Đỗ Trường - Những nhà thơ không thể bóp méo linh hồn

Thế hệ những nhà thơ đã trải qua chiến tranh, phần đông
(các nhà thơ Miền Nam) đã bỏ nước ra đi. Những nhà thơ còn
lại, tuổi đã cao và rơi rụng khá nhiều. Họ là những
người ít, nhiều đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tàn
khốc nhất của lịch sử dân tộc, kể từ khi lập quốc đến
nay. Có thể nói, dù ở chiến tuyến nào và ý thức hệ có
khác nhau, nhưng lòng yêu nước của họ, không ai có thể phủ
nhận.

Sau năm 1975, những nhà thơ còn ở lại phải đương đầu với
cuộc chiến khác không kém phần khốc liệt. Các thi sĩ thua
trận, được đưa ra vùng núi cao Hoàng Liên Sơn để "học
tập" thành con người mới. Một số trong họ không thấy trở
về. Một nhà thơ tôi quen, may mắn hơn, sau hàng chục năm, khóa
"tu luyện" kết thúc, được con cháu đón sang Đức, bị
chột, không còn viết lách gì được nữa. Không hiểu ở trong
trại, họ cho "học tập" những gì, sau mấy chục năm ở
trời Tây, thế mà gặp ai bác vẫn co rúm người lại, cứ
tưởng là mấy ông "thầy" quản giáo trong trại. Khiếp
thật! Một nỗi ám ảnh đến kinh khủng. Nên mỗi lần nghĩ
đến bác thi sĩ này, tôi lại nhớ đến truyện cực ngắn Hạt
Thóc của Phù Thăng. Nhưng ngược lại, nhiều bác sau những năm
tháng bị học tập, thần kinh càng thêm vững trãi. Khi trốn
được ra nước ngoài, các bác cứ nhả đạn đều đều.

Những nhà thơ từ R theo đoàn quân chiến thắng tràn vào thành
phố. Nhiều bác nhân lúc nhộm nhoạm tranh thủ ngoặt sang làm
chánh trị. Có bác tốt số, gặp thời nhảy tót lên ngồi
chỗm trệ chiếu trên. Điều tất nhiên có rất nhiều bạn bè,
đồng nghiệp cùng thời đã phải khốn khổ nằm xuống để
làm những nấc thang cho bác. Có lần tôi được ngồi chầu
rìa, điếu đóm, nghe nhà thơ Xuân Diệu nói chuyện, theo ông
cuộc chiến tranh vừa qua, khốc liệt như vậy nhưng đã sản
sinh ra nhiều nhà thơ có tài.

Vâng! Đúng như thế, thế hệ này có rất nhiều nhà thơ tài
năng, nhưng giữ được linh hồn đích thực thi sĩ lại là
chuyện khác. Tôi không phải là người nghiên cứu, phê bình
văn học, nên chỉ cảm nhận từ rung động trực tiếp và
bằng trực giác riêng của mình về cái hay cái đẹp và tâm
hồn, khí phách người nghệ sĩ qua các bài thơ và trang viết
của họ. Các nhà thơ, có năm tháng tuổi trẻ đã đi qua chiến
tranh, nay tuổi đã cao, sức đã yếu, họ vẫn trăn trở, thai
nghén viết ra những câu thơ đọng lại trong lòng người đọc.
Trong số họ, để lại những dấu ấn đậm nhất trong tôi là
nhà thơ Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo. Về sự nghiệp cũng
như tài năng của hai nghệ sĩ này đã được nhiều thế hệ
học trò, cũng như các công trình luận văn bậc đại học cho
đến tiến sĩ phân tích đánh giá nhiều rồi. Nhưng những bài
thơ(chính luận) phản kháng, một cách công khai, khẳng khái
với những gì đang diễn ra trong cuộc sống đầy nhiễu nhương
này của Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo, làm tôi xúc động
mạnh.

Dù chênh nhau về tuổi tác, nhưng có thể nói BMQ và TMH đều
sinh ra, và trưởng thành trong chiến tranh. Nếu như BMQ xuất
thân từ gia đình tiểu tư sản, công chức thành thị, thì TMH
có nguồn gốc gia đình thuần nông ở Miền Bắc VN. Tài năng
văn thơ hai ông, đều bộc lộ ngay từ thuở thiếu thời. Năm
tháng của tuổi trẻ, các ông đã trực tiếp cầm súng và cầm
viết. Có thể nói các ông là những người có công với chế
độ. Nhưng sau chiến tranh, hạnh kiểm hai ông được xếp vào
dạng yếu kém, bị loại ra khỏi hàng ngũ những người con ưu
tú. Lịch sự như các cụ nhà ta bảo, đứt gánh giữa đường.
Bỗ bã của kẻ hàng nước, các bố bị tuột xích. Biên chế
nhà nước cũng mất, tức là cái dạ dầy của các bác cũng
bị thiến luôn. Vậy là bao công lao vào sinh ra tử của các bác
đổ xuống sông xuống bể cả. Thật là, chẳng cái dại nào
giống cái dại nào. Cứ thẳng đường tiến " vì chủ nghĩa
xã hội" như khẩu hiệu trên trang nhất báo văn nghệ, không
tốt số như bác Điềm, bác Thỉnh, các bác cũng có chiếu
giữa để ngồi. Đằng này trên đầu của các bác chỉ còn
Tổ Quốc và nhân dân, đi đứt là cái chắc rồi.

Bùi Minh Quốc được cho là nhà thơ của tình yêu, nhưng thẻ
thông hành của ông đến với làng văn lại là một bài thơ
cổ động Lên Miền Tây. Bài thơ này nói lên( tâm trạng thật
của BMQ) cái không khí sục sôi, cháy bỏng của một thời
tuổi trẻ. Họ bỏ sách vở, rời xa thành phố, theo tiếng gọi
của đảng, lên với Miền Tây, phá rừng khai hoang, làm kinh tế
mới:

" ..Ôi Miền Tây, ở miền xuôi sao nghe nói ngại ngùng
Mà lúc ra đi lửa trong lòng vẫn cháy
Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương
Nghe khát vọng chất chồng mơ ước.."

Có lẽ lúc đó, nhà thơ cũng không hiểu rằng, bài thơ này góp
phần không nhỏ cho một chính sách sai lầm, di dân phá rừng vô
tổ chức của đảng. Làm cho rừng đầu nguồn trơ trụi, thiên
nhiên biến dạng, tạo nên những cơn lũ quét kinh hoàng như
chúng ta đã thấy. Hậu quả đó không chỉ ở Tây Bắc mà
những cánh rừng bạt ngàn Tây Nguyên hôm nay đã, đang đốt
phá, nham nhở và môi trường, thiên nhiên bị tàn phá nặng
nề. Đà Lạt, nơi nhà thơ đang sống, có lẽ tiếng thông reo
sắp trở thành quá khứ.

Tôi yêu thơ Bùi Minh Quốc, vì ông chỉ viết khi con tim của ông
rung lên với những cảm xúc thật sự. Nghỉ chân dưới tán
rừng già nơi hành quân gian khổ ấy, khi đồng nghiệp, đồng
đội của ông viết về những " Đêm Trường Sơn Nhớ Bác"
thì ông nhớ và viết về người vợ thân yêu (cũng là nhà
văn) vừa hy sinh. Tôi tin rằng, tình cảm lúc đó của BMQ rất
thật, khi ông viết:

".. Để làm nên những buổi mai đầy nắng
Em bối rối và sững sờ đứng lặng
Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên
Thức dậy bao điều cao quí trong em
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc
Và em gọi đó là hạnh phúc…"

Phải nói thẳng, tâm lý con người, khi xa nhà, việc đầu tiên
phải nghĩ đến là vợ con, bố mẹ, anh em và quê hương, nơi
đó có bạn bè, xóm giềng. Chỉ có kẻ điên, giữa rừng
Trường Sơn âm u, lại nhớ đến người không quen, chưa từng
gặp, dù người đó là ai hoặc có là thánh nhân đi chăng nữa.
Điều này phi khoa học, trái với qui luật của tự nhiên. Với
những thơ văn định hướng, giả dối, nặng mùi tụng ca thế
này, văn học nước nhà bao giờ mới lớn lên được. Qủa
không ngoa, có một nhà nghiên cứu nói rằng, Viêt Nam muốn có
giải văn học lớn, nên giải tán hội nhà văn đi, để cho các
nhà văn tự thân vận động. Và hãy để họ viết những gì
họ đang nghĩ. Những nước nhận được giải Nobel về văn
học, vì họ có những ông bà Thủ tướng, Tổng thống không
bao giờ dám há mồm ra nói, lãnh đạo, định hướng tư tưởng
các nhà văn.

Kỳ đại hội nhà văn vừa rồi, không hiểu sao, những bài
diễn văn, dạng xã luận báo nhân dân, micro nghe cứ sang sảng
làm nhức cả tai người nghe. Ấy vậy mà đến lúc bác Bùi Minh
Quốc và Trần Mạnh Hảo phát biểu là cái micro giở chứng
tắc tị, làm hai bác đứng như phỗng, tịt ngòi luôn. Khùng
lên, các bác đổ nghiến cho cái đại hội nhà văn là đại
hội bịt miệng. Dù Hữu Thỉnh có giải thích, do trục trặc
kỹ thuật, sẽ nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm. Nhưng
các bác lại cho đây là chủ trương của Hữu Thỉnh và ban tổ
chức. Nói như vậy có lẽ oan cho Hữu Thỉnh. Cùng đồng đội,
nhà văn với nhau, hơn nữa bác Thỉnh là đảng viên ưu tú, lẽ
nào đê tiện, bẩn thỉu đến như vậy?

Nghe nói, sau đó bác Quốc, bác Hảo tuyên bố giã từ đại
hội bịt mồm, giã từ hội viên của hội nhà văn. Mấy thằng
chúng em ở bên này xin kiến nghị, hai bác đừng tự vất bỏ
cái danh hiệu cao sang này (cái thẻ này nhiều thằng rất thèm.
Cùng bất đắc dĩ, các bác cà thằng nào nhiều tiền, hám danh,
bán lấy tiền ăn chơi, dối già, vứt đi uổng lắm). Lần
đại hội tới các bác cứ việc tham dự và xung phong phát
biểu. Chúng em đã bàn nhau mua tặng hai bác cái micro và âmly.
Phòng khi các bác đang phát biểu, micro của bác Thỉnh, bác
Thiều giở chứng như lần trước, các bác chỉ việc rút micro
này ra, bấm và tiếp tục đăng đàn như thường... Chắc các
bác cũng biết, loa và âmly của thằng Đức, tốt nhất thế
giới, nhỏ như cái camera thôi nhưng cũng đủ cả hội trường
nghe rõ ràng. Dẫu biết rằng, ý kiến của các bác cũng như
đàn gảy tai trâu, nước đổ đầu vịt mà thôi, nhưng nó sẽ
thoát được cái ấm ức dồn nén lâu ngày ở trong người.
Chúng em ở bên này được nghe cũng mát lòng, mát ruột. Chứ
để lâu ngày dồn nén, đóng cục xộc huyết áp lên đỉnh
đầu thì chí nguy.

Nếu như thơ tình của Bùi Minh Quốc, nhẹ nhàng, đằm thắm bao
nhiêu thì những bài thơ (chính luận) phản kháng của ông hùng
hồn, sắc mạnh bấy nhiêu. Nó như nhát dao chọc thẳng vào
những cái ung nhọt của xã hội. Nó hơn cả những bản án
đập vào mặt bọn cường quyền:

"…Chúng nó nhậu từng cánh rừng dải núi
Từng khoảng trời miệt đất lòng khơi
Nhậu tất cả từ Vua Hùng để lại
Nhậu đến nàng Tô Thị hóa thành vôi
Chúng nó nhậu trên thân em trinh bạch
Trên lưng mẹ già còm cõi một đời bom.."

Có thể nói thơ của BMQ sù sì, hiên ngang, chính trực như chính
con người ông. Với ông, Tổ Quốc và nhân dân là tất cả.
Ông đau với cái đau của nhân dân, của đất nước. Và đây
là cái đau về cả thể xác lẫn tâm hồn trong một lần ông
bị hỏi cung, thẩm vấn. Trong cái nghẹn ngào uất hận ấy,
thơ của ông vọt ra, nấc lên trong màn đêm của ngục tối:

" Tổ Quốc hỡi tình chi đau đớn vậy
Con yêu người ngục tối một trời xanh
Ôi! Tổ Quốc trong tay quỷ dữ
Tiếng hát tự do uất nghẹn khắp thân mình.."

Nếu như "Lên Miền Tây" là bản hoan ca vào đời của BMQ
thì bài thơ " Cay Đắng Thay" là tiếng thán ca đầy chua xót
hôm nay của ông. Bài thơ rất ngắn, đơn giản, nhưng hay nhất
của BMQ viết về đề tài chính trị xã hội. Ông dùng thủ
pháp ẩn dụ, thông qua hình tượng cỗ máy, để bóc trần bộ
mặt giả dối của kẻ cầm quyền. Qua đó bật lên sự cay
đắng, chán chường của ông, thế hệ ông, cũng như thế hệ
trước và sau ông. Tôi cho rằng, bài thơ này như một lời thú
nhận, tổng kết lại cả cuộc đời, sự nghiệp văn thơ của
ông từ ngày theo đảng. Có lẽ không riêng tôi, có rất nhiều,
rất nhiều người, cảm phục cái yêu như điên cuồng của BMQ,
nhưng dám rũ bỏ, tranh đấu đến tận cùng, khi ông đã nhận
ra bộ mặt thật của nó.

"Cái guồng máy nhục mạ con người
Mang bộ mặt hiền lành của kẻ cuốc đất
Ù lì quay
Quay
Thao thao bài đạo đức
Liệu có mấy ai còn ngây?
Cay đắng thay
Mỉa mai thay
Trọn tuổi xuân hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc nên chính cỗ máy này."

Có người ví nhà thơ Trần Mạnh Hảo như trái bom chùm, người
không có kỹ thuật, nghiệp vụ táy máy động vào, nổ liền
tù tì ngay tức khắc. Thật ra người Việt mình ngại va chạm,
dĩ hòa vi quí là chính. Nhất là trong giới văn nghệ, đã có
ban tư tưởng dẫn dắt, định hướng, nên những bài phê bình
thường chung chung, khen, chê mỗi thứ một chút. Vô thưởng vô
phạt như vậy bác nào cũng vui vẻ cả. Trong cái không khí thiu
thiu, gà gật như vậy, lại nảy lòi ra cái bác Trần Mạnh Hảo
mang bom dội vào, chạm phải vía, nhiều bác nhảy cẫng lên.
Điềm đạm, vui là chính như trannhuong.com cũng phải khảng
định, nhà thơ Trần Mạnh Hảo là người thỉnh thoảng tạo
nên sóng gió trên văn đàn. Nhưng không riêng tôi, có nhiều
người lại khoái cách viết rạch ròi, và đi đến tận cùng
sự thật này của TMH. Mà không hiểu, già mõ ra rồi, sức lực
ở đâu, ngày, vài ngày bác lại bắn ra một bài. Chưa nói
đến đến những kiến thức, suy nghĩ lập luận của bài
viết, chỉ cần ngồi gõ lọc cọc ngần ấy con chữ trên máy
tính, sức giai tơ chưa chắc đã kham nổi. Em bái phục bác.

Bác Hảo cũng kỳ quặc, sao không nhằm mấy ông nhà thơ đang
xuống, hấp hối, về chiều, thuận đà đấm đạp, cho tịt
luôn. Bác lại cả gan lôi mớ bòng bong (được gọi là thơ)
của Nguyễn Quang Thiều, quan lộ đang lên, được nhiều tổ
chức tung hô, ra chọc ngoáy. Đường đường là phó chủ tịch
hội nhà văn VN, bị bác Hảo chê, là trường phái thơ tân con
cóc, bác Thiều chịu thế chó nào được. Thật là chẳng khác
gì sát ớt vào đít nhau. Nhảy cẫng lên thấy kỳ, lý luận
với bác Hảo cảm thấy không xong, bác Thiều đành phải chửi
độc, theo kiểu mẹ con chị dân quân vùng biển Nam Định,
được phong anh hùng bắn rơi máy bay Mỹ, mỗi khi nhà bị mất
cắp gà. Quả thật, trong cái mớ chữ lộn xộn này, nếu không
thấy tên tác giả Nguyễn Quang Thiều, tôi lại tưởng của
người bị bệnh tâm thần, chập cheng viết ra. Ngay cái tựa
đề – Sự Mất Ngủ Của Lửa- của mớ chữ này, được coi
là hay nhất của Nguyễn Quang Thiều, nó cũng tù mù ngữ nghĩa,
tối như đêm ba mươi vậy. Tôi đã đọc Nguyễn Quang Thiều,
nhiều bài tôi phải bỏ giữa chừng. Không hiểu sao mỗi lần
đọc bài được gọi là thơ của bác Thiều, tôi lại nhớ
đến mấy câu(vè) nói về tình trạng thơ hiện nay, vô cùng
tục và bậy (trong bài Trò Chuyện Với Hoa Thủy Tiên) của nhà
văn Nguyễn Huy Thiệp. Tôi chỉ dám trích ra đây có một câu,
".. Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí L.. vào
thơ.."

Nhắc đến bác Nguyễn Quang Thiều, làm tôi nhớ đến bài viết
của mình, đăng trên báo văn nghệ của hội nhà văn VN (thứ
bảy ngày 13/10/2001). Bài viết hai ý, một về nhà văn Hữu
Ước, sau khi đi thăm Nga về, ông có viết một bài ký về
cuộc sống người Việt trên đất Nga, được đăng nhiều kỳ
trên báo văn nghệ. Mấy ông bạn rượu, từ Nga sang Đức tị
nạn đọc, bảo Hữu Ước cỡi ngựa xem hoa, viết không đúng.
Thấy giọng văn thông tấn, chẳng có tí tẹo văn học nào ở
trong đó, đăng báo ngành đúng hơn, nên tôi đề nghị báo văn
nghệ xem lại. Phần này bị bác Hữu Thỉnh thiến mất. Chỉ
còn phần viết về, bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa, sau
khi đi Mỹ cùng với Nguyễn Quang Thiều. Nhưng bác Thỉnh lại
biến tên bác Khoa thành ông X, bác Thiều thành ông Y, đọc lên
như phương trình toán học vậy. (Không hiểu sao chúng ta cứ hay
phải giấu giấu, diếm diếm cái tên do cha mẹ đặt cho như
vậy, đó là việc làm không đàng hoàng. Khi tranh luận, các bác
hay lủi vào bóng tối, có bác núp cả vào những con số, cứ
như điệp viên 007, nghĩ mà thấy kinh. Thật ra vì hoàn cảnh,
hay lý do nào đó các nhà thơ, nhà văn buộc phải lấy bút danh.
Chứ tôi ít thấy ông nào lấy bút danh mà có văn hay. Tên đã
giả làm sao có văn thật được)
Trong bài bác Khoa bốc thơm bác Thiều nói tiếng Anh nghe như
người Mỹ. Không biết đây là câu khen đểu, hay khen thật
của bác Khoa. Đã du học ở Tây, chắc bác Khoa cũng thừa
biết, tiếng Việt ta đơn âm, tiếng Tây âm kép do vậy, chỉ
có các cháu sinh đẻ, hoặc từ nhỏ học ở Tây mới phát âm
như Tây. Còn dạng sang Cu Ba học tiếng Tây như bác Thiều, chỉ
là giọng Tây rau muống mà thôi.
Nhìn lại một cách hệ thống, thơ văn của Trần Mạnh Hảo
trải qua gần nửa thế kỷ, ngoài những bài thơ về tình yêu,
thiên nhiên đất nước, mảng viết về đề tài xã hội của
ông rất quan trọng. Thơ ông gắn chặt thân phận con người và
những thăng trầm của xã hội. Sau ngày hòa bình(30-4-75) ông
đã chợt nhận ra, đất nước liền một dải, nhưng lòng
người đã phân ly. Nhìn dòng người vượt biên đang chết
đuối trên biển, con tim ông rung lên cùng cây viết. Bài Cho
Một Nhà Văn Nằm Xuống, là một bài thơ hay, xúc động nhất
của TMH viết nỗi đau của đồng loại, khi xã hội ngoảnh
mặt quay lưng. Đây là đề tài cấm kỵ, nhạy cảm, vô cùng
nguy hiểm của những năm đầu thập niên tám mươi, Trần Mạnh
Hảo là một trong số rất ít các nhà văn dám viết:

"…Bãi biển Vũng Tầu đầy những xác chết trôi
Những người Viêt Nam vượt biên chết chìm trên biển
Những em bé
Những người đàn ông
Những người đàn bà
Chết rồi còn giơ tay cầu cứu
Chết rồi còn quờ tay tìm lối thoát
Đâu nhà văn, đâu người cầm bút
Sao nỡ để nhân vật của mình
Chết trôi chết dạt
Biển ơi! Nỡ vô tình
Như ngàn trang sách
Những tay sóng kia, sao không vuốt mắt
Cho những nhân vật của chúng ta?..."

Và đây là một câu hỏi, và lời tự trách, hay một bản án
dành cho mỗi con người và xã hội này. Một xã hội vô trách
nhiệm, giả dối, thiếu tình người.

"…Biển không nhận
Bờ không nhận
Những trang sách không nhận
Không ai nhận những con người
Ở thời đại mình đang sống?.."

Có lẽ là người sinh ra và lớn lên từ biển, nên Trần Mạnh
Hảo hiểu, yêu biển hơn ai hết. Bài nào viết về biển của
ông cũng hay, trong thơ như có ngàn ngọn lửa hun đúc từ linh
hồn, khí phách ngàn đời của cha ông. Nếu Tổ Quốc Tôi Không
Còn Biển là một trong những bài thơ khí phách cao độ nhất,
mỗi khi biển, "Tổ Quốc nguy nan/mỗi người Viêt Nam/ hóa
thành cọc nhọn" đâm nát quân thù:

"…Nếu Tổ Quốc không còn biển
Dân tộc tôi sẽ chết đuối trên bờ
Chết đuối trên cao nguyên
Chết đuối trong bùn boxit

Tổ Quốc không chịu chết
Biển Đông gầm hóa Bạch Đằng Giang"

Trên đây là một vài cảm nhận về linh hồn, khí phách trong
thi ca của hai nhà thơ mà tôi yêu thích, Bùi Minh Quốc và Trần
Mạnh Hảo. Nếu bác nào thích, đồng cảm cứ cho thằng em
một lời khen. Bác nào không thích xin cứ việc chửi, nhưng xin
các bác đừng chửi độc địa như Nguyễn Quang Thiều chửi
nhà thơ Trần Mạnh Hảo.

Đức Quốc ngày 26-6-2012
Đỗ Trường

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13135), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét