giá trị nhượng tái BH trong nước là 1.181 tỷ đồng.
Con số 1.181 tỷ đồng là hầu hết các doanh nghiệp BH trong
nước nhượng tái cho nhau, hàm chứa tỷ lệ rủi ro cao. Nguyên
nhân là do các doanh nghiệp trong nước không tuân theo quy trình
đánh giá rủi ro, cạnh tranh không lành mạnh (hạ phí quá
thấp, tăng chi phí dịch vụ, mở rộng điều khoản BH). dẫn
đến nhiều nghiệp vụ không thể thu xếp tái BH ra nước
ngoài. Buộc phải chuyển tái giữa các DN BH trong nước.
Ngoài ra, một thực tế hiện nay trong nghiệp vụ tái bảo
hiểm, trình độ chuyên môn của chính đội ngũ cán bộ trong
ngành rất yếu kém, có đến 80% cán bộ của các doanh nghiệp
không hiểu về tái bảo hiểm [3]. Càng làm trầm trọng thêm
tình trạng các công ty nhận tái bảo hiểm "ẩu" gây tích
tụ rủi ro xấu, nguy cơ mất khả năng thanh toán cao.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_12.13.48_pm.png"
width="520" height="182" alt="screen_shot_2012-07-09_at_12.13.48_pm.png"
/></center>
<h4>2.4. Khả năng sinh lời</h4>
Năm 2011, tỷ suất sinh lời khu vực BH PNT tăng tương đối
(23%), trong khi tỷ lệ này ở khu vực BH NT lại giảm mạnh (33%)
so với cùng kỳ 2010. Tỷ suất sinh lời ở cả hai khu vực
đều ở mức thấp (BH PNT: 8,33%; BH NT: 10,48%). Tỷ lệ bồi
thường và tỷ lệ chi phí đều tăng cao so với cùng kỳ năm
trước. Toàn thị trường có 5/29 doanh nghiệp BH PNT, và 5/14
doanh nghiệp BH NT có kết quả kinh doanh thua lỗ. Có tới 63%
doanh nghiệp thua lỗ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc.
Điều này cho thấy thị trường bảo hiểm phát triển kém lành
mạnh.
Khu vực BH PNT có lợi nhuận sau thuế đạt 1.357 tỷ đồng,
tăng 35,6% so với cùng kỳ năm 2010. 17/29 doanh nghiệp lỗ trong
kinh doanh bảo hiểm gốc, tương ứng với số tiền 497 tỷ
đồng. Hầu hết các doanh nghiệp có lãi trong hoạt động đầu
tư tài chính song nhìn chung hiệu quả sử dụng vốn thấp (ROE:
8,33%), thấp hơn so với khu vực BH NT (ROE: 10,48%) và thấp hơn
nhiều so với các ngành nghề kinh doanh khác (ROE : khu vực phi
tài chính: 12,5%; khu vực ngân hàng :9,21%). Nguyên nhân làm khả
năng sinh lời của các doanh nghiệp BH PNT thời gian qua đạt
kết quả thấp:
- Tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh luôn ở mức cao (42%) do:
(i) mạng lưới khai thác cồng kềnh, (ii) hệ thống công nghệ
thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, (iii) cạnh
tranh không lành mạnh làm gia tăng chi phí khai thác dịch vụ.
- Tỷ lệ bồi thường cao: Mặc dù trong năm 2011 các doanh
nghiệp BH PNT đã nỗ lực giảm tỷ lệ bồi thường, song mục
tiêu này vẫn chưa đạt được. Giá trị bồi thường bảo
hiểm gốc của khu vực BH PNT là 8.041 tỷ đồng, tăng 34% so
với cùng kỳ 2010 [1]. Một số nghiệp vụ có tỷ lệ này rất
cao (BH thiết bị điện tử: 102%; BH hàng không: 80%; BH xe cơ
giới: 49%; BH thân tàu và TNDS chủ tàu: 46%; BH tai nạn và sức
khoẻ con người: 43%) kéo tỷ lệ trunh bình toàn khu vực tăng
cao. Nguyên nhân do <i>(i)</i> thiên tai bão lũ, <i>(ii)</i> trục
lợi bảo hiểm ngày càng tinh vi; <i>(iii)</i> chất lượng khai
thác, công tác quản trị rủi ro của các doanh nghiệp BH PNT còn
yếu kém.
Năm 2011, khả năng sinh lời khu vực BH NT giảm rõ rệt so với
2010. Tổng lợi nhuận sau thuế là 1.621 tỷ đồng, giảm 11% so
với cùng kỳ năm 2010; kéo theo ROE chỉ đạt 10,5%, giảm 43%
với cùng kỳ năm trước. 13/14 doanh nghiệp có hoạt động kinh
doanh bảo hiểm gốc thua lỗ tương ứng với số tiền là 2.691
tỷ đồng. Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính (4.972
tỷ đồng) đã bù đắp khoản lỗ của hoạt động kinh doanh
bảo hiểm gốc. Tình trạng này diễn ra ở cả các doanh nghiệp
BH NT có thị phần lớn, có bề dày kinh nghiệm hoạt động
trên thị trường. Nguyên nhân chủ yếu là: <i>(i) </i>Các doanh
nghiệp chạy theo doanh thu mà chưa chú trọng đến chất lượng
khai thác và quản lý chi phí: tình trạng trục lợi vẫn diễn
ra khá phổ biến, chi phí tuyển dụng và đào tạo đại lý cao
trong khi chất lượng đại lý yếu kém[2]; <i>(ii)</i> Tỷ suất
sinh lời từ hoạt động đầu tư thấp (7,5%); <i>(iii) </i>định
phí BH gặp nhiều khó khăn do kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn
<b> 2.5. Tính thanh khoản</b>
Tính thanh khoản thị trường bảo hiểm được cải thiện
đáng kể, tỷ lệ tài sản thanh khoản/Nợ ngắn hạn ở hai khu
vực BH PNT và BH NT đều tăng so với cùng kỳ năm 2010, khả
năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn được
đảm bảo, tuy nhiên các doanh nghiệp cần chú ý đến công tác
thu hồi các khoản phải thu.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/screen_shot_2012-07-09_at_12.16.53_pm.png"
width="513" height="202" alt="screen_shot_2012-07-09_at_12.16.53_pm.png"
/></center>
<h4>2.6. Một số nguy cơ đối với thị trường bảo hiểm</h4>
(i) Mặc dù điều 10 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật kinh doanh bảo hiểm (có hiệu lực từ 1/7/2011) quy
định về hợp tác cạnh tranh và đấu thầu nhằm giảm thiểu
tình trạng không minh bạch và thiếu lành mạnh trong bảo hiểm
nội ngành. Song thực tế, các doanh nghiệp vẫn có thể tổ
chức đấu thầu hình thức và điều này còn tiềm ẩn nguy cơ
tích tụ rủi ro.
(ii) Công tác quản trị tại các DN BH còn nhiều bất cập, thể
hiện: (i) Nguồn nhân lực: chuyên môn yếu kém, lãnh đạo
thiếu kỹ năng quản lý, tình trạng nhân sự ở các DN BH lộn
xộn do lôi kéo người của nhau; (ii) Đại lý bảo hiểm: chất
lượng đại lý bảo hiểm thấp, không làm việc ổn định lâu
dài, có 80% đại lý BH NT bỏ việc năm đầu tiên; (iii) Công
nghệ thông tin: lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu quản
lý, dẫn đến tăng chi phí quản lý đồng thời không kiểm
soát được hết các hành vi trục lợi bảo hiểm.
(iii) Kiểm soát nội bộ: Bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội
bộ của các doanh nghiệp BH chưa đáp ứng được việc kiểm
soát và ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Doanh
nghiệp thành lập nhiều chi nhánh nhưng chưa kiểm soát được
hoạt động kinh doanh của những đơn vị này, dẫn đến hoạt
động kinh doanh bảo hiểm không hiệu quả.
(iv) Hành vi trục lợi bảo hiểm có xu hướng gia tăng trong
thời gian gần đây, đáng báo động là không chỉ khách hàng
trục lợi mà các cán bộ bảo hiểm trong doanh nghiệp cùng bắt
tay nhau để trục lợi. Vì thế tỷ lệ bồi thường tăng cao
dẫn đến kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp kém hiệu
quả. Trục lợi bảo hiểm không những làm cho doanh nghiệp BH
thiệt hại về tài chính mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng về
uy tín, thương hiệu và hình ảnh.
<h3>3. Tác động chéo của khu vực bảo hiểm với các khu vực
khác </h3>
<i>(i) Tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn, lạm phát cao, chính
sách tiền tệ thắt chặt ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng
doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam</i>
Mặc dù trong năm 2011, thị trường bảo hiểm vẫn đạt
được mức tăng trưởng nhất định song tốc độ tăng
trưởng ở cả hai khu vực BH NT và BH PNT đều đang có những
dấu hiệu chững lại. Kinh tế vĩ mô bất ổn ảnh hưởng
trực tiếp tới khả năng thanh toán và nhu cầu bảo hiểm của
doanh nghiệp-khách hàng của khu vực BH PNT. Các doanh nghiệp khó
có khả năng thanh toán phí bảo hiểm và điều này làm trầm
trọng thêm tình hình nợ đọng phí ở khu vực BH PNT. Trong khi
đó, các doanh nghiệp BH NT cũng đang gặp khó khăn ở cả khâu
khai thác hợp đồng mới và duy trì hợp đồng hiện tại do thu
nhập của người dân bị giảm sút nghiêm trọng.
<i> (ii) Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giảm sút. Khu vực
ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường BĐS đi
xuống làm suy giảm chất lượng tài sản có của doanh nghiệp
bảo hiểm. </i>
Đầu tư vào các lĩnh vực như TPDN, cổ phiếu, BĐS, cho vay,
ủy thác đầu tư chiếm tỷ lệ 22% giá trị đầu tư của khu
vực BH NT và 25% giá trị đầu tư của khu vực BH PNT. Tỷ lệ
các khoản phải thu/Tổng phí bảo hiểm ở cả hai khu vực 9
tháng đầu năm 2011 đểu tăng so với cùng kỳ năm trước.
Phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng chủ yếu (70%) trong tổng
các khoản phải thu của các công ty bảo hiểm, do đó phần
lớn các khoản nợ chưa thu hồi được của các doanh nghiệp BH
là các khoản nợ đọng phí từ phía khách hàng. Kết quả kinh
doanh, tình hình tài chính doanh nghiệp giảm sút cùng với sự
đi xuống của khu vực ngân hàng, thị trường chứng khoán làm
tăng rủi ro đối với các khoản tiền gửi, cho vay, đầu tư
TPDN, đầu tư cổ phiếu của doanh nghiệp bảo hiểm. Đồng
thời, giá BĐS giảm và thị trường BĐS đóng băng cũng làm
các khoản đầu từ vào lĩnh vực BĐS tiềm ẩn nguy cơ rủi ro
cao.
__________________________
[1] Cục quản lý và giám sát bảo hiểm - BTC
[2] 80% đại lý BH NT bỏ việc năm đầu tiên.
[3] Tài sản thanh khoản bao gồm Tiền và các khoản đầu tư
tài chính ngắn hạn
[1] Biên khả năng thanh toán của DN BH phải lớn hơn biên khả
năng thanh toán tối thiểu do Luật kinh doanh BH quy định.
[2] Tỷ lệ đầu tư trở lại ngân hàng mẹ ( Agribank, BIDV,
Vietinbank, Vietcombank) của 4 doanh nghiệp bảo hiểm ABIC,
Viettinsco, VCLI, Vietinbank – Aviva là 58% tổng nguồn vốn đầu
tư tài chính.
[3] Nguồn: DN BH trong nước "tái" cho nhau dòng phí rủi ro –
Báo Đầu tư chứng khoán 26/10/2011
[1] Nguồn: Vietnam Insurance Report Q2 2011
(Business Monitor International Ltd)
[1] Theo Vietstock;
[1] Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ Tài
chính, tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu của các CTCK tối đa là 6
lần
[2] Tỷ lệ an toàn vốn khả dụng = Vốn khả dụng
/Tổng giá trị rủi ro. Vốn khả dụng là vốn chủ sở hữu
có thể chuyển đổi thành tiền trong vòng 90 ngày.
[1] Trường hợp cổ phiếu Dược Viễn Đông - DVD không có trong
các quy định hủy niêm yết, gây lúng túng trong việc xử lý
nhanh để kịp thời bảo vệ nhà đầu tư
[2] Có thể kể đến các trường hợp như Chứng khoán Phương
Đông và Công ty Cơ khí Điện Lữ Gia đăng ký hủy niêm yết
đã đẩy cổ đông nhỏ lẻ phải bản tháo cổ phiếu. Một
số công ty như Tổng Công ty Xây lắp dầu khí hay Vinaconex mặc
dù giá cổ phiếu giảm xuống gần mệnh giá nhưng công ty vẫn
quyết định tăng vốn hàng nghìn tỷ đồng trong bối cảnh
thị trường xấu càng làm giá cổ phiếu giảm và cổ đông
nhỏ lẻ thua thiệt. Đầu năm 2011, Chủ tịch HĐQT Chứng khoán
Kim Long đột ngột đưa ra đề xuất ngừng hoạt động kinh
doanh chứng khoán đẩy hàng loạt cổ đông nhỏ lẻ phải bán
tháo cổ phiếu
[1] Bộ Tài chính, Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam,
UBGSTCQG
[1] Securities and Exchange Commision of Thailand
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13344), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét